Lời nói đầu
Lợi nhuận là mục tiêu hoạt động của doanh nghiệp, nó quyết định sự
tồn tại và phát triển của doanh nghiệp. Với điều kiện cụ thể khác nhau, cơ chế
vận hành hoạt động kinh doanh khác nhau thì kết quả lợi nhuận cũng khác
nhau. Trong cơ chế kế hoạch hóa tập trung, các doanh nghiệp Nhà nước được
Nhà nước cấp phát vốn, cung ứng vật tư, nguyên vật liệu, lãi nộp Nhà nước,
lỗ Nhà nước chịu, lợi nhuận đó chưa phản ánh đầy đủ các chi phí sản xuất và
yêu cầu thực tế của thị trường, chưa kích thích được tính sáng tạo chủ động
của người quản lý và công nhân trực tiếp sản xuất. Do đó có tình trạng lãi giả,
lỗ thật. Nhiều doanh nghiệp Nhà nước làm ăn thua lỗ kéo dài trở thành gánh
nặng cho nền kinh tế gây lãng phí.
Thực hiện đường lối đổi mới, nền kinh tế được vận hành theo cơ chế thị
trường, có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Nhà
nước ban hành các chế độ chính sách, sắp xếp lại các doanh nghiệp, tạo điều
kiện để các doanh nghiệp chủ động sáng tạo, tự chịu trách nhiệm lỗ lãi về các
hoạt động của mình. Từ khi có quyết định của Chính phủ được phép thành lập
các Công ty TNHH, Công ty cổ phần, các doanh nghiệp tư nhân vừa, nhỏ và
các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài với nhiều mô hình khác nhau,
hoạt động của các doanh nghiệp được cải thiện, nhiều doanh nghiệp bắt đầu
làm ăn có lãi, tạo điều kiện mở rộng và phát triển sản xuất, tăng thu nhập cho
người lao động, giải quyết công ăn việc làm cho xã hội. Bởi vậy, không
ngừng nâng cao lợi nhuận là một việc làm rất cần thiết của các doanh nghiệp.
Công ty Thương mại Việt Phát Triển là một trong số các doanh nghiệp như
vậy.
Trong thời gian thực tập tốt nghiệp tại Công ty Thương mại Việt Phát
Triển, vận dụng những kiến thức đã học vào thực tế hoạt động kinh doanh của
Công ty, em nghiên cứu vấn đề lợi nhuận của Công ty và hoàn thành chuyên
đề tốt nghiệp với đề tài : "Một số biện pháp nhằm nâng cao lợi nhuận ở
Công ty Thương mại Việt Phát Triển".
Chuyên đề gồm 3 chương :
1
hiện các mục tiêu kinh tế - xã hội do Nhà nước giao cho. Doanh nghiệp Nhà n-
ước có tư cách pháp nhân, có các quyền và nghĩa vụ dân sự, tự chịu trách
nhiệm về toàn bộ hoạt động kinh doanh trong phạm vi số vốn do doanh nghiệp
quản lý". Doanh nghiệp Nhà nước hoạt động kinh doanh là Doanh nghiệp Nhà
nước hoạt động chủ yếu nhằm mục tiêu lợi nhuận. Doanh nghiệp Nhà nước
hoạt động công ích là Doanh nghiệp Nhà nước hoạt động sản xuất, cung ứng
3
dịch vụ công cộng theo các chính sách của Nhà nước hoặc trực tiếp thực hiện
nhiệm vụ quốc phòng, an ninh.
Công ty (Công ty trách nhiệm hữu hạn, Công ty cổ phần) là doanh
nghiệp trong đó các thành viên cùng góp vốn, cùng chia lợi nhuận, cùng chịu
lỗ tương ứng với phần vốn góp của mình và chịu trách nhiệm về các khoản nợ
của Công ty trong phạm vi phần góp của mình.
Doanh nghiệp tư nhân là doanh nghiệp do một cá nhân làm chủ và tự
chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản cuả mình về mọi hoạt động của doanh
nghiệp.
Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài gồm doanh nghiệp liên doanh,
doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài. Doanh nghiệp liên doanh là
doanh nghiệp do hai bên hoặc nhiều bên hợp tác thành lập tại Việt Nam trên
cơ sở hợp đồng liên doanh hoặc hiệp định ký giữa Chính phủ Việt Nam và
Chính phủ nước ngoài hoặc là doanh nghiệp do doanh nghiệp có vốn đầu tư
nước ngoài hợp tác với doanh nghiệp Việt Nam hoặc do doanh nghiệp liên
doanh hợp tác với nhà đầu tư nước ngoài trên cơ sở hợp đồng liên doanh.
Doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài do nhà đầu tư nước ngoài đầu tư
100% vốn tại Việt Nam.
b) Hoạt động của doanh nghiệp :
Hoạt động kinh doanh là một hoạt động đặc thù của doanh nghiệp.
Doanh nghiệp kinh doanh những hàng hóa, dịch vụ mà thị trường có nhu cầu,
trong khả năng nguồn lực hiện có của doanh nghiệp nhằm thu lợi nhuận cao
nhất, nâng cao thu nhập của người lao động, tích lũy để đẩy mạnh quá trình
trường. Theo A.Smith : Nếu chất lượng của lao động chi phí cho việc sản xuất
ra một sản phẩm nào đó càng lớn thì giá trị và do đó giá trị trao đổi của nó
cũng càng lớn. Ông khẳng định giá trị của một hàng hoá quy định giá trị trao
đổi : Trong cấu thành giá trị của hàng hóa có tiền lương, địa tô và lợi nhuận.
Theo A.Smith, lợi nhuận của nhà tư bản được tạo ra trong quá trình sản xuất,
là hình thái biểu hiện khác của giá trị thặng dư, tức phần giá trị do lao động
không được trả công tạo ra. Ông đã định nghĩa : "Lợi nhuận là khoản khấu trừ
vào giá trị sản phẩm do người lao động tạo ra". Nguồn gốc của lợi nhuận là
do toàn bột tư bản đầu tư đẻ ra trong cả lĩnh vực sản xuất và lưu thông. Lợi
nhuận là nguồn gốc của các thu thập trong xã hội và của mọi giá trị trao đổi.
5
Adam - Smith cho rằng không chỉ có lao động nông nghiệp mà cả lao
động công nghiệp cũng tạo ra lợi nhuận. Nhà tư bản tiền tệ cho nhà tư bản sản
xuất vay vốn và nhận được lợi tức cho vay. Đó là một biểu hiện khác của lợi
nhuận đã được tạo ra trong sản xuất. Chính các nhà tư bản (cho vay - sản
xuất) sẽ thoả thuận để phân chia giá trị thặng dư được tạo ra từ sản xuất - kinh
doanh tư bản chủ nghĩa. Sản xuất tư bản chủ nghĩa ngày càng phát triển thì
tính cạnh tranh càng quyết liệt. A.Smith còn phát hiện việc phân chia lợi
nhuận theo tỷ suất lợi nhuận bình quân và khi quy mô đầu tư tư bản càng lớn
thì tỷ suất lợi nhuận có xu hướng giảm sút.
Tuy còn những sai lầm trong hệ thống lý luận của mình nhưng A.Smith
đã chỉ ra được rằ
ng : Nguồn gốc thực sự cho giá trị thặng dư là do lao động tạo ra, còn lợi
nhuận, địa tô, lợi tức chỉ là biến thể, là hình thái biểu hiện khác nhau của giá
trị thặng dư mà thôi.
D.Ricacdo và những người kế tục đã xây dựng học thuyết kinh tế của
mình trên cơ sở những tiền đề và phát kiến của A.Smith. D.Ricacdo cũng
hoàn toàn dựa vào lý luận giá trị lao động để phân tích chỉ rõ nguồn gốc và
bản chất của lợi nhuận trong sản xuất kinh doanh tư bản chủ nghĩa.
D.Ricacdo đã khẳng định : Lao động là nguồn gốc của giá trị và giá trị
lao động, lấy sản xuất tư bản chủ nghĩa làm đối tượng nghiên cứu, phân tích,
C.Mác đã phát hiện và làm rõ toàn bộ quá trình sản xuất giá trị thặng dư dưới
chủ nghĩa tư bản - điều mà các vị tiền bối của ông chưa làm được. C.Mác đã
khẳng định : Về nguồn gốc lợi nhuận là do lao động làm thuê tạo ra, về bản
chất : Lợi nhuận là hình thái biểu hiện của giá trị thặng dư, là kết quả của lao
động không được trả công, do nhà tư bản chiếm lấy, là quan hệ bóc lột và nô
dịch lao động trong xã hội tư bản chủ nghĩa. Khi truy tìm nguồn gốc, bản chất
của lợi nhuận, C.Mác viết : "Giá trị thặng dư được quan niệm là toàn bộ con
đẻ của tư bản ứng trước, mang hình thái chuyển hoá là lợi nhuận" và "giá trị
thặng dư (là lợi nhuận) là phần giá trị dôi ra của giá trị hàng hóa so với chi phí
sản xuất của nó, nghĩa là phần dôi ra của tổng số lượng lao động chứa đựng
trong hàng hóa với số lượng lao động được trả công chứa đựng trong hàng
hóa".
Vượt trên tất cả các nhà lý luận trước đây, C.Mác đã phân tích tất cả
các khía cạnh khác nhau của lợi nhuận, sự hình thành lợi nhuận và sự vận
động của quy luật lợi nhuận bình quân, xuyên qua các quan hệ kinh tế là các
quan hệ chính trị - xã hội của phạm trù lợi nhuận. Là nhà tư tưởng vĩ đại của
7
giai cấp công nhân, sự nghiên cứu về kinh tế của C.Mác là cơ sở, là phương
tiện vạch rõ những mâu thuẫn nội tại của xã hội tư bản, những mâu thuẫn đối
kháng đẩy chủ nghĩa tư bản đến chỗ tất yếu bị diệt vong, xây dựng học thuyết
về giai cấp và đấu tranh giai cấp.
Lợi nhuận được xem như một cực đối lập với tiền lương trong cơ chế
phân phối thu nhập tư bản chủ nghĩa. C.Mác viết : giá cả sức lao động biểu
hiện ra dưới hình thái chuyển hoá là tiền công, nên ở cực đối lập, giá trị thặng
dư biểu hiện ra dưới hình thức chuyển hoá là tiền công, nên ở cực đối lập, giá
trị thăng dư biểu hiện ra dưới hình thức chuyển hoá là lợi nhuận. Trong doanh
nghiệp tư bản chủ nghĩa, để theo đuổi mục tiêu của lợi nhuận tiền trả cho việc
thuê sức lao động có xu hướng giảm sút. Mác tóm tắt như sau : "Tiền công và
lợi nhuận là tỷ lệ nghịch với nhau". Giá trị trao đổi của tư bản, tức là lợi
doanh nghiệp.
Trong nền kinh tế thị trường có sự tham gia của nhiều thành phần kinh
tế và cơ chế hạch toán kinh tế độc lập, phạm vi kinh doanh của doanh nghiệp
được mở rộng, đặc điểm hoạt động sản xuất kinh doanh của một doanh
nghiệp rất phong phú và đa dạng nên lợi nhuận được hình thành từ nhiều bộ
phận. Nếu xét theo nguồn hình thành, lợi nhuận của doanh nghiệp bao gồm
các bộ phận sau :
Lợi nhuận trước
thuế thu nhập
doanh nghiệp
=
Lợi nhuận từ
hoạt động kinh
doanh
+
Lợi nhuận
hoạt động
tài chính
+
Lơi nhuận
hoạt động
bất thường
3.1. Lợi nhuận từ hoạt động sản xuất kinh doanh :
Lợi nhuận từ hoạt động sản xuất - kinh doanh là lợi nhuận do tiêu thụ
sản phẩm lao vụ, dịch vụ của hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh
nghiệp, là khoản chênh lệch giữa doanh thu của hoạt động kinh doanh trừ đi
giá thành toàn bộ của sản phẩm hàng hóa dịch vụ đã tiêu thụ và thuế theo quy
định của pháp luật (trừ thuế thu nhập doanh nghiệp).
Đây là bộ phận lợi nhuận chiếm tỷ trọng lớn trong toàn bộ lợi nhuận.
Bộ phận lợi nhuận này được xác định bằng công thức sau :
trong kỳ có thể lớn hơn hoặc nhỏ hơn doanh thu trong kỳ của doanh nghiệp.
- Giảm giá hàng bán : Số tiền mà doanh nghiệp chấp nhận giảm cho
người mua vì những nguyên nhân thuộc về doanh nghiệp (hàng sai quy cách,
kém phẩm chất...) hoặc số tiền thưởng cho người mua do mua một lần với số
lượng lớn (bớt giá) hoặc số lượng hàng mua trong một khoảng thời gian là
đáng kể (hồi khấu).
- Hàng bán bị trả lại : Phản ánh doanh thu của số hàng tiêu thụ bị khách
hàng trả lại, do lỗi thuộc về doanh nghiệp như vi phạm cam kết, vi phạm hợp
đồng, hàng sai quy cách...
- Thuế tiêu thụ bao gồm thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế xuất khẩu, là nghĩa
vụ của doanh nghiệp với Nhà nước về hoạt động tiêu thụ sản phẩm, hàng hóa,
cung cấp lao vụ, dịch vụ...
* Tổng chi phí liên quan đến hàng hóa tiêu thụ trong kỳ bao gồm :
- Tổng trị giá vốn của hàng hóa tiêu thụ trong kỳ là khái niệm dùng
chung cho tất cả các doanh nghiệp để chỉ giá mua thực tế của hàng đã tiêu thụ
trong các doanh nghiệp thương mại ; chỉ tiêu này có thể là giá thành sản xuất
thực tế của sản phẩm đã tiêu thụ trong các doanh nghiệp sản xuất.
- Chi phí bán hàng là toàn bộ các chi phí phục vụ trực tiếp cho việc tiêu
thụ hàng hóa sản phẩm dịch vụ phân bổ cho sản phẩm hàng hóa dịch vụ đã
tiêu thụ trong kỳ.
10
- Chi phí quản lý doanh nghiệp là chi phí phục vụ cho việc điều hành
và quản lý chung trong toàn doanh nghiệp phân bổ cho sản phẩm hàng hóa
dịch vụ đã tiêu thụ trong kỳ.
Chi phí bán hàng và chi phí quản lý doanh nghiệp là hai khoản lớn có
ảnh hưởng trực tiếp đến lợi nhuận, nó phản ánh trình độ tổ chức, quản lý hoạt
động kinh doanh của doanh nghiệp.
Ngoài hoạt động sản xuất kinh doanh trong doanh nghiệp còn có các
hoạt động hay nghiệp vụ thuộc lĩnh vực khác như hoạt động tài chính và
nghiệp vụ bất thường.
Lợi nhuận bất thường là những khoản lợi nhuận mà doanh nghiệp
không dự tính trước hay có dự tính đến nhưng ít có khả năng xảy ra như : tài
sản dôi thừa tự nhiên, nợ khó đòi đã xử lý nay đòi được, nợ vắng chủ hoặc
không tìm ra chủ được cơ quan có thẩm quyền cho ghi vào lãi, thanh lý
nhượng bán tài sản cố định, phải thu khó đòi, dự phòng giảm giá hàng tồn
kho... Những khoản lợi nhuận bất thường có thể do chủ quan đơn vị hay do
khách quan đưa tới.
Lợi nhuận
bất thường
=
Thu nhập
bất thường
-
Chi phí bất
thường
Thu nhập bất thường của doanh nghiệp bao gồm :
- Thu nhập về nhượng bán, thanh lý TSCĐ.
- Thu tiền được phạt vi phạm hợp đồng.
- Thu các khoản nợ khó đòi đã xử lý, xóa sổ.
- Thu các khoản nợ không xác định được chủ.
- Các khoản thu nhập kinh doanh của những năm trước bị bỏ sót hay
lãng quên ghi sổ kế toán năm nay mới phát hiện ra...
Chi bất thường là những khoản chi phí và những khoản lỗ do các sự
kiện hay nghiệp vụ riêng biệt với hoạt động thông thường của đơn vị gây ra
như :
- Chi phí thanh lý nhượng bán TSCĐ.
- Giá trị còn lại của TSCĐ đem thanh lý, nhượng bán.
- Tiền bị phạt do vi phạm hợp đồng.
- Bị phạt thuế, truy thu thuế.
- Các khoản chi phí do kế toán ghi nhầm hay bỏ sót khi vào sổ.
ra những khó khăn trong quản lý, làm giảm lợi nhuận của doanh nghiệp. Vì
vậy để kiểm soát tình hình sản xuất và chi phí bỏ vào sản xuất, các doanh
nghiệp đã sử dụng một công cụ quan trọng là giá thành sản phẩm (biểu hiện
bằng tiền của toàn bộ chi phí của doanh nghiệp để hoàn thành sản xuất và tiêu
thụ một loại sản phẩm nhất định). Nội dung giá thành của sản phẩm hàng hóa,
dịch vụ tiêu thụ bao gồm :
13
- Giá thành sản xuất của sản phẩm hàng hóa, dịch vụ tiêu thụ : là toàn
bộ các khoản chi phí bỏ ra để có được sản phẩm hàng hóa, dịch vụ mang đi
tiêu thụ (chỉ tính cho các hàng hoá dịch vụ được tiêu thụ trong kỳ hạch toán).
Gồm chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, chi phí nhân công trực tiếp và chi phí
sản xuất chung.
4. Vai trò của lợi nhuận đối với doanh nghiệp :
Bất kỳ một doanh nghiệp nào hoạt động trong cơ chế thị trường điều
đầu tiên là họ quan tâm đó là lợi nhuận. Đây là một chỉ tiêu kinh tế tổng hợp
phản ánh hiệu quả của quá trình kinh doanh, là yếu tố sống còn của doanh
nghiệp. Doanh nghiệp chỉ tồn tại và hoạt động khi nó tạo ra lợi nhuận, nếu
doanh nghiệp hoạt động không có hiệu quả, thu không đủ bù đắp chi phí đã
bỏ ra thì doanh nghiệp đi đến chỗ phá sản. Từ trước đến nay nước ta có hàng
loạt các xí nghiệp, doanh nghiệp phá sản hoặc giải thể do làm ăn thua lỗ
không có hiệu quả, trong đó có cả xí nghiệp Nhà nước, tư nhân... Đặc biệt
trong điều kiện kinh tế thị trờng hiện nay cạnh tranh diễn ra ngày càng gay gắt
và khốc liệt vì vậy lợi nhuận là yếu tố cực kỳ quan trọng và có vai trò quan
trọng đối với doanh nghiệp :
- Tạo ra khả năng để tiếp tục kinh doanh có chất lượng và hiệu quả cao
hơn.
- Đảm bảo tái sản xuất mở rộng.
- Việc không ngừng nâng cao lợi nhuận là đảm bảo hiệu quả kinh
doanh thể hiện năng lực, trình độ quản lý sản xuất của đội ngũ cán bộ quản lý
sản xuất kinh doanh trong doanh nghiệp. Trong điều kiện kinh doanh theo cơ
* Tỷ suất lợi nhuận của vốn :
Đây là quan hệ tỷ lệ giữa số lợi nhuận đạt được với số vốn đã chi ra bao
gồm các vốn cố định và vốn lưu động.
Công thức :
T su t l iỷ ấ ợ
nhu n c a v nậ ủ ố
=
Tổng số lợi nhuận
Tổng vốn sản xuất kinh doanh
Tổng số vốn sản xuất kinh doanh bao gồm vốn cố định và vốn lưu động
đã chi ra (trong đó vốn cố định là nguyên giá tài sản cố định trừ đi số đã khấu
15
hao và vốn lưu động là vốn dự trữ sản xuất, vốn thành phẩm dở dang, vốn
thành phẩm).
Chỉ tiêu tỷ suất lợi nhuận của vốn cho thấy hiệu quả sử dụng một đồng
vốn sản xuất tạo ra bao nhiêu đồng lợi nhuận. Để nâng cao chỉ tiêu này đòi
hỏi doanh nghiệp phải quản lý chặt chẽ, sử dụng tiết kiệm vốn trong các khâu
của quá trình sản xuất kinh doanh.
* Tỷ suất lợi nhuận của giá thành :
Là quan hệ tỷ lệ giữa lợi nhuận tiêu thụ so với giá thành toàn bộ của
sản phẩm hàng hóa và dịch vụ tiêu thụ.
Công thức :
Tỷ suất lợi nhuận
của giá thành
=
Tổng số lợi nhuận
Giá thành toàn bộ sản phẩm hàng
hóa và dịch vụ tiêu thụ
Chỉ tiêu này cho thấy hiệu quả của một đồng chi phí sử dụng trong việc
tạo ra lợi nhuận. Điều này cho phép doanh nghiệp tìm biện pháp hạ giá thành
Tổng số lợi nhuận
Tổng lao động sử dụng trong kỳ
2. Các biện pháp nhằm tăng lợi nhuận trong doanh nghiệp :
2.1. Các biện pháp về doanh thu :
a) Tăng sản phẩm hàng hóa và dịch vụ theo nhu cầu thị trường :
Nhu cầu và thị hiếu của người tiêu dùng trên thị trường rất đa dạng và
phong phú, dễ biến động do sự cạnh tranh gay gắt giữa các Công ty. Việc tăng
lượng sản phẩm hàng hóa và dịch vụ theo nhu cầu thị trường sẽ làm tăng
doanh thu dẫn đến tăng lợi nhuận của doanh nghiệp. Muốn vậy các doanh
nghiệp cần phải chuẩn bị tốt các yếu tố và điều kiện cần thiết cho quá trình
sản xuất kinh doanh được tiến hành thuận lợi, khuyến khích người lao động
tăng nhanh năng suất lao động, phấn đấu cải tiến công nghệ, nâng cao chất
lượng hàng hóa mẫu mã sản phẩm tiêu thụ giá cả phù hợp với người tiêu
dùng.
b) Tăng cường tiêu thụ những sản phẩm có lợi nhuận cao :
Mỗi doanh nghiệp có những mặt hàng tiêu thụ khác nhau thì thu được
những nguồn lợi nhuận khác nhau. Đối với những mặt hàng có lợi nhuận lớn
thì doanh nghiệp cần phấn đấu tăng lượng tiêu thụ chú trọng vào sản xuất mặt
hàng đó nhiều hơn.
2.2. Các biện pháp về chi phí :
a) Phấn đấu hạ giá thành sản phẩm và chi phí khác nhằm tăng lợi
nhuận :
17
Đây là nhân tố quan trọng đối với bất kỳ một doanh nghiệp nào, giá
thành là tổng hợp của nhiều nhân tố chi phí tạo nên bao gồm các chi phí chính
như : Chi phí nguyên vật liệu, nhiên liệu, các chi phí tiền lương, tiền công. Do
vậy muốn hạ giá thành sản phẩm cần phải giảm các nhân tố chi phí.
- Biện pháp tiết kiệm nguyên vật liệu : Cải tiến định mức tiêu hao, cải
tiến phương pháp công nghệ, giảm tỷ lệ phế phẩm, giảm chi phí mua sắm, vận
chuyển, bảo quản và tiết kiệm nguyên vật liệu.
có thể vẫn tăng.
d) Nhân tố giá thành sản phẩm tiêu thụ :
Giá thành toàn bộ sản phẩm là tập hợp toàn bộ các khoản mục chi phí
mà doanh nghiệp đã chi ra trong quá trình sản xuất kinh doanh. Giá thành sản
phẩm cao hay thấp phản ánh kết quả của việc quản lý, sử dụng lao động, vật
tư kỹ thuật tiền vốn trong quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
Việc giảm giá thành là nhân tố tích cực ảnh hưởng đến việc tăng lợi nhuận
của doanh nghiệp.
e) Nhân tố thuế :
ảnh hưởng của thuế đối với lợi nhuận. Việc tăng giảm thuế do yếu tố
khách quan quyết định do chính sách, luật định của Nhà nước. Với mức thuế
càng cao thì lợi nhuận của doanh nghiệp càng giảm mà doanh nghiệp vẫn phải
đóng góp thuế đầy đủ cho Nhà nước.
f) Quan hệ cung cầu hàng hoá dịch vụ trên thị trường :
Thị trường hàng hoá rất đa dạng và phong phú, sự biến động trên thị
trường có ảnh hưởng trực tiếp đến sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
Nhu cầu hàng hoá và dịch vụ lớn trên thị trường cho phép các doanh nghiệp
mở rộng quy mô sản xuất kinh doanh để đảm bảo cung lớn. Tạo điều kiện
tăng số lợi nhuận.
Trong kinh doanh các doanh nghiệp coi trọng khối lượng sản phẩm
hàng hoá tiêu thụ có lãi một cách hợp lý, khuyến khích khách hàng mua với
khối lượng lớn. Muốn vậy các doanh nghiệp phải tìm các biện pháp kích thích
cầu hàng hoá, cải tiến phương thức bán hàng.
g) Chất lượng cho quá trình kinh doanh :
19
Để cho hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp đạt tới lợi
nhuận nhiều và hiệu quả cao. Các doanh nghiệp cần chuẩn bị tốt các điều kiện
: Chi phí thấp, giá thành sản phẩm giảm. Do đó cơ sở để tăng lợi nhuận chuẩn
bị các đầu vào hợp lý. Ngoài ra cần chuẩn bị tốt khâu máy móc thiết bị, công
cụ sản xuất, tổ chức sản xuất quản lý phù hợp.
Công ty TNHH Thương mại Việt phát triển được thành lập ngày
27/01/1999 theo quyết định số 400LGP/TLDN của UBND thànhphố Hà Nội.
Công ty TNHH Thương mại Việt phát triển có trụ sở giao dịch tại 124
Lạc Trung, quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà nội.
Tiền thân của Công ty Thương mại Việt phát triển là hãng nước uống
tinh khiết Water Source được thành lập năm 1992 có tư cách pháp nhân, có
con dấu riêng được mở tài khoản riêng và thực hiện hoạch toán kinh tế độc
lập.
Trong những ngày đầu thành lập hoạt động sản xuất kinh doanh của
Công ty chưa được mở rộng bộ máy quản lý rất gọn nhẹ.
1.2. Chức năng của Công ty Thương mại Việt phát triển:
Sau khi chuyển thành Công ty TNHH, Công ty Thương mại Việt phát
triển đã từng bước tổ chức lại hoạt động sản xuất kinh doanh, sắp xếp lại lao
động, mở rộng và phát triển tiêu thụ sản phẩm hàng hóa tận dụng các khả
năng sẵn có nhằm đạt hiệu quả cao. Các lĩnh vực hoạt động sản xuất kinh
doanh chủ yếu của Công ty như sau :
- Sản xuất kinh doanh nước giải khát.
- Sản xuất lắp đặt các sản phẩm từ nhựa composit.
- Sản xuất lắp đặt bình đun nước nóng lạnh.
- Đại lý mua, bán, ký gửi hàng hoá và các dịch vụ thương nghiệp.
1.3. Cơ cấu tổ chức, quản lý và điều hành của Công ty :
22
- Cơ cấu tổ chức, quản lý và điều hành Công ty được thực hiện theo
luật doanh nghiệp. Về cơ cấu tổ chức Công ty có bộ máy quản lý bao gồm các
bộ phận sau :
a) Hội đồng quản trị gồm 3 người :
Là cơ quan quản lý Công ty, có quyền nhân danh Công ty để quyết định
mọi vấn đề có liên quan đến mục đích quyền lợi của Công ty.
+ Chủ tịch hội đồng quản trị.
+ Phó chủ tịch kiêm Giám đốc Công ty.
c) Xưởng sản xuất : Có 2 xưởng.
c.1. Phân xưởng sản xuất nước uống giải khát gồm :
+ Xưởng trưởng
+ Thống kê
+ Tổ trưởng các tổ sản xuất
c.2. Phân xưởng sản xuất các sản phẩm từ nhựa composit :
+ Xưởng trưởng
+ Thống kê
+ Tổ trưởng các tổ sản xuất
∗
Ngoài ra Công ty Thương mại Việt phát triển còn có các chi nhánh, đại lý ở
Hà Nội, Hải Phòng, Vĩnh Phú, Bắc Ninh, Bắc Giang...
Các đại lý tiêu thụ sản phẩm chính là nước uống tinh khiết đóng chai 5 gallons
và một số sản phẩm từ nhựa composit.
24
Chịu trách nhiệm
trong việc đôn đốc
sản xuất sản phẩm
Sơ đồ :
cơ cấu tổ chức bộ máy
Hội đồng quản trị
Hành
chính
Kinh doanh
Marketing
Vật tư
thiết bị
Phòng Tài vụ -
Kế toán
Xưởng 1 Xưởng 2