Thanh toán quốc tế tại Ngân hàng Công thương Đống Đa Thực trạng và giải pháp - Pdf 25

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
KHOA THƯƠNG MẠI VÀ KINH TẾ QUỐC TẾ

CHUYÊN ĐỀ THỰC TẬP
ĐỀ TÀI :
THANH TOÁN QUỐC TẾ TẠI NGÂN HÀNG TMCP CÔNG THƯƠNG CHI
NHÁNH ĐỐNG ĐA - THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP
Giáo viên hướng dẫn : TS. Dương Thị Ngân
Sinh viên thực hiện : Ngô Hoài Thu
MSV : CQ49250
Lớp chuyên ngành : Thương mại quốc tế
Khóa : 49

Hà Nội – 04/2011
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
Hà nội, ngày 26 tháng 11 năm 2010
BẢN CAM KẾT
Tên tôi là: Ngô Hoài Thu Chức vụ: sinh viên
Sinh viên lớp: Thương Mại Quốc Tế K49.
Khoa: Thương Mại & Kinh Tế Quốc Tế.
Trường: ĐH KINH TẾ QUỐC DÂN.
Tôi xin cam kết những điều sau đây:
1. Không sao chép tài liệu luận văn của các khóa trước. Những luận
văn này chỉ mang tính tham khảo.
2. Chấp hành nghiêm túc nghiêm chỉnh kế hoạch thực tập, kỷ luật lao
động.
3. Tiếp thu ý kiến giúp đỡ hướng dẫn của giáo viên hướng dẫn và cán
bộ cơ sở thực tập.
Nếu tôi vi phạm những điều kể trên thì sẽ chịu hoàn toàn trách nhiệm và
chịu sự kỷ luật của nhà trường.

LỜI MỞ ĐẦU
Ngày nay, với xu hướng toàn cầu hóa, các hoạt động mua bán quốc
tế ngày một tăng lên, cũng như ngày càng mang một vai trò to lớn hơn
trong việc phát triển kinh tế Thế giới. Việt Nam là một nước đang phát
triển, từng bước hòa nhập với nền kinh tế thị trường và sức ép từ các hoạt
động ngoại thương. Do đó, xuất nhập khẩu là lĩnh vực luôn được quan tâm,
đầu tư phát triển một cách sâu sắc. Bên cạnh sự đi lên của hoạt động
thương mại giữa các nước, các nghiệp vụ ngân hàng quốc tế cũng theo đó
mà tồn tại và phát triển không ngừng. Có thể nói, cho đến ngày nay, các
nghiệp vụ như : thanh toán quốc tế, kinh doanh ngoại hối, tài trợ ngoại
thương, … đã trở nên không thể thiếu và có vai trò ngày một quan trọng
hơn.
Hơn nữa, thanh toán quốc tế không chỉ đóng góp vai trò trong việc
phát triển kinh tế nói chung mà còn là một dịch vụ quan trọng đối với các
Ngân hàng Thương mại, là một hoạt động kinh doanh mang lại nhiều
doanh thu. Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam là một trong số các
ngân hàng của Việt Nam có hoạt động thanh toán quốc tế tốt nhất. Chi
nhánh cấp 1 – Ngân hàng TMCP Công thương – Chi nhánh Đống Đa là
một phần của Vietinbank và không ngừng góp phần vào sự phát triển của
ngân hàng này. Tuy là chi nhánh cấp 1, nhưng hiện nay, Ngân hàng TMCP
Công thương – Chi nhánh Đống Đa đã có được sự phát triển vượt bậc cùng
với các dịch vụ đầy đủ của mình, trong số đó có thể nói đến hoạt động
thanh toán quốc tế.
Tuy nhiên, thương mại và thanh toán quốc tế là hai hoạt động vốn rất
phức tạp và mang nhiều rủi ro hơn so với thương mại và thanh toán nội địa
do nó còn chịu tác động bởi luật lệ, các tập quán, ngôn ngữ và đồng tiền
của nhiều hơn một quốc gia. Chính vì thế, để có thể phát triển và thành
công trong thanh toán quốc tế, cán bộ công nhân viên các ngân hàng
thương mại ngày nay không chỉ cần giỏi về nghiệp vụ mà còn phải giỏi về
ngoại ngữ, nắm bắt được các luật lệ cũng như tập quán thanh toán quốc tế.

8
Chương I : Lý luận chung về hoạt động thanh toán quốc tế
1. Khái niệm thanh toán quốc tế.
Thanh toán quốc tế là việc thực hiện các nghĩa vụ chi trả và quyền
hưởng lợi về tiền tệ phát sinh trên cơ sở các hoạt động kinh tế và phi kinh tế
giữa các tổ chức, cá nhân nước này với tổ chức, cá nhân nước khác, hay giữa
một quốc gia với tổ chức quốc tế, thông qua quan hệ giữa các ngân hàng của
các nước liên quan.
2. Khái quát các phương thức thanh toán quốc tế.
2.1. Phương thức thanh toán ứng trước, ghi sổ và chuyển tiền.
Thanh toán ứng trước, ghi sổ hay chuyển tiền đều là những phương
thức thanh toán quốc tế đơn giản nhất chỉ có thể áp dụng khi nhà xuất khẩu
và nhà nhập khẩu có mối quan hệ uy tín và tin tưởng lẫn nhau. Thanh toán
ứng trước và ghi sổ, chỉ cần có sự tham gia của hai bên là nhà xuất khẩu và
nhà nhập khẩu, còn phương thức chuyển tiền, ngân hàng tham gia với vai
trò là trung gian thanh toán theo ủy nhiệm.
2.1.1. Phương thức ứng trước.
Người mua chấp nhận giá hàng của người bán bằng đơn đặt hàng
chắc chắn ( không hủy ngang ) đồng thời chuyển tiền thanh toán một phần
hay toàn phần, nghĩa là việc thanh toán xảy ra trước khi hàng hóa được
người bán chuyển giao cho người mua được gọi là thanh toán ứng trước.
Mốc thời gian làm căn cứ trả tiền trước có thể là ngay khi ký hợp
đồng hay trả tiền cùng với đơn đặt hàng, sau khi hợp đồng có hiệu lực một
thời gian nhất định, hoặc trả trước khi giao hàng một thời gian nhất định.
Ứng với mỗi mốc thời gian trên, nhà nhập khẩu ứng trước tiền hàng cho
nhà xuất khẩu với một mục đích cụ thể. Mục đích của việc thanh toán trước
có thể nhằm cấp tín dụng cho nhà xuất khẩu hoặc đảm bảo việc thực hiện
hợp đồng của nhà nhập khẩu.
Việc thanh toán ứng trước giúp cho nhà nhập khẩu chắc chắn nhận
được hàng hóa ngay cả khi nhà xuất khẩu vì một lý do nào đó không còn

nhau. Ngân hàng trong trường hợp này chỉ đóng vai trò là trung gian thanh
toán theo ủy nhiệm để nhận hoa hồng và không bị ràng buộc bất cứ trách
nhiệm nào đối với người chuyển tiền và người hưởng lợi. Đối với phương
thức chuyển tiền, không thể đảm bảo việc người mua sẽ trả tiền. Người
mua sau khi nhận hàng có thể không tiến hành trả tiền hoặc cố tình kéo dài
thời hạn chuyển tiền nhằm chiếm dụng vốn của người bán. Do nhược điểm
này nên trong mua bán quốc tế, chuyển tiền chỉ được áp dụng khi các bên
có uy tín, tin cậy lẫn nhau.
Có hai hình thức chuyển tiền sau :
- T/T : Hình thức điện chuyển tiền :là hình thức chuyển tiền trong đó
lệnh thanh toán của ngân hàng chuyển tiền được thể hiện trong nội dung một
bức điện.
- M/T : Hình thức thư chuyển tiền : là hình thức chuyển tiền trong đó
lệnh thanh toán của ngân hàn chuyển tiền được chuyển bằng thư.
Có thể thấy rõ ràng, T/T là hình thức chuyển tiền nhanh hơn, do đó
có lợi hơn cho nhà xuất khẩu nhưng chi phí cao; M/T là hình thức chuyển
tiền chậm nhưng chi phí thấp.
10
Các bên tham gia vào nghiệp vụ chuyển tiền gồm có : người chuyển
tiền (nhà nhập khẩu), người thụ hưởng (nhà xuất khẩu), ngân hàng chuyển
tiền (ngân hàng phục vụ người chuyển tiền) và ngân hàng trả tiền ( ngân
hàng đại lý hoặc chi nhánh của ngân hàng chuyển tiền).
2.2.Phương thức thanh toán nhờ thu.
Có thể thấy rằng, nhờ thu là phương thức thanh toán quốc tế có ưu
điểm cơ bản là đã dung hòa được tính an toàn và rủi ro so với các phương
thức ứng trước, ghi sổ và chuyển tiền, nhưng lại giảm được chi phí so với
phương thức tín dụng chứng từ.
11
2.2.1. Khái niệm thanh toán nhờ thu.
Nhờ thu là phương thức thanh toán, theo đó bên bán sau khi giao

từ người mua ( nhà nhập khẩu ) trả cho người bán ( nhà xuất khẩu ). Phân
loại nhờ thu phụ thuộc vào tính chất chứng từ mà người mua yêu cầu làm
căn cứ trả tiền. Do đó, nhờ thu gồm hai loại là : nhờ thu phiếu trơn và nhờ
thu kèm chứng từ.
a) Nhờ thu phiếu trơn :
12
Nhờ thu phiếu trơn là phương thức thanh toán, trong đó chứng từ
nhờ thu chỉ bao gồm chứng từ tài chính, còn các chứng từ thương mại được
gửi trực tiếp cho người nhập khẩu không thông qua ngân hàng. Trong đó :
- Chứng từ tài chính bao gồm : hối phiếu, kỳ phiếu, séc, hoặc các
phương tiện tương tự khác được sử dụng trong việc chi trả, thanh toán tiền.
- Chứng từ thương mại bao gồm hóa đơn, chứng từ vận tải, các
chứng từ có tiêu đề hoặc các chứng từ tương tự khác, hoặc bất kỳ chứng từ
nào khác không phải là chứng từ tài chính.
b)Nhờ thu kèm chứng từ :
Là phương thức thanh toán trong đó chứng từ gửi đi nhờ thu gồm :
(i) Hoặc chứng từ thương mại cùng chứng từ tài chính.
(ii)Hoặc chứng từ thương mại ( không có chứng từ tài chính gửi
cùng ).
NHTH chỉ trao BCT cho người trả tiền khi người này đã trả tiền,
chấp nhận thanh toán hoặc thực hiện các điều kiện khác quy định trong
Lệnh nhờ thu.
Trong phương thức nhờ thu kèm chứng từ, nhà xuất khẩu và nhà
nhập khẩu phải thỏa thuận cụ thể điều kiện trao chứng từ quy định trong
Lệnh nhờ thu là như thế nào. Trong thực tế, có 4 phương thức trao chứng từ
: D/P ( thanh toán trả tiền ngay khi chứng từ được xuất trình ), trao chứng
từ khi được thanh toán sau một số ngày nào đó, D/A ( trao chứng từ khi
được chấp nhận ), D/OT ( trao chứng từ khi được chấp nhận các điều kiện
khác). Trong đó, D/P và D/A là hai hình thức nhờ thu phổ biến nhất.
2.3. Phương thức tín dụng chứng từ.

Theo điều 2, UCP600, thư tín dụng là bất cứ thỏa thuận nào, dù được
gọi hoặc mô tả như thế nào mà theo đó không thể hủy ngang và trở thành
một cam kết của ngân hàng phát hành thư tín dụng về việc thanh toán khi
chứng từ xuất trình phù hợp.
Thư tín dụng thương mại ( L/C ) là một văn bản pháp lý do ngân
hàng viết ra theo yêu cầu của người nhập khẩu, còn được gọi là người xin
mở L/C, để cam kết trả tiền cho người xuất khẩu, hay còn gọi là người
hưởng lợi một số tiền nhất định trong một thời gian nhất định với điều kiện
người này thực hiện đúng và đầy đủ những điều khoản quy định trong bức
thư đó. Nội dung của một L/C bao gồm:
- Số hiệu, địa chỉ và ngày mở L/C.
- Loại L/C.
- Tên và địa chỉ của các bên có liên quan.
- Số tiền của L/C ( ghi cả bằng số, bằng chữ, loại tiền tệ và phải phù
hợp với các chứng từ khác có liên quan ).
- Thời hạn hiệu lực, thời hạn trả tiền, thời hạn giao hàng.
- Những thông tin về hàng hóa : tên hàng, số lượng, trọng lượng, giá
cả, quy cách, phẩm chất … và phải thống nhất với hợp đồng.
- Những nội dụng về vận tải và giao nhận hàng hóa : điều kiện, nơi
giao, quy cách giao hàng, …
- Những chứng từ mà người xuất khẩu phải xuất trình.
- Sự cam kết trả tiền cho ngân hàng.
- Những điều khoản đặc biệt khác.
- Chữ ký hay mã khóa của NHPH L/C.
Thư tín dụng là một văn bản pháp lý quan trọng của phương pháp tín
dụng chứng từ, nếu thanh toán bằng L/C mà không có L/C thì người xuất
khẩu cũng không giao hàng và như vậy, phương thức này cũng không được
hình thành. Đặc điểm của thư tín dụng là được lập ra dựa trên cơ sở hợp
đồng thương mại nhưng lại độc lập tương đối với hợp đồng ( theo điều 4,
UCP600 ).

người kinh doanh dùng L/C này làm căn cứ để mở L/C khác cho người
hưởng lợi khác với nội dung gần giống như L/C ban đầu. L/C mở sau được
gọi là L/C giáp lưng.
- Thư tín dụng đối ứng : Là loại L/C được quy định là chỉ có giá trị
hiệu lực khi L/C khác đối ứng với nó đã được mở ra. Có nghĩa là khi người
xuất khẩu nhận được L/C do người nhập khẩu mở thì phải mở ra một L/C
tương ứng thì nó mới có giá trị.
3. Các rủi ro trong thanh toán quốc tế
Là một trong những lĩnh vực hoạt động kinh doanh của NHTM,
TTQT ra đời và phát triển không ngừng như là một tất yếu khách quan.
Tuy nhiên, trong quá trình hoạt động, TTQT không chỉ đơn thuần mang lại
những lợi ích kinh tế mà còn mang lại không ít rủi ro, tổn thất trực tiếp cho
đất nước, cho ngân hàng, cho doanh các doanh nghiệp xuất khẩu.
Rủi ro trong hoạt động TTQT của NHTM là vấn đề xảy ra ngoài ý
muốn trong quá trình tiến hành hoạt động TTQT và đem lại ảnh hưởng xấu
cho hoạt động kinh doanh của NHTM. Trong quá trình tiến hành hoạt động
TTQT, rủi ro xảy ra khi quyền lợi của một trong các bên tham gia bị vi
16
phạm. Rủi ro TTQT không chỉ được hiểu theo nghĩa hẹp là việc chứng từ
không được thanh toán, mà còn được hiểu rộng ra là bất kỳ một sự chậm
trễ nào trong các khâu của quá trình TTQT. Rủi ro có thể xảy ra với tất cả
các bên tham gia: Với người bán, rủi ro có thể xảy ra khi bán hàng không
thu được tiền hoặc chậm thu được tiền, rủi ro về thị trường tiêu thụ, rủi ro
không nhận hàng từ người mua, rủi ro không thanh toán…; đối với người
mua, rủi ro xảy ra khi người bán giao hàng không đúng với các điều kiện
của hợp đồng (không đúng số lượng, quy cách, chủng loại…), rủi ro không
giao hàng, rủi ro trong quá trình vận chuyển hàng hoá…; với các ngân hàng
có liên quan, rủi ro xảy ra khi người mua hoặc người bán thiếu trung thực,
không thực hiện đúng cam kết đã ghi trong hợp đồng, hoặc có sự biến động
của tỷ giá.

sót. Nếu NHPH hoặc NHXN mất khả năng thanh toán thì mặc dù BCTXT
có hoàn hảo cũng không được thanh toán. Cũng tương tự như vậy, nếu
ngân hàng chấp nhận hối phiếu kỳ hạn bị phá sản trước khi hối phiếu đến
hạn thì hối phiếu cũng không được trả tiền. Trừ khi L/C được xác nhận bởi
một ngân hàng có uy tín hàng đầu, còn lại nhà xuất khẩu sẽ phải chịu rủi ro
về hệ số tín nhiệm của NHPH cũng như rủi ro chính trị hay rủi ro do cơ chế
chính sách của nhà nước thay đổi.
- Rủi ro đối với NHPH : NHPH đại diện cho người nhập khẩu, ngân
hàng ngày cung cấp tín dụng cho người nhập khẩu và thường được hai bên
nhập khẩu và xuất khẩu thoả thuận lựa chọn, được quy định trong hợp
đồng,( nếu chưa có sự quy định trước, người nhập khẩu có quyền lựa
chọn). Rủi ro đối với NHPH là ở chỗ NHPH phải thực hiện thanh toán cho
người thụ hưởng theo quy định của L/C trong trường hợp nhà nhập khẩu
chủ tâm không thanh toán hay không có khả năng thanh toán. Vì thế, trước
khi chấp nhận phát hành L/C, ngân hàng cần thẩm định một cách chặt chẽ
giống như việc cấp một khoản tín dụng cho khách hàng.
- Rủi ro đối với NHTB : NHTB phải chịu trách nhiệm về tính chân
thật, hợp lệ của thư tín dụng (bao gồm cả việc xác minh chữ ký, khoá mã,
mẫu điện…) trước khi gửi thông báo cho nhà xuất khẩu. Rủi ro đối với
NHTB xảy ra khi gặp phải một L/C giả (hoặc sửa đổi giả) mà không có ghi
chú gì. Theo thông lệ quốc tế thì NHTB phải chịu hoàn toàn trách nhiệm
với các bên liên quan.
- Rủi ro đối với NHCĐ : NHCĐ không có một trách nhiệm nào phải
thanh toán cho nhà xuất khẩu trước khi nhận được tiền từ NHPH. Tuy
nhiên trong thực tế, các NHCĐ thường ứng trước tiền cho nhà xuất khẩu
với điều kiện truy đòi để trợ giúp cho nhà xuất khẩu. Do đó, ngân hàng này
thường phải tự chịu rủi ro tín dụng đối với NHPH hoặc nhà xuất khẩu.
- Rủi ro đối với NHXN : Đối với NH xác nhận, khi tham gia xác
nhận là họ đã tự ràng buộc trách nhiệm của mình vào nghĩa vụ thanh toán
L/C khi có tranh chấp giữa hai bên. Rủi ro đối với NHXN xảy ra khi họ

Đối với NHTM :
Hiện đại hoá công nghệ hoạt động TTQT của ngân hàng để theo mặt
bằng trình độ quốc tế. Công nghệ ngân hàng là một trong những yếu tố quyết
định sự thành công của ngân hàng trong quá trình hoạt động. Do vậy, NHCT
Đống Đa cần tiếp tục đầu tư, củng cố nền tảng công nghệ, tăng cường khai
thác các tiện ích, tạo ra các sản phẩm có giá trị gia tăng phục vụ khách hàng;
hiện đại hoá cơ sở kỹ thuật đáp ứng yêu cầu tăng khối lượng TTQT, hội
nhập với khu vực và thế giới.
Chú trọng đào tạo đội ngũ cán bộ nhân viên về chuyên môn, nghiệp
vụ, kiến thức pháp luật, đạo đức nghề nghiệp và ý thức phòng ngừa rủi ro
19
trong TTQT. Kinh nghiệm của nhiều nước trên thế giới và khu vực cho
thấy công tác đào tạo là một trong những nhân tố quyết định thành công đối
với sự phát triển của đất nước nói chung cũng như của từng NHTM nói
riêng. Do đó, để giảm thiểu rủi ro trong hoạt động TTQT nói riêng, vấn đề
đào tạo được một đội ngũ cán bộ quản lý, cán bộ làm công tác chuyên môn
có trình độ, năng lực, phẩm chất là điều hết sức quan trọng và cần thiết.
Nâng cao năng lực quản trị rủi ro đối với đội ngũ cán bộ quản trị,
điều hành các cấp cũng như tăng cường các công tác kiểm tra giám sát rủi
ro trong hoạt động TTQT.
Để tăng cường công tác thông tin phòng ngừa rủi ro, NHCT Đống
Đa cần cập nhật đầy đủ thông tin kinh tế, đặc biệt là thông tin phòng ngừa
rủi ro nhằm giảm thiểu rủi ro cho quá trình hoạt động TTQT của ngân hàng
mình. Thêm vào đó, ngân hàng cần lựa chọn để áp dụng những phương
pháp và công cụ phòng ngừa, hạn chế rủi ro thích hợp theo thông lệ và
chuẩn mực quốc tế.
Tăng cường công tác đối ngoại với các ngân hàng nước ngoài. Cụ
thể hơn, NHCT Đống Đa cần phải thiết lập mới và củng cố mạng lưới các
ngân hàng đại lý và các văn phòng đại diện ở nước ngoài, thông qua đó
cung cấp thông tin, hỗ trợ cho doanh nghiệp tìm kiếm bạn hàng và thực

chế đến mức thấp nhất các rủi ro trong quá trình hoạt động TTQT của
NHTM. Nâng cao chất lượng phân tích tình hình tài chính và phát triển hệ
thống cảnh báo sớm.
Đối với NHNN:
Tăng cường hoạt động thanh tra, giám sát và đánh giá an toàn đối với
hệ thống NHTM. Phối hợp với các Bộ, ngành hoàn thiện các quy trình, quy
định cho hoạt động TTQT. Xây dựng các phương pháp kiểm tra, giám sát
hoạt động TTQT của NHTM theo luật pháp nước ta và các chuẩn mực
quốctế.
Hoàn thiện hoạt động thông tin phòng ngừa rủi ro trong hoạt động
TTQT cho toàn bộ hệ thống NHTM. Xây dựng một hệ thống công nghệ
đảm bảo thu thập được những thông tin quản trị cần thiết cho NH kịp thời
để làm cơ sở cho những quyết định kinh doanh NH. (Theo Tạp chí hoạt
động khoa học)
4. Các yếu tố ảnh hưởng đến thanh toán quốc tế của các ngân
hàng thương mại tại Việt Nam.
Có rất nhiều nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động TTQT của NHTM, có thể
phân thành hai nhóm nhân tố cơ bản là nhóm các nhân tố bên ngoài ngân
hàng và nhóm các nhân tố bên trong ngân hàng.
4.1. Nhóm các nhân tố bên ngoài ngân hàng
Thứ nhất : Các chính sách vĩ mô của Nhà nước.
Sự phát triển của nền kinh tế luôn luôn phụ thuộc vào đường lối phát
triển kinh tế của một nước. Nếu đường lối phát triển kinh tế tốt sẽ tạo cho
nền kinh tế được phát triển đúng hướng với tốc độ tăng trưởng cao, hoạt
động sản xuất kinh doanh ngày càng an toàn và hiệu quả hơn. Khi ngân
hàng quan tâm đầu tư tín dụng cho nền kinh tế, phát triển dịch vụ mới, mở
21
rộng tầm hoạt động trên trường quốc tế sẽ tạo khả năng phục vụ hoạt động
TTQT ngày một tốt hơn, hiệu quả hơn. Khả năng này được phản ánh qua
các chính sách như sau :

trường kinh tế, chính trị, xã hội của các quốc gia. Mỗi sự biến động về chế
độ chính trị của nước đối tác sẽ ảnh hưởng đến khả năng và sự sẵn sàng
đáp ứng các cam kết đã thoả thuận giữa các bên. Ví dụ như sự suy thoái
kinh tế, biến động chính trị sẽ ảnh hưởng bất lợi đến tự do hoá thương mại,
22
đến hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, từ đó ảnh hưởng đến
quá trình thanh toán. Hơn nữa những thay đổi về cơ chế, chính sách của
một quốc gia như thay đổi những quy định về dự trữ ngoại hối, quy định về
thuế, phí xuất nhập khẩu hoặc đơn giản là môi trường pháp lý, nền kinh tế
của một quốc gia chưa ổn định và thường xuyên thay đổi khiến cho các bên
đối tác không dự đoán trước được tình hình làm ảnh hưởng đến khả năng
thanh toán, vì vậy gây thiệt hại cho các bên tham gia vào quá trình mà
trong đó có NHTM.
Thứ ba : Môi trường pháp lý
Bất cứ hoạt động kinh doanh nào vượt ra ngoài biên giới một quốc
gia sẽ phải tuân thủ ít nhất hai loại luật pháp. Luật pháp trong nước và luật
pháp của nơi chủ nhà nơi tiến hành hoạt động kinh doanh, thậm chí là luật
pháp quốc tế. Hoạt động TTQT tại NHTM không những chỉ chịu sự chi
phối bởi các cơ chế, chính sách, pháp luật trong nước và quốc tế mà còn
phải tuân thủ theo những quy tắc, chuẩn mực quốc tế, thông lệ quốc tế của
từng loại hình nghiệp vụ phát sinh. Ngoài ra, quá trình giao lưu thương mại
giữa các đối tác ở những vị trí địa lý khác nhau, ngôn ngữ khác nhau,
phong tục tập quán khác nhau thường nảy sinh rất nhiều tranh chấp, vướng
mắc. Vì vậy, trong quá trình hoạt động của mình, Phòng TMQT đã nghiên
cứu và ban hành một số quy tắc, chuẩn mực quốc tế áp dụng chung cho các
nước khi thực hiện các giao lưu TMQT và thực hiện các giao dịch TTQT
như : Incoterms, UCP600, ULB, Các quy tắc này được biên soạn phù
hợp với từng phương thức TTQT cụ thể. Tuy nhiên, trong thực tiễn phát
sinh chúng chưa phải là quy tắc hoàn hảo và an toàn tuyệt đối trong giao
dịch giữa các bên mà nó cũng còn một số nhược điểm nhất định.

sẽ là tác nhân thu hút khách hàng đến với ngân hàng nhiều hơn vì quyền lợi
của họ được đảm bảo.
Thứ hai : Trình độ nghiệp vụ của cán bộ ngân hàng
Luật pháp mỗi nước khác nhau nên trong thương mại đã có những
quy định thống nhất, những thông lệ quốc tế mà các bên tham gia, kể cả
ngân hàng đều phải tuân thủ. Người cán bộ ngân hàng làm công tác TTQT
phải luôn luôn nắm rõ được các phương tiện và phương thức TTQT. Muốn
thực hiện được công việc một cách thành thạo, tránh được hiểu lầm hay
gây thiệt hại đáng tiếc cho ngân hàng, đòi hỏi cán bộ TTQT phải có chuyên
môn cao. Hơn nữa, chứng từ giao dịch trong TTQT đều sử dụng ngoại ngữ
nên đòi hỏi cán bộ nghiệp vụ một trình độ ngoại ngữ nhất định.
Thứ ba : Công nghệ ngân hàng
Hệ thống ngân hàng của mỗi nước dù đã hay đang phát triển đều rất
quan tâm đến hoạt động TTQT. Tiêu chí hoạt động TTQT là phải nhanh
chóng, kịp thời và chính xác. Vì vậy, các công nghệ tiên tiến của ngành
ngân hàng đều được ứng dụng nhằm thực hiện tốt hơn tiêu chí trên. Ngân
hàng ở các nước đều có mức đầu tư đáng kể vào công nghệ thông tin, viễn
thông và xử lý dữ liệu.
Thứ tư : Uy tín của NHTM
Ngân hàng có uy tín lớn là ngân hàng có các hoạt động đa dạng và
phong phú cả về quy mô lẫn chất lượng, điều này sẽ thu hút một số lượng
lớn khách hàng đến với ngân hàng. Không những thế, một ngân hàng có uy
tín sẽ dễ dàng mở rộng được thị trường với phạm vi toàn cầu. Đăc biệt khi
ngân hàng có uy tín trên trường quốc tế, sẽ rất thuận lợi khi thực hiện các
nghiệp vụ mang tính bảo lãnh thanh toán cho khách hàng trong nước và
nghiệp vụ TTQT, đồng thời các ngân hàng và đối tác nước ngoài sẽ tin
tưởng lựa chọn ngân hàng để giao dịch.
Thứ năm : Các hoạt động khác có liên quan đến hoạt động
TTQT
25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status