Biện pháp xử lý nợ quá hạn ở Sở giao dịch Ngân hàng Nông nghiệp - Pdf 25

Website: Email : Tel : 0918.775.368
LỜI MỞ ĐẦU
Từ khi tiến hành công cuộc đổi mới theo nghị quyết đại hội VI Đảng cộng
sản Việt Nam (1986) đến nay, chúng ta đã giành được những thành tựu hết sức
quan trọng cả về kinh tế, chính trị, văn hoá - xã hội và ngoại giao. Nền kinh tế
nước ta có những chuyển biến mạnh mẽ: tình trạng sản xuất đình đốn, rối ren
trong lưu thông đã đựoc khắc phục, đa số các doanh nghiệp lam ăn có lãi. Cơ
cấu các ngành kinh tế được chuyển đổi phù hợp với cơ chế mới. đời sống nhân
dân được nâng cao. Tốc độ tăng trưởng kinh tế tương đối cao. Lạm phát được
đẩy lùi từ mức lạm phát “phi mã” 774,7% năm 1986 đến nay chỉ còn ở mức
một con số. Như vậy, công cuộc đổi mới đã thu được những thành tựu to lớn, có
ý nghĩa rất quan trọng.
Những thành tựu đã đạt được ở trên có sự đóng góp hết sức quan trọng
của hệ thống Ngân hàng Việt Nam. Thực trạng đường lối đổi mới của Đảng, hệ
thống Ngân hàng Việt Nam bước đầu xây dựng được một hệ thống cơ chế điều
hành thích hợp với cơ chế mới, toàn ngành đã góp phần đẩy lùi lạm phát, ổn
định giá trị đồng tiền và thúc đẩy tăng trưởng, chuyển dịch cơ cấu kinh tế, thúc
đẩy sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.
Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu đã đạt được, hệ thống Ngân hàng
Việt Nam còn bộc lộ nhiều yếu kém, tồn tại cần tập trung giải quyết. Trong đó,
tồn tại lớn nhất mà ngành ngân hàng đang dồn toàn tâm toàn lực để giải quyết
đó là vấn đề nợ quá hạn. Hiện nay, nợ quá hạn của các ngân hàng thương mại
đang chiếm tỷ lệ cao trong tổng dư nợ tín dụng. Tính đến cuối năm 2000, tỷ lệ
nợ quá hạn của toàn hệ thống ngân hàng là 9,4%. Trong khi đó, việc xử lý nợ
quá hạn gặp nhiều khó khăn, vướng mắc không xử lý dứt điểm đã ảnh hưởng
xấu đến hoạt động kinh doanh, an toàn của hệ thống ngân hàng thương mại và
nền kinh tế.
Xuất phát từ thực trạng trên, để hệ thống ngân hàng tiếp tục phát huy vai
trò quan trọng trong việc thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội, vấn đề tiếp tục đổi

Website: Email : Tel : 0918.775.368

I. NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1. Lịch sử hình thành và phát triển
1.1.Lịch sử hình thành.
Lịch sử hình thành và phảt triển của ngân hàng thương mại gắn liền với
lịch sử phát triển của sản xuất hàng hoá. Sự phát triển của sản xuất hàng hoá kéo
theo sự phát triển của các ngân hàng thương mại, ngược lại các ngân hàng
thương mại cũng có vai trò quan trọng trong việc phát triển của nền kinh tế xã
hội.
Do có sự khác biệt về tiền tệ giữa các vùng kết hợp với sự lưu thông hàng
hoá đã làm xuất hiện nhu cầu đổi tiền. Đứng trước tình hình đó, các thương gia
và chủ hiệu vàng nhận thấy có thể thu được nhiều lợi nhuận từ hoạt động đổi
tiền, do đó họ đã tiến hành kinh doanh tiền tệ thông qua hoạt động đổi tiền. Họ
thực hiện kinh doanh tiền tệ bắng cách đổi ngoại tệ lấy bản tệ, và ngược lại. Lợi
nhuận thu được là từ chênh lệch giá mua bán.Các thương gia và chủ hiệu vàng
được gọi là các nhà kinh doah tiền tệ.
Các nhà kinh doanh tiền tệ thường là người giàu nên họ có két tốt để cất
giữ an toàn. Do yêu cầu cất trữ của các lãnh chúa, các nhà buôn… nhiều nhà
kinh doanh tiền tệ thực hiện luôn cả nghiệp vụ cất trữ hộ. Vì nhờ giữ hộ tiền,
nên những người gửi tiền phải trả công cho những người giữ tiền, do đó hoạt
động nhận tiền gửi làm tăng thu nhập cho các nhà kinh doanh tiền tệ. Mặt khác,
việc cất trữ hộ làm tăng khả năng đa dạng hoá các loại tiền, tăng quy mô tài sản
của người kinh doanh tiền tệ. Vì vậy, đây là điều kiện để họ thực hiện việc thanh
toán hộ.
Thông qua hoạt động thực tiễn, các nhà kinh doanh tiền tệ nhận thấy
thường xuyên có người gửi tiền vào và người rút tiền ra, song tất cả người gửi

Website: Email : Tel : 0918.775.368
tiền không rút tiền cùng một lúc nên đã tạo ra số dư thường xuyên. Do tính chất
vô danh của tiền, các nhà kinh doanh tiền tệ có thể sử dụng tạm thời một phần
tiền gửi của khách hàng để cho vay. Hoạt động cho vay tạo nên lợi nhuận lớn

chặt chẽ của pháp luật. Hệ thống các ngân hàng thương mại và các trung gian tài
chính khác tập trung vào nghiệp vụ kinh doanh tiền tệ và chị sự quản lý của
ngân hàng Trung ương.
- Đối với Việt Nam:
Ngân hàng đầu tiên thành lập ở Việt Nam là ngân hàng Đông Dương,
thành lập theo sắc lệnh ngày 25/01/1875 của Tổng thống Pháp. Ngân hàng này
vừa giữ chức năng phát hành vừa giữ chức năng: nhận gửi, cho vay, thanh toán.
Ngân hàng Đông Dương vừa là công cụ phục vụ đắc lực chính sách thuộc địa
của Chính phủ Pháp ở các nứơc Đông Dương, vừa là công cụ bóc lột thậm tệ
nhân dân Đông Dương và làm giàu cho tư bản Pháp.
Đến ngày 6/5/1951, Chính phủ nước Việt Nam dân chủ cộng hoà ra sắc
lệnh số 15/SL thành lập Ngân hàng quốc gia Việt Nam với những nhiệm vụ
chính : Quản lý việc phát hành giấy bạc và tổ chức lưu thông tiền tệ; Quản lý
kho bạc nhà nước; Huy động vốn và cho vay phục vụ sản xuất và lưu thônghàng
hoá; Quản lý hoạt động kim dung bằng biện pháp hành chính; Quản lý ngoại hối
và các khoản giao dịch bằng ngoại tệ và đấu tranh tiền tệ với địch.
Sau năm 1975, nước ta phải đối đầu với hàng loạt các thách thức lớn.
Ngân hàng nhà nước phải in tiền để tài trợ cho nhu cầu chi tiêu cho các doanh
nghiệp, các đơn vị hành chính sự nghiệp. Lượng tiền cung ứng gia tăng trong
điều kiện sản lượng không tăng kịp đã đẩy lạm phát lên cao trong những năm
80. Tình trạng độc quyền trong hệ thống ngân hàng đã góp phần duy trì tình
trạng trì trệ trong các ngân hàng, làm giảm vai trò là trung gian tài cính hoạt
động vì mục tiêu hiệu quả kinh tế.
Đến thời kỳ chuyển đổi từ nền kinh tế kế hoạch hoátập trung sang kinh tế
thị trường có sự quản lya của Nhà nước, hệ thống ngân háng Việt Nam đã có
những đổi mới đáng kể. Mô hình tổ chức của cá sự thay đổi căn bản đố là tách
biệt chức năng quản lýhoạt động tièn tệ, tín dụng với chức năng kinh doanh tiìen
tệ, đa dạng hoá các loại hình ngân hàng, từng bước xoá bỏ độc quyền, chuyển
sang cạnh tranh có sự quản lý của nhà nước. Kể từ đầu những năm 90, hệ thông


Ngân hàng thương mại là cơ sở nhận các khoản ký thác đẻ cho vay hay tài

Website: Email : Tel : 0918.775.368
trợ và đầu tư.
*ở Thổ Nhĩ Kỳ:
Ngân hàng thương mại là hội trách nhiệm hữu hạnthiết lập nhằm mục
đích nhận tiền ký thác và thực hiện các nghiệp vụ hốiđoái, nghiệp vụ công hối
phiếu và những hình thức vay mượn hay tín dụng khác.
b)ở Việt Nam:
Sắc lệnh 018 CT/LDGCQL/SL ngày 20/10/1969 của chính quyền Sài Gòn
cũ định nghĩa: Ngân hàng thương mại là mọi xí nghiệp công hay tư lập kể cả chi
nhánh hay phân cục ngân hàng ngân hàng ngoại quốc mà hoạt động thường
xuyên là thi hành cho chính mình nghiệp vụ tín dụng, chiết khấu, tài chính với
tiền ký thác nhậ của tư nhân, của xí nghiệp hay cơ quan công quyền.
Pháp lệnh ngâng hàng ngày 23/5/1990 của Hội đồng nhà nước Việt Nam
xác định: Ngân hàng thương mại là tổ chức kinh dónh tiền tệ mà hoạt động chủ
yếu và thường xuyên là nhận tiền gửi từ khách hàng với trách nhiệm hoàn trả và
sử dụng số tiền đó để cho vay, thực hiện nghiệp vụ chiết khấu và làm phương
tiện thanh toán.
Điều 20, Luật ngân hàng thương mại: Ngân hàng thương mại là một loại
hình tổ chức tín dụng được thực hiện toàn bộ hoạt động ngân hàng và các hoạt
động khác có liên quan đặc biệt là nhận tiền gửi, cấp tín dụng và cung ứng các
dịch vụ thanh toán.
Mặc dù các khái niệm về ngân hàng thương mại là khác nhau, nhưng nhìn
chung ngân hàng thương mại là một đơn vị kinh tế kinh doanh trên lĩnh vực tiền
tệ với ba nghiệp vụ chính là nhậ gửi, cho vay và cung ứng các dịch vụ thanh
toán.
2.2.Phân loại
Ngân hàng thương mại được phân loại theo nhiều tiêu thức khác nhau:
*Căn cứ theo hình thức sở hữu:

hàng có khả năng tạo phương tiện thanh toán.
Trong điều kiện phát triển thanh toán qua ngân hàng, các khách hàng nhận
thấy nấu họ có được ssó dư trên tài khoản tiền gửi thanh toán, họ có thể chi trả
để có được hàng hoá và các dịch vụ theo yêu cầu. Khi ngân hàng cho vay, số dư
trên tài khoản tiền gửi thanh toán của khách hàng tăng lên, khách hàng có thể

Website: Email : Tel : 0918.775.368
dùng để mua hàng và dịch vụ. Do đó, bằng việc cho vay (hay tạo tín dụng) các
ngân hàng đã tạo ra phương tiện thanh toán.
- Trung gian thanh toán:
Ngân hàng trở thành trung gian thanh toán lớn nhất hiện nay ở hầu hết các
quốc gia. Thay mặt khách hàng, ngân hàng thực hiện thanh toán giá trị hàng hoá
và dịch vụ. Để việc thanh toán nhanh chóng, thuận tiện cà tiết kiệm chi phí,
ngân hàng đưa ra cho khách hàng nhiều hình thức thanh toán như : thanh toán
bằng séc, uỷ nhiệm chi, nhờ thu, các loại thẻ…cung cấp mạng lưới thanh toán
điện tử, kết nối các quỹ và cung cấp tiền giấy khi khách hàng cần. Các ngân
hàng còn thực hiện thnah toán bù trừ với nhau thông qua Ngân hàng Trung ương
hoặc các trung tâm thanh toán. Các trung tâm thanh toán quốc tế cũng được thiết
lập đã làm tăng hiệu quả thanh toán qua ngân hangf.
4. Các hoạt động cơ bản của ngân hàng thương mại
- Huy động vốn:
Do đặc điểm của ngân hàng thương mại là một doanh nghiệp đặc biệt
hoath động kinh doanh bằng tiền của người khác, nên hoạt động huy động vốn
được coi là một trong những hoạt động đầu vào chủ yếu cho việc kinh doanh của
ngân hàng thương mại.
Huy động vốn đóng vai trò quan trọng, ảnh hưởng tới hoạt động của ngân
hàng, do đó các ngân hàng tìm mọi cách để thu hút nguồn tiền nhàn rỗi trong
dân cư và các tổ chức kinh tế. Tiền gửi của khách hàng là nguồn tài nguyê n
quan trọng nhất của ngân hàng thương mại, chiếm tỷ trọng lớn nhất trong tổng
nguồn tiền cuả ngân hàng. Để gia tăng tiền gửi trong môi trường cạnh tranh và

tới sự sụp đổ của ngân hàng. Như vậy, chất lượng hoạt động tín dụng quyết định
đến sự tồn tại và phát triển của các ngân hàng thương mại hiện nay.
II. TÍN DỤNG NGÂN HÀNG
1. Khái niệm và phân loại tín dụng ngân hàng
- Khái niệm
Tín dụng xuất phát từ chữ La Tinh Creditium có nghĩa là tin tưởng, tín
nhiệm.
Theo ngôn ngữ dân gian Việt Nam, tín dụng có nghĩa là sự vay mượn .
Tín dụng là sự chuyển nhượng tạm thời quyền sử dụngmột lượng giá trị,

Website: Email : Tel : 0918.775.368
dưới hình thức hiện vật hay tiền tệ, từ người sở hữu sang người sử dụng, sau đó
hoàn trả lại với một lượng giá trị lớn hơn.
Tín dụng ngân hàng là hình thức tín dụng thể hiện quan hệ giữa các tổ
chức tín dụng với các doanh nghiệp và cá nhân.
Trong mối quan hệ này, tín dụng đóng vai trò trung gian cho nên ngân
hàng vừa là người cho vay, vừa là người đi vay.
Tín dụng ngân hàng được thực hiện dưới hình thức tiền tệ, bao gồm tiện
mặt và bút tệ trong đó bút tệ là chủ yếu. Tín dụng ngân hàng là tín dụng thương
mại có quan hệ chặt chẽ, bổ sung và hỗ trợ cho nhau. Vì đối tượng vay mượn
chủ yếu là tiền tệ, do đó tín dụng ngân hàng là hình thức tín dụng rất linh hoạt
và có nhiều ưu thế nổi bật.
- Phân loại
Có nhiều cách phân loại tín dụng ngân hàng khác nhau tuỳ theo yêu cầu
của khách hàng và mục tiêu quản lý của khách hàng:
+ Căn cứ vào thời hạn tín dụng:
Tín dụng ngắn hạn: Là loại tín dụng có thời hạn dưới một năm, thường
được dùng để cho vay bbổ sung thiếu hụt tạm thời vốn lưu động của các doanh
nghiệp và cho vay phục vụ nhu cầu sinh hoạt cá nhân.
Tín dụng trung hạn: Là tín dụng có thời hạn từ 1 đến 5 năm dùng để cho

Nợ quá hạn có khả năng thu hồi: Các khoản nợ đã quá hạn với thời hạn
ngắn và khách hàng có kế hoạch khắc phục tốt, tài sản đảm bảo có giá trị lớn.
Nợ quá hạn khó đòi: Nợ quá hạn quá lâu, khả năng trả nợ rất kém, tài sản
thế chấp nhỏ hoặc bị giảm giá, khách hàng chây ì…
2. Vai trò của tín dụng ngân hàng
- Vai trò tín dụng ngân hàng đối với ngân hàng:
Hoạt động kinh doanh cơ bản nhất của ngân hàng thương mại là hoạt
động tín dụng. Đây là hoạt động thường xuyên nhất, mang lại lợi nhuận lớ nhất
cho ngân hàng. Nguồn thu từ hoạt động tín dụng luôn chiếm tỷ lệ lớn trong tổng
thu nghiệp vụ của ngân hàng. Nhưng, đây cũng là hoạt động có độ rủi ro cao. Vì
vậy, việc hạn chế rủi ro tín dụng hay nâng cao chất lượng tín dụng đóng vai trò
hêtswcs quan trọng, đảm bảo cho sự tồn tại và phát triển của một ngâ hàng.
Thông qua hoạt động tín dụng, ngân hàng có thể điều hoà vốn vì ngân

Website: Email : Tel : 0918.775.368
hàng không thể chỉ nhận tiền gửi mà không cho vay hay đầu tư. Cũng thông qua
hoạt động tín dụng, ngân hàng hạn chế rủi ro về vốn, rủi ro thanh khoản…Hoạt
động tín dụng giúp ngân hàng mở rộng và củng cố mối quan hệ với khách hàng
lâu năm, tìm kiếm thêm khách hàng mới, mở rộng thêm các loại hình kinh
doanh, dịch vu khác như: bảo lãnh, thanh toán , chuyển tiền, giữ hộ…
Trình độ quản lý, năng lực về nghiệp vụ của cán bộ nhân viên ngân hàng
cũng được nâng lên thông qua hoạt động tín dụng. Hoạt động tín dụng còn góp
phần nâng cao vị thế, uy tín, từ đó nâng cao khả năng cạnh tranh của ngân hàng.
Chính vì tín dụng có vai trò quan trọng đối với ngân hàng, cho nên các
ngân hàng không ngừng mở rộng và hoàn thiện nghiệp vụ tín dụng đảm bảo an
toàn và lợi ích của ngân hàng.
- Vai trò của tín dụng ngân hàng đối với người đi vay:
Trong nền kinh tế thị trường, vốn chủ sở hữu của các doanh nghiệp hầu
như đều nhỏ hơn nhu cầu sử dụng vốn trong hoạt động của doanh nghiệp. Có
nhiều kênh cung cấp vốn, nhưng tín dụng ngân hàng vẫn là kênh cung cấp vốn

sản xuất phát triển, kiểm soát kinh tế, đẩy mạnh nghiên cứu, ứng dụng các tiến
bộ khoa học kỹ thuật, củng cố hạch toán kinh tế của các doanh nghiệp, tổ chức
kinh tế…
Tín dụng ngân hàng còn là đòn bẩy quan trọng để thúc đẩy quá trình hình
thành và mở rộng các quan hệ giao lưu kinh tế, đặc biệt là lĩnh vực đầu tư vốn ra
nước ngoài và kinh doanh xuất nhập khẩu hàng hoá.
III. NỢ QUÁ HẠN
1. Khái niệm
Hoạt động tin dụng là hoạt động quan trọng nhất, chiếm tỷ trọng lớn nhất
trong cơ cấu tài sản của ngân hàng thương mại, và đem lại phần lợi nhuận lớn
nhất cho ngân hàng thương mại. Nhưng đây cũng là hoạt động luôn luôn chứa
đựng nguy cơ rủi ro. Rủi ro tín dụng là loại rủi ro gắn liền với việc không thu
được nọ khi đến hạn. Việc phát sinh nợ quá hạn là điều khó có thể tránh khỏi,
nhưng nếu nợ quá hạn phát sinh quá tỷ lệ cho phép sẽ dẫn đến tình trạng mất
khả năng thanh toán của ngân hàng thương mại. Vậy, thế nào là nợ quá hạn?
Theo quyết định số 324/1998/QĐ-NHNN về việc ban hành quy chế cho
vay vốn của tổ chức tín dụng đối với khách hàng quy điịnh rõ: Nợ quá hạn trong

Website: Email : Tel : 0918.775.368
kinh doanh của ngân hàng là hiện tượng khách hàng không có khả năng trả nợ
đúng hạn mà đã cam kết trả trong khế ước vay trước đây. Nếu không được điều
chỉnh kỳ hạn nợ, hoặc được gia hạn nợ thì số nợ đến hạn phải chuyển sang nợ
quá hạn, và khách hàng phải chịu lãi suất nợ quá hạn đối với số tiền trả chậm.
Cũng có quan điểm cho rằng: Nợ quá hạn trong hoạt động tín dụng là hiện
tượng đến thời hạn thanh toán khoản nợ, người đi vay không có khả năng thực
hiện ngay nghĩa vụ của mình đối với người cho vay.
Như vậy, có thể thấy nợ quá hạn thực chất là một khoản tín dụng được cấp
ra nhưng không thể thu hồi được ddúng theo thoả thuận. Nợ quá hạn được xác
định theo công thức:
2. Phân loại

Nợ quá hạn của các khoản vay ngắn hạn.
Nợ quá hạn của các khoản vay trung dài hạn.
2.6. Căn cứ theo nguyên tệ:
Nợ quá hạn theo VND.
Nợ quá hạn theo ngoại tệ.
2.7. Căn cứ thro nguyên nhân phát sinh
Nợ quá hạn do lỗi người vay : yếu kém về trình độ quản lý, khả năng cạnh
tranh, do người vay cố tình không trả nợ…
Nợ quá hạn do lỗi của người cho vay: thường bao giờ cũng gắn với lỗi
người vay (sự đồng tình, thông đồng).
3. Nguyên nhân phát sinh nợ quá hạn
Nợ quá hạn là vấn đề cấp thiết hiện nay mà các ngân hàng thương mại
đang dồn toàn tâm toàn lực để giả quyết. Để hạn chế tối đa tỷ lệ nợ quá hạnở các
ngân hàng thương mại hiện nay thì cần thiết phải tìm ra nguyên nhân phát sinh
nợ quá hạn để có biện pháp khặc phục. Có rất nhiều nguyên nhân gây ra nợ quá
hạn, song, nhìn chung chúng có thể được xếp vào các loại nguyên nhân chính
sau đây:
3.1. Nguyên nhân khách quan
3.1.1. Nguyên nhân từ phía khách hàng:
Sự tồn tại và phát triển của khách hàng quyết định sự tồn tại và phát triển
của ngân hàng. Hiệu quả và chất lượng của các khoản tín dụng dựa trên sơ sở

Website: Email : Tel : 0918.775.368
phương hướng sản xuất kinh doanh cuả người vayvốn. Hiệu quả kinh tế của
người đi vay ảnh hưởng đến hiệu quả kinh doanh của ngân hàng. Ngân hàng thu
được gốc và kãi tiền cho vay hay không phụ thuộc chủ yếu vào người vay vốn
sử dụng vốn vào sản xuất kinh doanh có hiệu quả hay không. Khách hàng sử
dụng vốn của ngân hàng gặp rui ro điều tất nhiên là ngân hàng chịu hậu quả dây
chuyên.
Khách hàng sử dụng vốn sai mục đích:

khi tạo được lòng tin của ngân hàng thì sử dụng vốn vay vào mục đích khác.
Nếu ngân hàng không phát hiện kịp thời thì đây sẽ là nguyên nhân phát sinh các
khoản nợ khó đòi hay mất vốn.
Ngoài ra, còn có một ssó khách hàng muốn vay vốn ngân hàng nhưng lại
không muốn trả nợ cho ngân hàng, mặc dù có khả năng trả nợ ngân hàng. Đó là
một hành động có chủ ý. Loại nguyên nhân này được xềp vào loại nguyên nhân
rủi ro về tư cách, đạo đức của người vay. Rủi ro đạo dức cũng là một vấn đề do
thông tin không cân xứng tạo ra sau khi cuộc giao dịch diễn ra. Bên cho vay có
thể không biết, tát cả những gì mà họ cần biết về khách hàng để dưa ra quyết
định đúng đắn. Đây là nguyên nhân khá quan trọng gây ra nợ quá hạn và rủi ro
tín dụng cho ngân hàng. Trong những trường hợp này, phần lớn ngân hàng cần
phải có sự can thiệp, giúp đỡ của pháp luật.
3.1.2. Nguyên nhân khác:
Một trong những nguyên nhân khách quan làm phát sinh nợ quá hạn là sự
biến động về kinh tế. Việt nam chuyển đổi từ nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung
sang nền kinh tế thị trường chưa được bao lâu, nên nhiều doanh nghiệp vẫn chưa
thích ứng được với cơ chế thị trường. Điều này dẫn đến tình trạng nhiều doanh
nghiệp làm ăn thua lỗ, phá sản và như vậy tất yếu sẽ gây ra nợ quá hạn đối với
ngân hàng. Quy luật phát triển kinh tế mang tính chất chu kỳ, lúc thịnh vượng
kinh tế phát triển nhanh, doanh nghiệp sẵn có khả năng chi trả. Lúc suy thoái,
sản xuất kinh doanh đình đốn sẽ làm cho mọi hoạt động doanh nghiệp gặp khó
khăn, thậm chí không trả được nợ ngân hàng gây tình trạng nợ quá hạn.
Trong nền kinh tế thị trường hiện nay, quy luật cạnh tranh diễn ra hết sức
quyết liệt. Hàng hoá của nhiều doanh nghiệp Việt nam không đủ sức cạnh tranh
với háng hoá nước ngoài. Bên cạnh đó, những thay đổi thường xuyên về nhu cầu

Website: Email : Tel : 0918.775.368
và thị hiếu của người tiêu dùng làm cho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp
diễn ra hết sức khó khăn, ảnh hưởng đến khả năng trả nợ của doanh nghiệp. Môi
trường pháp lý chưa hoàn chỉnh, cơ chế chính sách cơ chế chính sách thường

sách tín dụng không đầy đủ, đúng đắn và thống nhất, nó sẽ tạo ra định hướng
lệch lạc cho hoạt động tín dụng dẫn đến việc cấp tín dụng không đúng đối
tượng, thiếu hiệu quả, tạo ra kẽ hở cho người vay và các đối tượng khác lợi
dụng, dẫn đến rủi ro tín dụng.
Ngân hàng chưa thực sự chú trọng vào mục tiêu của khoản vay, tính toán
không đầy đủ chính xác, dẫn đến quyết định sai lầm trong cấp tín dụng. Việc
đánh giá vè người vay, khoản vay chưa đúng mức, hoắc quá chủ quan tin tưởng
vào người vay, từ đó coi nhẹ khâu kiểm tra, không kiểm tra toàn diện về tình
hình tài chính, phi tài chính của người vay, quá coi trọng tài sản thế chấp, bảo
lãnh (coi là đảm bảo chắc chắn trong mọi trường hợp rủi ro), từ đó coi nhẹ tính
khả thi và khả năng hoàn vốn của bản thân dự án.
Cán bộ tín dụng ngân hàng chưa được dào tạo đầy đủ, không am hiểu về
khía cạnh kinh tế- kỹ thuật của dự án, của ngành kinh doanh của ngân hàng đầu
tư, không đủ năng lực them định một cách đầy đủ khoa hoạ về dự án đầu tư dẫn
đén xác định sai hiệu quả của dự án, khả năng trả nợ của người vay. Việc không
am hiểu về pháp luật cũng có thể dẫn đén các khoản vay không đảm bảo được
quyền lợi cho ngân hàng khi xảy ra tranh chấp trước pháp luật.
Ngân hàng thiếu thông tin tín dụng hoặc thông tin tín dụng không chính
xác, kịp thời , chưa có phân loại khách hàng , thiếu hệ thống phân tích , đánh
giá khách hàng một cách đầy đủ , khách quan , đúng đắn .Việc thiếu thông tin sẽ
dẫn đến nảy sinh vấn đề sự lựa chọn đối nghịch trước khi xảy ra giao dịch.Chọn
lựa đối nghịch xảy ra khi những người đi vay có nhiều khả năng tạo ra một kết
cục không mong muốn (đối nghịch ) tức là những rủi ro không trả được nợ , họ
lại tích cực tìm vay nhất và do vậy họ có nhiều khả năng được vay nhất. Người
cho vay do sự lựa chọn đối nghịch dẫn đến có thể những người bị từ chối không
cho vay lại là những người trả được nợ, ngược lại những người được vay lại có
phương án liều lĩnh , do vậy họ đã bị thất bại và không trả được nợ .
Một bộ phận cán bộ ngân hàng yếu kém về năng lực , phẩm chất , lợi
dụng vị trí công tác để trục lợi , tham ô, thậm chí làm trái nguyên tắc gây nên nợ


Nợ quá hạn làm giảm khả năng thanh toán:

Website: Email : Tel : 0918.775.368
Các khoản nợ quá hạn phát sinh làm thay đổi khách hàng cũng như nguồn
thanh toán tiền. Hơn nữa tỷ lệ nợ qúa hạn trên tổng dự nợ cao dẫn đến tình trạng
mất khả năng thanh toán của ngân hàng.Nếu khách hàng nắm được dấu hiệu này
sẽ ồ ạt đến rút tiền, và ngân hàng.
Nợ quá hạn làm giảm uy tín của ngân hàng :
Do ngân hàng hoạt động kinh doanh chủ yếu bằng tiền của người khác,
nên tỷ lệ nợ qúa hạn của ngân hàng cao, tức là chất lượng tín dụng của ngân
hàng không cao, có thể ảnh hưởng đến tính thanh toán của ngân hàng. Điều này
sẽ làm cho khách hàng không còn tin tưởng vào hiệu quả hoạt động kinh doanh
của ngân hàng, dẫn tới việc giảm đáng kể các quan hệ giao dịch của ngân hàng.
Nợ quá hạn làm tăng nguy cơ phá sản:
Đây là ảnh hưởng nghiêm trọng nhất của nợ qúa hạn đối với hoạt động
ngân hàng. Nếu nợ qúa hạn ở mức độ cao không sớm được hạn chế sẽ dẫn tới
hàng loạt các ảnh hưởng xấu nêu trên, và sẽ dẫn tới đỉnh điểm là sự phá sản của
ngân hàng.
Nợ quá hạn làm giảm tốc độ chu chuyển vốn:
Trong nền kinh tế hiện đại, hầu hết các hoạt động thanh toán giao dịch của
khách hàng chủ yếu dựa vào vay vốn ngân hàng. Do vậy, tình trạng nợ qúa hạn
dây dưa khó đòi của khách hàng sẽ ảnh hưởng trực tiếp quan hệ của khách hàng
với ngân hàng, làm giảm tốc độ luân chuyển vốn của khách hàng.
Lãi suất nợ qúa hạn quy định bằng 150% mức lãi suất cho vay. Như vậy
nếu một doanh nghiệp phát sinh nợ qúa hạn sẽ làm tăng chi phí hoạt động lên,
Diều đó càng làm tăng gánh nặng trả nợ ngân hàng.
Việc phát sinh nợ quá hạn sẽ làm khách hàng mất uy tín đối với ngân
hàng. Vậy mà, trong hoạt động của minh, khách hàng rất cần có quan hệ với
ngân hàng. Nợ quá hạn phát sinh là vật cả lớn gây ra khó khan cho khách hàng.
Sé không còn có một ngân hàngân hàng nào muốn duy trì quan hệ lâu dài với

xem xét khả năng tài chính của người vay có thể dẫn tới nợ qúa hạn :
Tính khả thi của dự án thấp, sản phẩm làm ra có dấu hiệu bão hoà.
Thu nhập của người vay không ổn định, công việc thay đổi thường xuyên.
Người vay cố tình trì hoãn việc nộp các báo cáo tài chính cho ngân hàng :
bằng việc phân tích các báo cáo tài chính, cán bộ tín dụng có thể tìm ra những

Website: Email : Tel : 0918.775.368
yếu kém của các doanh nghiệp.
Quan hệ với ngân hàng giảm: Khác hàng có thái độ trì hoãn, lưỡng lự khi
đưa các cán bộ tín dung đi thăm cơ sở sản xuất kinh doanh.
Gia tăng bất thường hàng tồn kho, khoản nợ thương mại, khoản phải thu:
Điều này nói lên hàng hoá của doanh nghiệp sản xuất ra tiêu thụ chem. Và phải
khất nợ nhiều. Tình trạng này thường xuất hiện khi sản phẩm của doanh nghiệp
giảm sút về chất lượng, hay không còn thích hợp với thị hiều tiêu dùng gây ứ
đọng hàng hoá làm ảnh hưởng tới hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh
nghiệp.
Hoãn trả lãi vay ngân hàng chậm hơn thoả thuận đã quy định: điều này
nói lên khả năng thanh toán giảm, hay sự chây ì của doanh nghiệp đối với việc
thanh toán cho ngân hàng.
Hoạt động sản xuất kinh doanh có biẻu hiên không lành mạnh mất uy tín
với thị trường, bạn hàng, nhà tài trợ, nợ thuế nợ tiền hàng tăng, giá cổ phiếu
giảm, đối tác tự ý huỷ bỏ hợp đồng kinh doanh, cơ quan báo chí đưa tin về tình
hình không lành mạnh…
Ban lãnh đạo của doanh nghiệp có thay đổi, mất đoàn kết, tạo ra không
khí bất ổn, thiếu tin tưởng trong nội bộ hoặc các đối tac, nhà tài trợ…
Thiên tai địch hoạ xảy ra với mức độ nghiêm trong cũng là một dấu hiệu
cho thấy khách hàng sẽ bị ảnh hưởng lớn trong hoạt động sản xuất kinh doanh
của mình, đòi hỏi có thời gian để phục hồi, thậm chí không thể phục hồi được
nều khách hàngông có sự giúp đỡ từ phía Nhà Nước.
Cơ chế chính sách có thay đổi theo chiều hướng bất lợi.

hàng.
+ Khai thác:
Khai thác là một quá trình làm việc với người vay cho đến khi khoản cho
vay được trả một phần hay toàn bộ mà không dùng các công cụ pháp lý để thu
nợ.
Trong trường hợp khách hàng là người có ý thức trách nhiệm đối với món
nợ, nhưng đang thức sự gặp khó khăn về tài chính thì ngân hàng có thể xem xét
xử lý bằng biện pháp khai thác, nghĩa là người vay tự khắc phục các khó khăn
về tài chính, và hoàn trả món nợ cho ngân hàng càng nhanh càng tốt. Đây là biện

Trích đoạn Những mặt còn tồn tại trong công tác xử lý nợ qúa hạn ở Sở giao dịch MỤC TIÊU, NHIỆM VỤ KINH DOANH VÀ ĐỊNH HƯỚNG XỬ LÝ NỢ QUÁ HẠN CỦA SỞ GIAO DỊCH Tổ chức phân tích nợ qúa hạn theo định kỳ Thực hiện cácbiện pháp xử lý nợ thích hợp
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status