Mục lục
Trang
Diễn giải ký hiệu việt tắt
Danh mục bảng biểu, hình vẽ
Phần mở đầu
Ch-ơng 1:
1
Ngành công nghiệp ôtô và kinh nghiệm quốc tế
5
về phát triển ngành
1.1
Tổng quan về ngành công nghiệp ôtô thế giới
5
1.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển của ngành công nghiệp ôtô
5
1.1.2 Những điều kiện cơ bản để hình thành ngành công nghiệp
11
ôtô
38
Ch-ơng 2
40
Thực trạng ngành công nghiệp ôtô Việt Nam từ
năm 1995 đến nay
2.1
Khái quát về sự ra đời và phát triển của ngành công nghiệp ôtô Việt
40
Nam
2.2
Kết quả đạt đ-ợc và những tồn tại, hạn chế trong phát triển ngành
45
công nghiệp ôtô Việt Nam
2.2.1 Kết quả phát triển ngành công nghiệp ôtô Việt Nam
45
2.2.2 Hạn chế và tồn tại trong phát triển ngành công nghiệp ôtô
59
3.1.1.1
Những yếu tố tác động đến sự phát triển của ngành
81
công nghiệp ôtô
3.1.1.2
Các biện pháp áp dụng để giảm rủi ro của việc thừa
83
công suất toàn cầu và tác động tới công nghiệp ôtô
Việt Nam
3.1.1.3
Nhu cầu tiêu thụ ôtô đến năm 2010
86
3.1.1.4
Tác động của việc Việt Nam gia nhập WTO tới sự
89
phát triển ngành công nghiệp ôtô
3.1.2 Ph-ơng h-ớng phát triển ngành công nghiệp ôtô Việt Nam
1. Sự cần thiết của đề tài
Đối với nhiều quốc gia trên thế giới, công nghiệp ôtô là một trong
những ngành kinh tế quan trọng có lịch sử phát triển lâu dài qua hàng trăm
năm và có đóng góp lớn cho nền kinh tế quốc dân. Tại Việt Nam, việc phát
triển ngành công nghiệp ô tô cũng như hoạt động kinh doanh ôtô vẫn còn là
một lĩnh vực hết sức mới mẻ và non trẻ. Hoạt động này chỉ bắt đầu hình thành
khi Đảng ta tiến hành đổi mới, chuyển đổi từ nền kinh tế tập trung quan liêu
bao cấp sang nền kinh tế thị trường, đặc biệt từ khi Luật đầu tư trực tiếp nước
ngoài có hiệu lực.
Sau hơn 10 năm hoạt động, thị trường ôtô Việt Nam đã từng bước hình
thành và có những kết quả đáng ghi nhận. Tuy nhiên, so với yêu cầu của nền
kinh tế cũng như tiềm năng tăng trưởng của thị trường, ngành công nghiệp ôtô
cũng như thị trường ô tô Việt Nam còn nhiều vấn đề bất cập cần được quan
tâm nghiên cứu và giải quyết. Có rất nhiều nguyên nhân của sự bất cập đó
nhưng về cơ bản, có những nguyên nhân chủ yếu sau: Thứ nhất, hiện đang tồn
tại thực trạng là hệ thống pháp lý điều chỉnh ngành này vừa yếu lại vừa thiếu
(nhà nước ta vẫn đang duy trì chính sách bảo hộ quá cao đối với các doanh
nghiệp sản xuất, lắp ráp ôtô). Thứ hai, chính sách thuế quan và thương mại
chưa có đủ sức hấp dẫn đối với các nhà đầu tư trong lĩnh vực ôtô. Thứ ba, quy
mô của thị trường quá nhỏ bé, cơ sở vật chất hạ tầng thiếu đồng bộ, thiếu các
cơ sở cung ứng, đặc biệt là các ngành công nghiệp phụ trợ chưa được phát
triển.
Quy hoạch phát triển ngành công nghiệp ô tô của Việt Nam từ nay đến
năm 2010, tầm nhìn 2020 được phê duyệt tại Quyết định số
177/2004/QĐ/TTg ngày 05/10/2004 của Thủ tướng Chính phủ đã nêu rõ quan
2
điểm: “Phát triển nhanh ngành công nghiệp ôtô trên cơ sở thị trường và hội
Quốc - Bộ Kế hoạch và đầu tư , Viện chiến lược phát triển (1999), NXB
Chính trị Quốc gia , Hà Nội.
- “Công nghiệp ôtô- xe máy Việt Nam dƣới tác động của chính sách
thƣơng mại và đầu tƣ” bài viết của PTS Nguyễn Trần Quế và PTS Hoa Hữu
Lân đăng trong cuốn Chính sách thương mại, đầu tư và sự phát triển một số
ngành công nghiệp chủ lực của Việt Nam do PGS.TS. Võ Đại Lược - chủ
biên, (1998), NXB Khoa học xã hội, Hà Nội.
- “Ngành công nghiệp ôtô Việt Nam - Những việc cần làm để triển
khai thực hiện quy hoạch ngành” bài viết của GS.TS. Kenichi Ohno và Mai
Thế Cường đăng trong cuốn Hoàn thiện chiến lược phát triển công nghiệp
Việt Nam, do GS.TS. Kenichi Ohno và GS.TS. Nguyễn Văn Thường - chủ
biên (2005), NXB Lý luận chính trị, Hà Nội
Tuy vậy, các nghiên cứu chưa được hệ thống hoá, hầu hết mới chỉ dừng
lại ở việc phân tích các khía cạnh, chưa đề ra được những giải pháp mang tính
chất riêng biệt của ngành. Vì vậy, việc tiến hành nghiên cứu phân tích thực
trạng phát triển ngành công nghiệp ôtô, trên cơ sở đó đề xuất các phương
hướng và giải pháp để ngành ôtô trở thành ngành công nghiệp mũi nhọn, góp
phần phục vụ có hiệu quả sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hoá đất nước là
việc làm cần thiết, đặc biệt trong bối cảnh toàn cầu hoá và hội nhập kinh tế
của Việt Nam hiện nay.
3. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Đánh giá, phân tích thực trạng hoạt động của ngành công nghiệp ôtô
Việt Nam từ năm 1995 đến nay.
- Đề xuất một số định hướng và giải pháp chủ yếu nhằm thúc đẩy sự
phát triển của ngành trong thời gian tới.
4. Đối tượng và phạm vi ngiên cứu
* Đối tượng nghiên cứu : Ngành công nghiệp ôtô Việt Nam
4
Chương 3: Phương hướng và giải pháp phát triển ngành công
nghiệp ôtô Việt Nam đến năm 2010, tầm nhìn đến 2020
CHƢƠNG 1
NGÀNH CÔNG NGHIỆP ÔTÔ VÀ KINH NGHIỆM
QUỐC TẾ VỀ PHÁT TRIỂN CÔNG NGHIỆP ÔTÔ
1.1
Tổng quan về ngành công nghiệp ôtô thế giới
1.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển của ngành công nghiệp ôtô
Trong lịch sử thế giới hiện đại, công nghiệp ôtô - ngành chế tạo, sản
xuất và kinh doanh các loại xe như xe chở khách, xe tải, xe thể thao và nhiều
chủng loại xe khác, được coi là ngành công nghiệp quan trọng có tác động
tích cực tới quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá của nhiều quốc gia trên
thế giới. Cho đến thời điểm hiện nay công nghiệp ôtô đã có lịch sử hình thành
và phát triển gần hai trăm năm. Với việc giúp khách hàng rút ngắn khoảng
cách đi lại trong mọi hoạt động của đời sống, ngành công nghiệp này đã
khuyến khích sự phát triển theo chiều rộng của hệ thống đường xá, thúc đẩy
tăng trưởng tại nhiều vùng ngoại ô cũng như các trung tâm thương mại đặt
cạnh các thành phố lớn. Đồng thời, đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển
của nhiều ngành công nghiệp liên quan như dầu mỏ, du lịch. Công nghiệp ôtô
còn là một trong những khách hàng lớn nhất của nhiều ngành công nghiệp
mũi nhọn như thép, năng lượng hay điện tử và đã thu hút được một lượng lớn
lao động vào làm việc. Ở một vài quốc gia như Nhật Bản, Mỹ, Đức, Hàn
Quốc, công nghiệp ôtô có đóng vai trò là trụ cột cho sự tăng trưởng kinh tế.
Vậy ngành ôtô đã ra đời từ khi nào và những yếu tố nào đã góp phần tạo nên
sự thành công của ngành công nghiệp này trong tổng thể các ngành công
nghiệp quốc gia.
7
Gesellschaft hợp nhất với Benz & Cie thành công ty cổ phần Daimler-Benz
AG, đánh dấu cho sự thành lập công ty ôtô lâu đời nhất trên thế giới.
Trong khoảng thời gian này, các nhà khoa học người Pháp cũng đã có
nhiều nghiên cứu nhằm cải tiến và nâng cao chất lượng của loại phương tiện
giao thông mới mẻ này. Năm 1860, một người Pháp có tên Jean Joseph đã
phát minh ra loại động cơ đốt trong đầu tiên có khả năng ứng dụng trong thực
tiễn. Những năm 80 của thế kỷ 19, các công ty Pháp đã thiết kế mẫu mã cho
những chiếc xe hiện đại bằng cách đặt động cơ trên trục trước. Trong khi đó,
các nhà sản xuất người Mỹ có cải tiến quan trọng là sản xuất ôtô hàng loạt,
theo đó các linh kiện được sản xuất trên dây chuyền công nghiệp có thể thay
thế lẫn nhau. (Một trong những chiếc xe loại này do Ransom E. Olds sản xuất
năm 1901). Nhà sản xuất ôtô của Mỹ, Henry Ford đã phát minh dây chuyền
lắp ráp và ứng dụng thành công vào trong nhà máy ôtô của ông nhờ đó giảm
bớt thời gian lắp ráp và chi phí sản xuất. Năm 1914, Henry Ford bắt đầu sử
dụng dây chuyền lắp ráp để sản xuất xe hơi hàng loạt. Thêm vào đó, phương
thức mua xe trả sau vào năm 1915 đã giúp mẫu xe T –Ford được tầng lớp
trung lưu chấp nhận. T- Ford được lắp ráp chỉ trong khoảng thời gian 93 phút
và đưa Ford trở thành nhà sản xuất xe ôtô lớn nhất thế giới. Tính đến năm
1927 đã có 15 triệu mẫu xe T –Ford được xuất xưởng [46].
Vào những năm 1920, General Motors đã tạo ra bước phát triển mới
cho ngành công nghiệp ôtô bằng việc nhấn mạnh vào các chi tiết kiểu dáng,
mẫu mã xe. Mỗi năm, công ty lại tung ra thị trường một dòng xe mới, giới
thiệu cho khách hàng các sản phẩm khác nhau tuỳ theo thu nhập của họ (như
Cadillac dành cho tầng lớp thượng lưu, Chevrolet dành cho tầng lớp đại
chúng) tạo thành một hệ thống quản lý phi tập trung hiện đại. Số xe hơi tiêu
thụ tại thị trường Mỹ đã tăng từ 4.100 chiếc năm 1900 lên 895.900 chiếc vào
lượng xe hơi và phụ tùng trị giá tới hơn 140 tỉ đô la đã được sản xuất tại Mỹ
bởi các công ty có số nhân công lên đến hơn 210.000 người [45].
9
Tuy nhiên, khi ngành công nghiệp ôtô đã trưởng thành, các nhà sản
xuất phải thoả hiệp với nghiệp đoàn Lao động, gia tăng quyền kiểm soát của
chính phủ và kỳ vọng của người tiêu dùng trong việc thường xuyên thay đổi
những mẫu thiết kế. Xung đột thương mại dẫn đến hạn chế xuất khẩu tự
nguyện và đặt ra nhiều nghi vấn mới về giá trị của toàn cầu hoá. Ngành công
nghiệp ôtô, ngoài việc mang lại tự do cá nhân và tăng trưởng kinh tế lớn hơn,
còn là cơ sở cho việc xem xét lại giá trị của những tiến bộ về công nghệ. Các
học giả đã xem xét ảnh hưởng của việc phát triển đô thị cũng như lợi thế của
việc quy hoạch đô thị và sự hài hoà giữa tăng trưởng kinh tế, công tác bảo vệ
môi trường và phát triển bền vững. Xu hướng liên kết giữa các tập đoàn lớn,
mối đe doạ khủng hoảng dầu mỏ luôn thường trực và tình trạng suy thoái môi
trường tiếp tục ảnh hưởng đến ngành công nghiệp ôtô. Tình trạng ô nhiễm
môi trường và tắc nghẽn giao thông do ôtô gây ra cũng như độ an toàn của
loại phương tiện này khiến chính phủ nhiều nước phải ra những quy định
buộc các nhà sản xuất ôtô cải thiện hiệu suất sử dụng năng lượng và độ an
toàn.
Tiếp sau sự phát triển mạnh mẽ của năm 2004, trong năm 2005 tốc độ
tăng trưởng của nền kinh tế thế giới đã chững lại. Bước phát triển này trước
hết là do giá năng lượng và nguyên liệu tăng mạnh, tỉ lệ lãi xuất tăng và chi
tiêu công cộng bớt đắt đỏ. Phát triển kinh tế ở Bắc Mỹ, Nhật Bản và hầu hết
các nền kinh tế mới nổi tương đối thuận lợi. Tuy nhiên, tốc độ tăng trưởng ở
Tây Âu không được như dự kiến. Một lần nữa, phát triển trong khu vực sử
dụng đồng Euro lại gây thất vọng, đặc biệt là tại Đức. Nhìn chung, sự mất cân
bằng trong nền kinh tế thế giới tiếp tục tăng. Thâm hụt thương mại của Mỹ
đông dân nhất thế giới sẽ tiêu thụ 14 triệu xe các loại bao gồm cả xe thương
mại (xe buýt và các loại xe tải). Theo một điều tra mới đây, số lượng xe hạng
nhẹ bán ra ở Trung Quốc sẽ đạt 5,9 triệu chiếc vào cuối năm 2006. Vào năm
2010 lượng ôtô đăng ký mới ở nước này sẽ tăng 26% lên đến 7,9 triệu chiếc.
11
Ở thời điểm này, Mỹ vẫn tiếp tục giữ vị trí thống trị về số lượng xe tiêu thụ
trên toàn cầu nhưng tốc độ tăng trưởng sẽ dừng lại và đạt con số 17 triệu xe.
Nhật Bản là nước có số lượng xe tiêu thụ đứng thứ hai thế giới nhiều năm qua
nhưng chưa bao giờ vượt quá con số 6 triệu xe đăng ký trong một năm. Tại
Châu Âu, các quốc gia giàu truyền thống sản xuất ôtô như Đức, Anh và Pháp
sẽ chỉ có lượng tiêu thụ tăng ở mức rất khiêm tốn. Thậm chí lượng xe bán ra ở
Italia sẽ giảm đi, trong khi đó Tây Ban Nha hiện đứng ở vị trí thứ 8 sẽ rơi
xuống vị trí thứ 10 vào thời điểm cuối thập kỷ này. Ngoài Trung Quốc, còn
nhiều thị trường có mức tăng rất mạnh. Nga và Ấn Độ cũng là những miền
đất hứa với ngành công nghiệp sản xuất xe hơi trong tương lai do sự tăng
trưởng năng động trong sức mua, những cải thiện về cơ sở hạ tầng và do nhu
cầu đi lại tăng tại những khu vực này. Tại Nga, lượng xe tiêu thụ ôtô từ nay
đến năm 2010 sẽ tăng 21%. Năm 2000 Ấn Độ chỉ bán được 767.000 xe, con
số này sẽ tăng thành 1.650.000 xe vào năm 2010. Tương tự như vậy Mexico
với 852.000 xe vào năm 2000 sẽ là 1.316.000 trong năm tới [62].
Bảng 1.1: Danh sách 10 thị trƣờng ôtô lớn nhất thế giới
Đơn vị tính : Triệu chiếc
STT Tên nƣớc
Doanh số 2005
Dự tính 2006
5,852
4
Đức
3,517
3,59
3,733
5
Anh
3,517
3,59
3,733
6
Pháp
2,487
2,504
1,62
1,735
2,0
10
Tây Ban Nha
1,914
1,878
1,942
Nguồn: www.vnexpress.net
1.1.2 Những điều kiện cơ bản để hình thành ngành công nghiệp ôtô
Như chúng ta đã biết, ngành công nghiệp ôtô không phải chỉ ra đời
trong ngày một ngày hai bởi một nhà phát minh riêng lẻ mà lịch sử hình thành
và phát triển của nó phản ánh cuộc cách mạng công nghiệp diễn ra rộng khắp
trên thế giới. Ước tính có khoảng hơn 20.000 chi tiết được tạo ra cho ngành
công nghiệp ôtô hiện đại. Theo kinh nghiệm của các nước đi trước, cần phải
có bốn điều kiện để hình thành ngành công nghiệp này:
* Chính sách thị trường
Chính sách thị trường hay quy hoạch chiến lược phát triển ngành công
nghiệp ôtô là yếu tố có tính mở đường cho việc hình thành và phát triển của
ngành công nghiệp này. Việc hoạch định một chiến lược phát triển cho ngành
công nghiệp ôtô không chỉ thể hiện tầm nhìn chiến lược quốc gia mà còn phải
đảm bảo khả năng thực thi và thành công của nó, đồng thời phải phù hợp với
trong quá trình công nghiệp hoá và tạo nên tính năng động cho các nước ở
khu vực Đông Á. Yếu tố đưa đến hiện tượng này chính là nỗ lực tích luỹ tư
bản, công nghệ tại các nước đi sau và quá trình đó được thúc đẩy bằng đầu tư
trực tiếp nước ngoài và các hình thái chuyển giao công nghệ khác từ các nước
đi trước. Khảo sát sự phát triển của một số ngành công nghiệp (ví dụ: ngành
điện tử) ở khu vực Đông Á cho thấy, lợi thế so sánh của Nhật Bản trong việc
sản xuất tivi màu được phát huy mạnh mẽ trong thập niên 1970, bắt đầu được
chuyển sang Hàn Quốc vào cuối thập niên 1970, sang ASEAN-4 từ cuối thập
niên 1980 và Trung Quốc vào nửa sau thập niên 1990[24, tr.51].
* Sự tiến bộ về khoa học kỹ thuật và công nghệ.
Công nghiệp ôtô được coi là ngành thường xuyên áp dụng những tiến
bộ mới nhất về khoa học công nghệ. Một chiếc ôtô hoàn thiện tổng hợp tới
14
hơn 20.000 linh kiện khác nhau. Vì vậy, để phát triển ngành ôtô đòi hỏi trình
độ khoa học kỹ thuật của các nước phải đạt tới một mức độ nhất định. Hơn
nữa, do bản chất các sản phẩm của ngành này là phục vụ trực tiếp cho nhu cầu
chuyên chở và đi lại của con người nên những yêu cầu về đảm bảo độ an toàn
được đặt ra một cách rất nghiêm ngặt. Bên cạnh đó, việc thực hiện các mục
tiêu về phát triển bền vững cũng đặt ra nhu cầu bức thiết phải áp dụng những
công nghệ tiên tiến nhằm hạn chế ở mức thấp nhất mức độ ô nhiễm mỗi
trường. Thực tế cho thấy những quốc gia nào có một nền công nghiệp ô tô
phát triển vững mạnh cũng chính là nước đi đầu về khoa học kỹ thuật, nắm
trong tay bí quyết công nghệ tiên tiến nhất và có nhiều khả năng ứng dụng
những công nghệ mới.
* Sự phát triển của các ngành công nghiệp phụ trợ.
Công nghiệp phụ trợ bắt đầu xuất hiện từ những năm 60 thế kỷ XX,
phổ biến ở Nhật Bản và sau này là các nước công nghiệp mới ở Châu Á như
đặc biệt nhằm tăng cường ngành chế tạo máy” nhằm mục đích xây dựng các
ngành công nghiệp phụ trợ và từ đó tạo dựng nền tảng để phát triển công
nghiệp ôtô. Vì ngành công nghiệp phụ trợ có mối quan hệ mật thiết với nhiều
ngành công nghiệp sản xuất và lắp ráp như: ngành xe máy, ngành ôtô, ngành
điện tử, ngành đóng tàu nên các chi tiết sản phẩm của chúng có thể sử dụng
đồng thời cho việc lắp ráp ra các sản phẩm cuối cùng của nhiều ngành công
nghịêp khác. Thực tế cho thấy các quốc gia như Nhật Bản, Hàn Quốc, Thái
Lan có ngành công nghiệp ôtô, xe máy và điện tử phát triển thì đều có một lực
lượng hùng hậu các nhà cung ứng cấp 1, cấp 2 và cấp 3.
1.1.3 Những động thái mới của thị trường ôtô thế giới những năm gần đây
và xu hướng phát triển trong thời gian tới
Toàn cầu hoá là một trong số những xu hướng mạnh mẽ đang thúc đẩy
sự biến đổi và khả năng thích nghi trong ngành công nghiệp ôtô. Trước hết
các nhà sản xuất ôtô đang cố gắng cải tiến cách thức tổ chức sản xuất, đặc biệt
16
là trong các hoạt động chế tạo bằng việc thực hiện sản xuất an toàn. Sản xuất
an toàn bao gồm đảm bảo tồn kho ít, phân phối phụ tùng đúng thời hạn, tổ
chức công việc có hiệu suất cao và các chương trình liên tục nâng cao chất
lượng, năng suất. Thứ hai, sự gia tăng nhanh chóng nhu cầu đi lại bằng ôtô đã
tạo ra một loạt các vấn đề về môi trường nghiêm trọng: ô nhiễm không khí,
tắc nghẽn giao thông, xử lý chất thải và các nhà chế tạo ôtô nhận thấy một
nhu cầu cấp thiết phải phát triển các loại ôtô có mức phát thải thấp hoặc bằng
không. Ngoài ra, sự khan hiếm và cạn kiệt nguồn năng lượng xăng dầu cũng
đặt ra bài toán buộc các nhà sản xuất ôtô phải tìm ra nguồn năng lượng mới
thay thế và chế tạo các loại ôtô tiết kiệm hay ít tiêu hao năng lượng. Cuối
cùng, các thị trường dường như đang phân tán hơn tạo ra một áp lực gia tăng
đối với công tác kế hoạch, phân phối và năng lực tiếp thị của các nhà chế tạo
và hàng rào phi thuế quan cho phép ôtô nước ngoài được nhập khẩu vào thị
trường trong nước đáp ứng nhu cầu lựa chọn đa dạng của người tiêu dùng.
Mỹ- một quốc gia sản xuất và tiêu thụ xe hơi hàng đầu thế giới cũng đang
phải chịu sự cạnh tranh gay gắt trước sự xâm nhập của các hãng xe hơi Nhật
Bản với các dòng xe sang trọng, tiện nghi và hiện đại. Chỉ tính riêng trong
quý II năm 2006 hãng xe hơi Nhật nổi tiếng Toyota đã vượt qua hãng Ford tại
thị trường Mỹ với sản lượng xe hơi bán ra trên toàn thế giới đạt gần 2 triệu xe
các loại và đạt mức doanh thu 39 tỷ USD [62].
* Sự hấp dẫn của thị trường lớn đang nổi
Tăng trưởng chậm, bão hoà thị trường và cạnh tranh gia tăng ở chính
quốc làm cho các nhà chế tạo ôtô đi đến một nhận định là sự tăng trưởng
trong tương lai sẽ xuất hiện ở các thị trường đang nổi lên, đặc biệt là các quốc
gia đông dân như Trung Quốc, Ấn Độ vì đa phần các nước này có mức bình
quân nhỏ hơn 1 xe cho 100 người dân. Đồng thời với việc ráo riết thành lập
các cơ sở sản xuất ở hải ngoại, các nhà chế tạo ôtô đang triển khai mạnh hoạt
động quảng cáo – tiếp thị để bán được nhiều ôtô hơn ở nước ngoài với chủng
18
loại ngày một đa dạng hơn. Các nhà chế tạo ôtô và những nhà cung ứng cấp 1
của họ đang quốc tế hoá một cách mạnh mẽ các hoạt động của mình khi tìm
kiếm thị trường mới với chi phí thấp hơn. Đồng thời, các nhà chế tạo ôtô lớn
nhất đang toan tính tập trung hoá sự phát triển và phối hợp kiểm soát ở khu
vực chính quốc, nơi họ làm việc gần hơn so với các nhà cung cấp cấp 1. Hai
khía cạnh này trong quá trình toàn cầu hoá đang có những tác động sâu sắc
đến đặc tính của sự cạnh tranh, đến số lượng, chất lượng cũng như sự phân bổ
ngành nghề trong ngành ôtô. Từ đầu những năm 1980, công nghiệp ôtô đã trải
qua một sự bùng nổ không dự tính trước trong việc xây dựng các nhà máy lắp
ráp ôtô mới ở bên ngoài – các thị trường lớn hiện có và đang nổi lên. Bắt đầu
nhiều nhà phân tích ngành ôtô cảnh báo rằng việc đầu tư mạnh mẽ vào những
thị trường bên ngoài như hiện nay sẽ tạo ra những điều kiện thừa năng lực so
với nhu cầu phục vụ trong thời kỳ ngắn hạn và trung hạn. Một số nhà phân
tích đã cảnh báo về sự cải tổ cơ bản thời kỳ sau toàn cầu hoá có thể tạm thời
thay thế bức tranh cạnh tranh của ngành và gây ra hậu quả nghiêm trọng đối
với những người lao động ở các hãng làm ăn thua lỗ.
1.2 Kinh nghiệm phát triển ngành công nghiệp ôtô một số nƣớc trên thế
giới và bài học cho Việt Nam
Sản xuất ôtô được coi là hoạt động công nghiệp quan trọng và tốc độ
tăng trưởng nhanh trong thương mại thế giới. Ngành công nghiệp này cũng
đóng vai trò then chốt trong quá trình công nghiệp hoá của nhiều quốc gia,
bao gồm cả một số quốc gia đang phát triển – những nước mà việc phát triển
ngành công nghiệp ôtô thường gắn liền với chiến lược thay thế nhập khẩu.
Thông qua kinh nghiệm của các nước này, Việt Nam sẽ rút ra được những bài
học hữu ích cho việc thực hiện chiến lược phát triển ngành công nghiệp ôtô.
1.2.1 Kinh nghiệm của Hàn Quốc
Sau Nhật Bản, Hàn Quốc được coi là một trong những đối thủ cạnh
tranh đáng gờm nhất đối với các công ty chế tạo ôtô ở Phương Tây. Từ chỗ
20
chỉ có thể lắp ráp ôtô từ những linh kiện rời, Hàn Quốc đã trở thành nước xuất
khẩu ôtô với khối lượng lớn và chủng loại phong phú. Ngành công nghiệp ôtô
đã có nhiều đóng góp to lớn vào sự phát triển nhanh của kinh tế Hàn Quốc
trong nhiều năm qua thể hiện ở: Thứ nhất, ngành chế tạo ôtô đã thu hút một
số lượng lớn, hơn 1,3 triệu lao động làm việc trong các dây chuyền sản xuất,
bán hàng, sửa chữa và ở những ngành có liên quan như bảo hiểm, xây dựng
và vận tải. Số lao động này chiếm 7% tổng số lao động tuyển dụng trong các
ngành chế tạo. Thứ hai, với tốc độ tăng trưởng cao hơn bất cứ ngành công
Tạo ra nhiều kiểu xe Hàn Quốc vào năm 1975.
Hợp lý hoá hệ thống dây chuyền sản xuất.
Tách ngành lắp ráp khỏi ngành chế tạo phụ tùng.
Thành lập một ngành chế tạo phụ tùng ôtô được tổ chức riêng biệt.
Phù hợp với kế hoạch này, chế độ sản xuất chuyên môn hoá theo mô
hình được thực hiện và Huyndai Motor được phép sản xuất các loại xe khách
và xe tải theo dây chuyền đồng bộ hiện đại. Điều này đã giúp Huyndai có
những kinh nghiệm đầu trong việc giải quyết những khó khăn khi chuyển từ
chỗ sản xuất các phụ tùng đến chỗ chế tạo và lắp ráp ôtô hoàn chỉnh. Tháng 21981, chính phủ đã đưa ra biện pháp hợp lý hoá và thành lập các dây chuyền
sản xuất ôtô với khối lượng lớn. Biện pháp này nhằm xoá bỏ tình trạng đầu tư
trùng lặp và tăng cường cạnh tranh, đồng thời nhằm tái cơ cấu công nghiệp
dựa trên sự chuyên môn hoá về chủng loại, kiểu dáng giữa các nhà chế tạo
ôtô. Biện pháp hợp lý hoá năm 1981 được tháo bỏ vào năm 1987, từ đây
chính sách tự do cạnh tranh lại được thực hiện, mở ra cơ hội cho mọi nhà chế
tạo ôtô. Năm 1993, Huyndai Motor dẫn đầu trong sản xuất xe tải hạng nhẹ và
hạng trung. Dự án X-5 được chính phủ Hàn Quốc công bố vào tháng 10-1992
với mục tiêu đưa Hàn Quốc vào danh sách 5 nhà sản xuất ôtô đứng đầu thế
giới vào năm 2000. Về mặt lượng, dự án X -5 đưa ra mục tiêu sản xuất 4 triệu
ôtô và bán ra 3,2 triệu chiếc vào năm 2000. Đồng thời, tại thời điểm này các
22
loại xe Hàn Quốc phải được chế tạo hoàn toàn độc lập về kỹ thuật, thiết kế,
mẫu mã, động cơ kiểu Hàn Quốc [18,tr. 41].
Thứ hai, sự chấp nhận những nhà sản xuất mới và dự án XC-5
Tháng 12-2004, chính phủ Hàn Quốc công bố dự án XC-5, một chiến
lược thúc đẩy phát triển ngành chế tạo phụ tùng và thiết bị ôtô. Mục đích của
dự án XC-5 là trợ giúp dự án trung và dài hạn X-5 phát triển toàn ngành chế
tạo ôtô đã công bố năm 1992. Dự án X-5 được chia ra làm 3 giai đoạn.
thuế đánh vào mua sắm, đăng ký và sở hữu chiếm 71% trong tổng số, trong
khi thuế sử dụng ôtô trong đó có thuế tiêu thụ xăng dầu chiếm 29% [18,
tr.43].
1.2.2 Kinh nghiệm của Trung Quốc
Để có được vị trí trong ngành sản xuất ôtô, người Nhật phải mất đến 50
năm, người Hàn Quốc mất 30 năm. Nhưng với lợi thế đi sau, có thể người
Trung Quốc sẽ mất ít thời gian hơn để có được một ngành ôtô hiện đại, chất
lượng cao và có tiếng tăm trên thế giới. Ngành công nghiệp ôtô Trung Quốc
phát triển khá mạnh trong những năm gần đây trở thành động lực quan trọng
thúc đẩy nền kinh tế phát triển. Con số 3,25 triệu xe ôtô được sản xuất trong
năm 2002 đã đưa Trung Quốc từ vị trí là nước sản xuất ôtô lớn thứ 8 lên vị trí
thứ 5 thế giới. Năm 2003 Trung Quốc cho xuất xưởng 4,44 triệu ôtô, tăng hơn
25%, chiếm 37% doanh số bán ra của toàn ngành công nghiệp. Với con số
này, Trung Quốc đã vượt qua cả nước Pháp trong bảng danh sách các quốc
gia sản xuất ôtô hàng đầu thế giới. Năm 2004, Trung Quốc sản xuất hơn 5
triệu xe, trong đó một nửa là xe con. Hiện nay, các hãng xe Trung Quốc đang
chiếm được một phần thị trường giành cho xe hơi loại nhỏ và giá rẻ. Loại xe
này hiện rất thu hút tầng lớp khách hàng trung lưu, đối tượng được đánh giá là
sẽ sử dụng những chiếc xe hơi to hơn trong tương lai. Chính phủ nước này từ
lâu đã khao khát muốn trở thành thị trường xe hơi lớn nhất thế giới. Mặc dù