Mô phỏng và đánh giá mạng xe buýt sử dụng cách tiếp cận đa tác tử - Pdf 25

5

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VÀ CHỮ VIẾT TẮT

Chữ viết tắt
Tiếng Anh
Nghĩa Tiếng Việt
GAMA
Gis & Agent based
Modelling Architecture
Mô hình kiến trúc dựa trên tác tử
và thông tin địa lý.
GAML
Gis & Agent based
Modelling Language
Ngôn ngữ mô hình dựa trên tác
tử và thông tin địa lý
GIS
Geographic Information
Systems
Hệ thống thông tin địa lý
MAS
Multi-Agent System
Hệ thống đa tác tử
PEAS
Performance measure,
Environment, Actuators,
Sensors.
Độ đo thực hiện, Môi trƣờng
xung quanh, Bộ tác động, Bộ
cảm nhận.

Hình 3.10. Giao diện chƣơng trình trong chế độ thiết kế 48
Hình 3.11. Giao diện chƣơng trình ở chế độ mô phỏng 49
Hình 3.12. Menu agent 49
Hình 3.13. Species Inspector 49
Hình 3.14. Một lát cắt quan sát tỉ lệ ngƣời đi bộ, đi ô tô, đi xe buýt 50
Hình 3.15. Một lát cắt bảng quan sát trạng thái của ngƣời. 50

8

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN 3
LỜI CẢM ƠN 4
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VÀ CHỮ VIẾT TẮT 5
DANH MỤC CÁC BẢNG 6
DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ 6
MỤC LỤC 8
MỞ ĐẦU 10
CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ TÁC TỬ VÀ HỆ THỐNG ĐA TÁC TỬ 12
1.1. Giới thiệu về tác tử. 12
1.1.1. Định nghĩa tác tử. 12
1.1.2. Tác tử hợp lý 14
1.1.3. Môi trƣờng tác nghiệp. 15
1.1.4. Các kiểu tác tử cơ bản 17
1.1.5. Cơ sở tri thức của tác tử 21
1.2. Tổng quan về hệ thống đa tác tử 21
1.2.1. Khái niệm hệ thống đa tác tử 21
1.2.2. Lợi ích của việc áp dụng hệ thống MAS để mô phỏng giao thông. 23
CHƢƠNG 2: MÔ PHỎNG GIAO THÔNG 25
VÀ NỀN TẢNG MÔ PHỎNG GAMA 25

MỞ ĐẦU
Sự phát triển của hệ thống đƣờng giao thông công cộng đòi hỏi phảiđáp
ứng nhu cầu nâng cao chất lƣợng dịch vụ và kinh tế. Tuy nhiên, do điều kiện về
mặt pháp lý, tài chính, thời gian…nên rất khó, thậm chí là không thể làm các thí
nghiệm trực tiếp để đƣa ra giải pháp phát triển hệ thống giao thông công cộng.
Hơn nữa, với kích thƣớc và sự phức tạp của hệ thống giao thông nên chúng ta
không thể thiết lập mô hình lý thuyết cho hệ thống. Vì vậy, mô phỏng là một
giải pháp để phân tích và lập kế hoạch cho hệ thống giao thông công cộng.
Đã có một loạt các công cụ giao thông từ các nghiên cứu khoa học để ứng
dụng trong đào tạo, lập kế hoạch và mô phỏng. Tuy nhiên các công cụ này
thƣờng tập trung vào vấn đề dự toán nhu cầu, rất ít các mô hình mô phỏng đƣa
ra hành vi của ngƣời tham gia giao thông và hoạt động cụ thể của các phƣơng
tiện. Luận văn này sẽ trình bày một công cụ mô phỏng mạng xe buýt dựa trên
cách tiếp cận đa tác tử gồm những đặc trƣng này và cho phép đánh giá mạng xe
buýt theo không gian và thời gian.
Việc áp dụng cách tiếp cận đa tác tử để mô phỏng giao thông là một cách
tiếp cận linh hoạt để định nghĩa các hành vi tự trị. Không có những ràng buộc
trên mức độ mô hình, tức là một tác tử có thể mô tả một thực thể đơn giản nhƣ là
một tập hợp các thực thể đƣợc liên kết. Ví dụ, trong mô hình mạng xe buýt, tác
tử xe buýt đại diện cho phƣơng tiện, ngƣời lái xe của nó và một tập các hành
khách.
Hơn nữa, hiện nay đã tồn tại một số kỹ thuật và nền tảng mô phỏng hƣớng
tác tử nhƣ NetLogo, Repast, Gama…Luận văn sử dụng Gama làm nền tảng mô
phỏng cho chƣơng trình của mình vì so với NetLogo, Gama là chƣơng trình mã
nguồn mở; so với Repast, Gama hỗ trợ hoàn toàn về mặt soạn thảo.
Luận văn đã sử dụng input làhệ thống các bản đồ dạng shapefile: Bao gồm
bản đồ đƣờng Hà Nội và bản đồ các trạm xe buýt ở Hà Nội. Sau đó dùng phần
mềm Qgis đểvẽ các trạm và tuyến xe buýt số 16. Từ những dữ liệu ban đầu này,
mô phỏng mô tả sử phát triển của một mạng lƣới xe buýt. Hoạt động của mạng
lƣới xe buýt là kết quả từ hành vi của các thực thể và sự tƣơng tác giữa chúng.

Tác tử là một khái niệm tƣơng đối mới và hiện nay đƣợc rất nhiều các nhà
nghiên cứu quan tâm. Dƣới đây luận văn sẽ trình bày một số khái niệm và đặc
điểm của tác tử.
1.1.1. Định nghĩa tác tử.
Có rất nhiều định nghĩa về tác tử đã đƣợc đƣa ra nhƣng cho đến nay vẫn
chƣa có một khái niệm nào đƣợc coi là chung nhất cho tác tử. Luận văn xin nêu
ra một định nghĩa đƣợc đƣa ra bởi Russell S. and Norvig P. nhƣ sau:
“Tác tử là bất cứ cái gì (con người, người máy, software robots, các bộ
ổn nhiệt ,…) có khả năng cảm nhậnmôi trườngxung quanh (environment) nó
thông qua bộcảm nhận (sensors) và hành động phù hợp theo môi trường đó
thông qua bộtác động (actuators)”.
Ví dụ tác tử con ngƣời có mắt, tai, mũi… là bộ cảm nhận và tay, chân,
miệng… là bộ tác động; Tác tử Robot dùng camera, các bộ truy tìm tín hiệu
hồng ngoại là bộ cảm nhận và các loại động cơ (motors) là bộ tác động.Ở đây ta
chỉ xét các tác tử nhân tạo nhƣ robot, phần mềm máy tính…
Kiến trúc của tác tử đƣợc minh họa nhƣ sau:

Hình 1.1. Tác tử tƣơng tác với môi trƣờng xung quanh
thông qua bộ cảm nhận và bộ tác động.
13

Một cách khái quát, một tác tử có thể biểu diễn bằng một hàm tác tử: là
hàm ánh xạ từ lịch sử nhận thức tới các hành động:
f: P*  A
Ta dùng thuật ngữ nhận thức (percept) để chỉ tín hiệu tri giác nhận đƣợc
của tác tử. Mỗi chuỗi nhận thức của tác tử có tính lịch sử và ở mỗi thời điểm
tác tử chọn tác động phụ thuộc vào chuỗi nhận thức có đƣợc tới lúc đó. Dựa trên
chuỗi nhận thức, tác tử chọn ứng xử đƣợc mô tả nhƣ là hàm tác tử (agent
function) và có thể biểu diễn bởi bảng. Bảng là đặc trƣng ngoài của hàm tác tử
còn bên trong là một chƣơng trình. Cần phân biệt hàm tác tử(mô tả toán học) và

những gì nó nhận thức (nhận biết) đƣợc và dựa trên các hành động mà nó có thể
thực hiện. Một hành động đúng (hợp lý) ở đây là hành động giúp cho tác tử đạt
đƣợc thành công cao nhất đối với mục tiêu đặt ra.
1.1.2.1. Đánh giá hiệu quả hoạt động của tác tử hợp lý.
Ta đánh giá hiệu quả hoạt động của tác tử thông qua một độ đo thực hiện:
là tiêu chuẩn để đánh giá mức độ thành công trong hoạt động của một tác tử.
Khi một tác tử đƣợc thả vào một môi trƣờng, nó phải tạo ra một chuỗi tác động
phù hợp với các nhận thức mà nó tiếp nhận. Tất nhiên không có một độ đo
chung cho mọi tác tử. Tuy nhiên ta cần có độ đo khách quan đặt ra cho ngƣời
thiết kế mỗi tác tử.
Ví dụ tiêu chí đánh giá hiệu quả hoạt động của một tác tử máy hút bụi có
thể là: mức độ làm sạch, thời gian hút bụi, mức độ điện năng tiêu tốn, mức độ
tiếng ồn gây ra,…
Cần thiết kế độ đo phù hợp với môi trƣờng muốn có hơn là phù hợp với
tác tử.Lựa chọn độ đo là vấn đề khó…
1.1.2.2. Tính chất của tác tử hợp lý.
Để mô tả rõ hơn về tác tử hợp lý, luận văn sẽ trình bày một số tính chất
của nó.
* Tính hợp lý. Tính hợp lý của tác tử tại mỗi thời điểm đã cho phụ thuộc vào
bốn yếu tố.
 Độ đo thực hiện đã xác định trƣớc.
 Tri thức của tác tử đã có về môi trƣờng.
 Chuỗi nhận thức mà tác tử có tới lúc đó.
 Tác động mà tác tử có thể thực hiện.
Đối với mỗi chuỗi nhận thức có đƣợc, một tác tử hợp lý sẽ chọn tác động
hƣớng tới cực đại độ đo thực hiện dựa trên các thông tin đƣợc cung cấp bởi
chuỗi nhận thức và các tri thức đƣợc sở hữu bởi tác tử đó.
Xét tác tử hút bụi và giả sử:
 Độ đo thực hiện : thƣởng một điểm cho mỗi ô sạch ở mỗi bƣớc và có 100
bƣớc.

động (A)
Các bộ cảm
nhận (S)
Tác tử lái
xe taxi
An toàn,
nhanh, đúng
luật giao
thông, mức độ
hài lòng của
khách hàng,
tối ƣu lợi
nhuận,…
Các con đƣờng
(phố), các
phƣơng tiện khác
cùng tham gia
giao thông,
những ngƣời đi
bộ, các khách
hàng, …
Bánh lái, chân
ga, phanh, đèn
tín hiệu, còi
xe, …
Máy quay,
đồng hồ tốc
độ, GPS, đồng
hồ đo khoảng
cách quãng

câu hỏi, các
xét nghiệm,
các chuẩn
đoán, các điều
trị, các chỉ
dẫn, …
thông tin về
triệu chứng,
các trả lời của
bệnh nhân đối
với các câu
hỏi, …
Tác tử nhặt
đồ vật
Tỷ lệ bao
nhiêu % các
đồ vật đƣợc
đặt vào đúng
các thùng…
Dây chuyền
chuyển động trên
đó có các đồ vật,
các thùng
đựng…
Cánh tay và
bàn tay đƣợc
kết nối…
Máy quay, các
bộ cảm biến
các góc độ

môi trƣờng tĩnh. Cũng với cách chia này, ta còn có khái niệm môi trƣờng bán
động (semi-dynamic) là môi trƣờng mà khi thời gian trôi qua thì nó không thay
đổi, nhƣng hiệu quả hoạt động của tác tử thì thay đổi. Ví dụ: các chƣơng trình
trò chơi có tính giờ.
 Rời rạc hay liên tục?.
Trạng thái, thời gian tác động và nhận thức rời rạc hay liên tục: ví dụ chơi
cờ, lái xe.
 Tác tử đơn hay đa tác tử?.
Một tác tử hoạt động độc lập (không phụ thuộc hay liên hệ với các tác tử
khác) trong một môi trƣờng gọi là tác tử đơn.
Bảng dƣới đây liệt kê một số kiểu môi trƣờng đối với một số tác tử.

Chơi cờ tính giờ
Chơi cờ không tính
giờ
Lái xe taxi
Quan sát đầy
đủ?


Không
Tất định?
Chiến lƣợc
Chiến lƣợc
Không
Phân đoạn?
Không
Không
Không
Tĩnh?

thông tin độc lập với tác tử. Thứ hai là thông tin về ảnh hƣởng của tác động của
tác tử tới môi trƣờng.
Hình 1.4. mô tả kiến trúc của tác tử dựa trên mô hình. Khi xử lý thông tin
ta cần cân nhắc có cài đặt trong mạch logic hay cần đến lý thuyết khoa học đầy
đủ mà nó gọi là mô hình về thế giới thực. Tác tử sử dụng mô hình gọi là tác tử
dựa trên mô hình.

Hình 1.4. Lƣợc đồ mô tả tác tử phản xạ dựa trên mô hình
19

1.1.4.3. Tác tử dựa trên mục đích.
Tri thức về trạng thái hiện thời chƣa chắc đủ để quyết định hành vi. Ví dụ
tại ngã tƣ, quyết định của taxi tùy thuộc vào định đi đâu. Nói cách khác ngoài
trạng thái hiện thời, cần có thêm thông tin đích mô tả tình trạng mong muốn.
Tác tử kết hợp thông tin này với thông tin về kết quả tác động có thể. Tìm kiếm
và lập kế hoạch là lĩnh vực dành cho tìm chuỗi hành động để đạt đƣợc đích của
tác tử.

Hình 1.5. Lƣợc đồ mô tả tác tử dựa trên đích.
1.1.4.4. Tác tử dựa trên lợi ích.
Trong nhiều môi trƣờng, thông tin về các mục tiêu không đủ để đánh giá
hiệu quả của các hành động. Ví dụ: có rất nhiều chuỗi các hành động cho phép
taxi đi đến đích (tức là đạt đến mục tiêu). Nhƣng chuỗi hành động nào nhanh
hơn, an toàn hơn, đáng tin cậy hơn và có chi phí thấp hơn?
Vì vậy cần có sự đánh giá lợi ích đối với tác tử. Hàm lợi ích ánh xạ từ
chuỗi các trạng thái của môi trƣờng tới một giá trị số thực (thể hiện mức lợi ích
đối với tác tử). Chi tiết hóa đầy đủ một hàm lợi íchcho phép quyết định hợp lý
trong haitrƣờng hợp mục đích chƣa đủ để có quyết định hợp lý sau:
1-Các mục đích xung khắc, hàm lợi ích sẽ cân bằng giữa chúng.
2-Có nhiều đích cần đạt mà không cái nào chắc chắn. Hàm lợi ích cho

Một cơ sở tri thức là một tập các mệnh đề đƣợc biểu diễn trong một ngôn
ngữ hình thức, cung cấp tri thức cho một tác tử. Tác tử khai thác cơ sở tri thức
mà nó sở hữu trong quá trình đƣa ra các hành động.
Các tác tử có thể đƣợc xem xét ở mức tri thức: Tác tử biết những gì? Các
mục tiêu của tác tử là gì? Hay mức cài đặt hệ thống: Các cấu trúc dữ liệu trong
cơ sở tri thức? Các giải thuật sử dụng các tri thức này?
Tác tử cần có 4 khả năng chính:
 Thu thập (cập nhật) các tri thức mới.
 Cập nhật việc biểu diễn (bên trong tác tử) đối với môi trƣờng xung quanh.
 Suy diễn ra các thuộc tính ẩn của môi trƣờng xung quanh.
 Suy luận để đƣa ra các hành động hợp lý.
1.2. Tổng quan về hệ thống đa tác tử
Phần trên đã giới thiệu một số đặc điểm chung nhất, tổng quan nhất về các
tác tử. Tuy nhiên do ứng dụng ngày càng phức tạp, khả năng giải quyết vấn đề
của những tác tử riêng lẻ không đáp ứng đƣợc yêu cầu đặt ra hoặc tác tử trở lên
quá phức tạp. Trong trƣờng hợp đó, hệ thống đa tác tử là một giải pháp thích
hợp. Phần này sẽ giới thiệu về hệ thống đa tác tử và lợi ích của việc áp dụng
cách tiếp cận đa tác tử để mô phỏng giao thông.
1.2.1. Khái niệm hệ thống đa tác tử
Một hệ thống đa tác tử, hay gọi tắt là MAS (Multi-Agent System), là một
hệ thống trong đó có sự có mặt của nhiều tác tử trong một môi trƣờng và có sự
tƣơng tác lẫn nhau giữa chúng.
Các tác tử có thể tƣơng tác với nhau theo nhiều cách. Các hành động đƣa
ra của chúng có thể có tính cạnh tranh, xung đột với các tác tử khác. Hoặc chúng
có thể hợp tác, phối hợp hành động để đạt đƣợc mục tiêu hay thậm chí có thể
cùng lên kế hoạch hành động để đạt đƣợc mục tiêu chung nào đó. Các tác tử có
22

khả năng giao tiếp với các tác tử khác bằng cách truyền và nhận các thông điệp
theo một giao thức nào đó. Thậm chí các tác tử có thể nhận biết đƣợc các tác tử

trƣờng (ví dụ nhƣ tổ chức và hiện tƣợng xuất hiện). Mô hình trong luận văn là
mô phỏng mạng xe buýt phụ thuộc chủ yếu vào cách tiếp cận phản ứng. Xe buýt
và hành khách đƣợc xem là các thực thể đơn phát triển trong một hệ thống rộng
23

và phức tạp. Tuy nhiên các thực thể này có khả năng nhận thức, sẽ đƣợc tích
hợp những hành vi đơn giản trong một kiến trúc dựa trên phản ứng.
1.2.2. Lợi ích của việc áp dụng hệ thống MAS để mô phỏng giao thông.
Trong một hệ thống giao thông, hệ thống đƣờng xá, các đèn giao thông,
tín hiệu giao thông đóng vai trò môi trƣờng. Mỗi ngƣời tham gia giao thông
trong đó đóng vai trò một tác tử. Các tác tử này đƣa ra hành động bằng cách di
chuyển theo các cách khác nhau để đạt đƣợc một mục tiêu là đi đến một vị trí
nào đó trong hệ thống đƣờng xá. Mỗi ngƣời tham gia giao thông đều có những
thuộc tính riêng biệt phụ thuộc vào giới tính, tuổi tác, kinh nghiệm, … và do đó
cách di chuyển của họ cũng là không đồng nhất. Ngƣời tham gia giao thông
tƣơng tác với những ngƣời khác trong một phạm vi nào đó. Họ có một số cách
thức truyền thông điệp nhƣ bấm còi, bật sinh nhan để ra hiệu xin đƣờng, …
Chính vì vậy mà việc mô phỏng hệ thống giao thông dựa trên tác tử là một
phƣơng pháp rất thích hợp.
Áp dụng cách tiếp cận đa tác tử để mô phỏng giao thông còn có những lợi
ích sau [4,7,10]:
 Thứ nhất: Là đã tồn tại một số kỹ thuật và nền tảng mô phỏng nhƣ
Netlogo, Gama hoặc Swarm… để mô phỏng nhiều thực thể.
 Thứ hai: Mô hình tác tử là một cách tiếp cận linh hoạt để định nghĩa các
hành vi tự trị. Không có những ràng buộc trên mức độ mô hình, tức là một
tác tử có thể mô tả một thực thể đơn giản nhƣ là một tập hợp các thực thể
đƣợc liên kết. Ví dụ, trong mô hình mạng xe buýt, tác tử xe buýt đại diện
cho phƣơng tiện, ngƣời lái xe của nó và một tập cách hành khách.
 Cuối cùng, hệ thống MAS phản ứng là một công cụ tốt để quan sát và
nghiên cứu các hiện tƣợng xuất hiện, tập trung vào các mô hình tƣơng tác

đƣợc nhờ xây dựng một mô hình tin học. Với bài báo “ Mô phỏng giao thông
trên xa lộ dựa trên những biến rời rạc” vào năm 1955 tại đại học California, Los
Angeles, D.L Gerlough đã trở thành ngƣời đầu tiên khởi xƣớng việc sử dụng
máy tính để mô phỏng giao thông. Từ đó, mô phỏng tin học trở thành một công
cụ đƣợc sử dụng rộng rãi trong phân tích những vấn đề của giao thông vận tải.
Một loạt ứng dụng từ các nghiên cứu đó đã đƣợc áp dụng trong quy hoạch, đào
tạo và trình diễn. Mô phỏng giao thông là một trong những mô phỏng phức tạp,
ba vấn đề chính đặt ra trong một mô phỏng giao thông là: mô hình hóa hành vi
cá nhân của từng phƣơng tiện tham gia giao thông, mô hình hóa sự tƣơng tác
giữa các phƣơng tiện giao thông và sự tin cậy của kết quả mô phỏng.
Con ngƣời có thể hiểu sâu hơn về một hiện tƣợng trong tự nhiên khi
chúng đƣợc mô phỏng. Mô phỏng giúp chúng ta có những cái nhìn khác nhau, ở
những mức độ trừu tƣợng khác nhau về cùng một hiện tƣợng, qua đó chúng ta
có những hiểu biết sâu sắc hơn về hiện tƣợng đƣợc mô phỏng. Chúng ta có thể
sử dụng mô phỏng để đƣa ra các đánh giá, dự đoán về một kế hoạch trƣớc khi
thực hiện, kiểm chứng các dự án đã thực hiện, nghiên cứu các sự vật hiện tƣợng
và đƣợc sử dụng trong đào tạo.
Có nhiều cách tiếp cận trong mô phỏng giao thông dựa trên mức độ chi
tiết trong mô phỏng. Hai cách tiếp cận nổi bật là vĩ mô và vi mô. Cách tiếp cận
vĩ mô tập trung thể hiện dòng chảy giao thông, quan tâm tới vận tốc trung bình
của các phƣơng tiện, lƣu lƣợng và mật độ của các phƣơng tiện trên các tuyến
đƣờng. Ngƣời ta dùng cách tiếp cận này để đƣa ra các dự báo thời gian và địa
điểm xảy ra tắc nghẽn giao thông. Nhƣợc điểm của cách tiếp cận này là không
thể hiện đƣợc sự tƣơng tác giữa các phƣơng tiện tham gia giao thông. Khác với
vĩ mô, vi mô tập trung mô phỏng đặc điểm riêng biệt và sự tƣơng tác giữa các
phƣơng tiện tham gia giao thông. Cách tiếp cận vi mô sử dụng các thuật toán,
các quy tắc để thể hiện sự di chuyển và tƣơng tác của các phƣơng tiện giao
thông nhƣ gia tốc, vận tốc, chuyển làn đƣờng, vƣợt… Điểm khác nhau chính
26


đạp, xe máy đến những phƣơng tiện cỡ lớn nhƣ ô tô, xe tải, xe buýt, hay thậm
chí là các phƣơng tiện thô xơ. Thêm vào đó sự thiếu ý thức chấp hành luật lệ
giao thông của ngƣời lái xe càng làm cho hệ thống giao thông thêm hỗn độn.
Chính vì vậy mà nghiên cứu một hệ thống mô phỏng chi tiết giao thông của
nƣớc ta là rất cần thiết. Đó là nguyên nhân thúc đẩy tôi nghiên cứu một hệ thống
27

mô phỏng giao thông phù hợp với tình hình giao thông ở Việt Nam. Nhƣng
trƣớc khi trình bầy những những nghiên cứu và các kết quả đã đạt đƣợc, tôi xin
đƣợc giới thiệu một số công cụ mô phỏng hệ thống giao thông của các nhà
nghiên cứu trƣớc đây.
2.2.1. Phần mềm mô phỏng giao thông ARCADY, TRANSYT [16].
Đây là 2 phần mềm mô phỏng thiết kế giao thông các nút giao nhau, tối
ƣu hóa tín hiệu giao thông.
ARCADY đƣợc sử dụng để đánh giá sức chứa và sự trì hoãn ở vòng
xuyến. Nó có khả năng để dự báo thực tế tỷ lệ tai nạn giao thông, sức chứa và
việc trì hoãn (cả hàng đợi và mặt hình học) cho hầu hết các kích cỡ khác nhau
của vòng xuyến, sắp đặt từ nhiều nhánh với các cấp độ vòng xuyến đƣợc phân
tách cho tới những vòng xuyến bên trong khu vực ngoại ô.
TRANSYT là một chƣơng trình máy tính quốc tế để thiết kế, mô hình và
nghiên cứu có thứ tự những chỗ giao nhau riêng biệt cho tới cả mạng lƣới phức
tạp. TRANSYT có thể nhanh chóng đánh giá đƣợc sự thực thi của một chỗ giao
nhau riêng biệt cũng tạo ra sự tối ƣu hóa thời gian cố định định lƣợng thời gian
cho tín hiệu giao thông trong bất kỳ mạng lƣới đƣờng bộ mà lƣu lƣợng giao
thông cần biết đến, bao gồm cả tín hiệu ở đƣờng vòng xuyến. Phiên bản mới
nhất (TRANSYT 14) có các tính năng đặc biệt để đánh giá các mối lối bị kiểm
soát cô lập, và mạng lƣới pha trộn tín hiệu và không có tiến hiệu cùng với vai trò
truyền thống của nó. TRANSYT xác định tối ƣu thời gian cố định [16]
2.2.2. Mô phỏng giao thông với VISSIM [16]
Phần mềm VISSIM là phần mềm mô phỏng giao thông ở mức vi mô do

hoạch sơ tán.
 Nghiên cứu hàng không về giao thông trên mặt đất và trên không.
Trên đây, luận văn đã trình bày một số phần mềm mô phỏng hiện nay, đã
chỉ ra những cái mà các phần mềm này đã làm đƣợc. Trƣớc khi đi trình bày chi
tiết về hệ thống mô phỏng giao thông mà tôi đã nghiên cứu và xây dựng, ở phần
tiếp theo luận văn sẽ giới thiệu về nền tảng mô phỏng Gama, là nền tảng để phát
triển ứng dụng trong luận văn.
2.3. Nền tảng mô phỏng Gama [17]
Phần này sẽ cung cấp một cái nhìn tổng quát nhất về nền tảng mô phỏng
Gama. Đây là nền tảng đƣợcdùng để xây dựng chƣơng trình trong luận văn.
2.3.1. Giới thiệu
GAMA (viết tắt của từ Gis & Agentbased Modelling Architecture)là một
nền tảng mô phỏng, nhằm mục đích hỗ trợ các chuyên gia lĩnh vực, các nhàmô
hình và các nhà khoa học máy tính xây dựng những mô hình hoàn chỉnh và môi
trƣờng phát triển đểmô phỏng dựa trên hƣớng tác tử. Nó đang đƣợc phát triển
29

bởi một nhóm các nhà nghiên cứu Pháp và Việt Nam dƣới sự bảo trợ của đơn vị
nghiên cứu quốc tế IRD / UPMC, UMMISCO từ năm 2007.
Theo Patrick Taillandier, Alexis Drogoul, Duc An Vo et al: “GAMA còn là
một nền tảng mô phỏng tích hợp dữ liệu thông tin địa lý, mô hình hƣớng tác tử
và kiểm soát đa qui mô”.
GAMA là một phần mềm mã nguồn mở, phát triển trên nền tảng Eclipse
dựa trên ngôn ngữ Java. Kể từ khi ra đời đến nay, GAMA đã trải qua nhiều
phiên bản GAMA v1.1, GAMA v1.3, GAMA v1.4 và hiện tại GAMA v1.5 cho
nhiều hệ điều hành window 32 bits, window 64 bits, Linux 32 bits, Linux 64
bits, MacOSX 32 bits, MacOSX 64 bits. Mỗi phiên bản của GAMA đều đi kèm
sẵn một số mô hình và hƣớng dẫn cụ thể.
GAMA là công cụ mô phỏng hỗ trợ 2 môi trƣờng chính là môi trƣờng lƣới
(grid) và môi trƣờng thông tin địa lý (GIS).


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status