Tài liệu Xây dựng và áp dụng cách tiếp cận đa chiều về nghèo trẻ em - Pdf 93









2
3

Danh mục bảng .................................................................................................................................... 4
Danh mục hình vẽ ................................................................................................................................ 4
Danh mục các hộp................................................................................................................................ 5
1) Giới thiệu ........................................................................................................................................ 13
2) Tổng quan tài liệu ........................................................................................................................... 15
a) Tại sao lại phải quan tâm đến nghèo trẻ em? ................................................................................ 15
b) Những phương pháp tiếp cận nghèo trẻ em hiện nay ................................................................... 15
c) Nghèo tiền tệ và nghèo đa chiều .................................................................................................... 17
3) Mục đích, định nghĩa và những đặc điểm chính của cách
tiếp cận đa chiều về nghèo trẻ em Việt Nam .................................................................................. 19
4) Nguồn số liệu, khả năng sử dụng và hạn chế ................................................................................ 23
a) MICS 2006 ..................................................................................................................................... 23
b) VHLSS 2006................................................................................................................................... 23
c) Hạn chế .......................................................................................................................................... 24
5) Lựa chọn các lĩnh vực, chỉ số và kết quả đầu ra để đo lường
tình trạng nghèo trẻ em ở Việt Nam ............................................................................................... 25
i) Giáo dục .......................................................................................................................................... 27
ii) Y tế ................................................................................................................................................. 28
iii) Nhà ở ............................................................................................................................................. 29
iv) Nước sạch và vệ sinh .................................................................................................................... 30

Phụ lục 4 Kiểm định Robustnes ......................................................................................................... 99
Phụ lục 5 Xếp hạng các vùng theo các phương pháp đo lường CPI ............................................... 100
Phụ lục 6 Các bảng tự tương quan theo các lĩnh vực trẻ em .......................................................... 101

Bảng i Các lĩnh vực và chỉ số phục vụ đo lường tình hình nghèo trẻ em ở Việt Nam ......................... 8
Bảng 2 Tỷ lệ trẻ em trong tổng dân số ............................................................................................... 14
Bảng 3 Các lĩnh vực và chỉ số được lựa chọn cho
phương pháp tiếp cận nghèo trẻ em theo số liệu VHLSS và MICS ...................................... 26
Bảng 4 Một số Tỷ lệ nghèo trẻ em theo chỉ số dựa trên số liệu MICS .............................................. 41
Bảng 5 Một số Tỷ lệ nghèo trẻ em theo chỉ số dựa trên số liệu VHLSS ............................................ 42
Bảng 6 Kết quả Tỷ lệ nghèo trẻ em .................................................................................................... 58
Bảng 7 Xết hạng các vùng (dựa trên khoảng cách giữa giá trị
của chỉ số và giá trị so sánh 0%), MICS ................................................................................ 64
Bảng 8 Tỷ lệ nghèo trẻ em trong hai lĩnh vực, MICS ........................................................................ 66
Biểu 9 Tỷ lệ nghèo trẻ em trong hai lĩnh vực, VHLSS ........................................................................ 67
Bảng 10 Tỷ lệ nghèo trẻ em tiền tệ và CPR, VHLSS ......................................................................... 68
Bảng 11 Tỷ lệ nghèo trẻ em theo các đặc điểm nhân khẩu học
trên tổng số trẻ thuộc nhóm nhóm đó, VHLSS .................................................................... 70
Bảng 12 Tỷ lệ nghèo trẻ em theo lĩnh vực đối với các nhóm nghèo khác nhau, VHLSS ................... 72
Bảng 13 Phân tích các đặc điểm cá nhân và hộ gia đình của trẻ, MICS và VHLSS .......................... 74
Bảng 14 Điểm phần trăm thay đổi trong nguy cơ rơi vào nghèo của trẻ ............................................ 78
Bảng 15 Định nghĩa một số chỉ số dựa trên bộ số liệu MICS ........................................................... 89
Bảng 16 Định nghĩa một số chỉ số, VHLSS ........................................................................................ 90
Bảng 17 Định nghĩa sử dụng để phân tích độ nhạy một số chỉ số, MICS ......................................... 92
Bảng 18 Các định nghĩa dùng để phân tích độ nhạy một số chỉ số, VHLSS ..................................... 94
Bảng 19 Tự tương quan, MICS ........................................................................................................ 101
Bảng 20 Tự tương quan, VHLSS ..................................................................................................... 102
Biểu 21 Tác động cận biên và sai số chuẩn của hồi quy logistic, VHLSS và MICS ........................ 103

Hình i: Mức độ trùng lặp giữa cách tiếp cận đa chiều (thông qua CPR)

Hình 29 Kiểm định Robustness, MICS ............................................................................................... 99
Hình 30 Kiểm định Robustness, VHLSS ............................................................................................ 99
Hình 31 Xếp hạng các vùng theo các phương pháp đo lường chỉ số khác nhau, MICS ................. 100

Hộp 1 Quá trình tham vấn, các đối tác và các bên liên quan chính ................................................... 18
Hộp 2: Nghèo trẻ em và phương pháp tiếp cận theo năng lực .......................................................... 21
Hộp 3 Quá trình tham vấn để lựa chọn các lĩnh vực và chỉ số nghèo trẻ em .................................... 22
Hộp 4 Các chỉ số về y tế và vấn đề giảm mẫu điều tra ...................................................................... 28
Hộp 5 Giải nghĩa và so sánh các kết quả ........................................................................................... 33
Hộp 6 Số liệu vi mô để tính toán CPR ................................................................................................ 35
Hộp 7 Số liệu vĩ mô cho tính toán CPI ............................................................................................... 37
Hộp 8 Chuẩn hóa các chỉ số để tính toán CPI ................................................................................... 38
Hộp 9 Các chỉ số tính toán cụ thể đối với trẻ so với các chỉ số tính toán ở cấp hộ gia đình .............. 40
Hộp 10 Mô hình hồi quy phân tích nghèo trẻ em, MICS và VHLSS ................................................... 77
6

Trong khuôn khổ Chương trình Hợp tác giữa Chính phủ Việt Nam và UNICEF giai đoạn
2006-2010, Bộ Lao Động, Thương Binh và Xã Hội đã điều phối quá trình xây dựng cách tiếp
cận mới về nghèo trẻ em ở Việt Nam. Những kết quả chính đã đạt được của quá trình này là
tỷ lệ nghèo trẻ em và chỉ số nghèo trẻ em được trình bày trong báo cáo hiện nay.
Báo cáo này do Tiến sỹ Chris de Neubourgh, Tiến sỹ Franciska Gassman và Keetie Roelen
của Trường Quản Trị, Đại Học Maastricht, Hà Lan chuẩn bị. Đây là kết quả của một quá trình
kéo dài nhiều năm, thông qua nhiều cuộc hội thảo tham vấn kỹ thuật và lấy ý kiến đóng góp
của tất cả các Bộ ngành có liên quan trong đó có Bộ Lao Động, Thương Binh và Xã Hội, Bộ
Kế Hoạch và Đầu Tư, Bộ Y tế, Bộ Giáo Dục và Đào Tạo, Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông
thôn, Bộ Tài nguyên và Môi trường và Ủy ban Dân tộc.
Tổng Cục Thống Kê, Viện Khoa học Lao Động và Xã Hội và UNICEF Việt Nam đã có những
hỗ trợ quan trọng về mặt chuyên môn, kỹ thuật trong toàn bộ quá trình này. UNICEF đã hỗ
trợ tài chính cho quá trình, bao gồm hỗ trợ ngân sách thuộc cơ chế Ngân sách Một Kế Hoạch
Chung Liên Hợp Quốc.

hình nghèo cụ thể của bản thân trẻ;
Nếu trẻ em lớn lên trong tình trạng nghèo, nhiều khả năng các em sẽ tiếp tục phải •
chịu cảnh nghèo khi trưởng thành. Nghèo thường vận hành như một vòng tròn luẩn
quẩn, trẻ em rơi vào từ khi mới ra đời và không thoát ra được. Do đó, giảm nghèo
trẻ em tuy là một mục tiêu ngắn hạn nhưng lại giúp giảm tỷ lệ nghèo ở người trưởng
thành trong dài hạn;
Cuối cùng, một định nghĩa và một phương pháp đo lường nghèo trẻ em được chấp •
nhận chung và mang tính khả thi sẽ là một công cụ quan trọng trong cả các lĩnh vực
nghiên cứu học thuật lẫn hoạch định chính sách. Công cụ này không chỉ tạo cơ hội
nghiên cứu sâu sắc tình hình nghèo trẻ em mà còn nâng cao khả năng xây dựng và
quản lý tốt hơn các mục tiêu, chiến lược và chính sách giảm nghèo.
Ngoài ra, các phương pháp truyền thống trong đánh giá tình hình nghèo dựa trên cơ sở mức
thu nhập hoặc chi tiêu của hộ gia đình đã cho thấy nhiều bất cập trong việc đánh giá tình
8

hình nghèo cụ thể ở trẻ em. Ví dụ: những phương pháp này không phản ánh việc phân chia
nguồn thu nhập trong nội bộ hộ gia đình và rất khó để xác định giá trị tiền tệ của một số yếu
tố cấu thành nghèo như trình độ biết đọc biết viết, tuổi thọ hoặc khả năng/mức độ tham gia.
Tóm lại, các phương pháp đo lường dựa trên giá trị tiền tệ mới chỉ phản ánh được một khía
cạnh của nghèo.
Công cụ đo lường nghèo trẻ em dành riêng cho Việt Nam giới thiệu trong báo cáo này đã
được xây dựng trên cơ sở nhìn nhận tầm quan trọng của việc cần có một phương pháp đa
chiều riêng cho Việt Nam để đo lường nghèo trẻ em.

Phương pháp đo lường nghèo trẻ em được đề xuất trong báo cáo này đã được xây dựng
đặc biệt để đo lường và phân tích tình hình nghèo trẻ em ở Việt Nam. Phương pháp này
được xây dựng riêng cho Việt Nam, khoanh vùng cụ thể vào vấn đề trẻ em, tập trung vào kết
quả cụ thể, và xem xét cả các khía cạnh phi tài chính của nghèo có ảnh hưởng quan trọng
đối với trẻ em. Bản chất đa chiều của phương pháp này được thể hiện thông qua việc bao
quát nhiều mặt như giáo dục, y tế, lao động trẻ em, nước và vệ sinh. Sau quá trình tiến hành

Ngoài việc đo lường tình hình nghèo trẻ em thông qua các chỉ số và lĩnh vực theo từng vấn
đề, phương pháp được trình bày trong báo cáo này cũng cung cấp nhiều cách đo lường tình
hình nghèo trẻ em ở mức độ tổng hợp thông qua tính toán Tỷ lệ nghèo trẻ em (CPR) và Chỉ
số nghèo trẻ em (CPI). Tỷ lệ nghèo trẻ em phản ánh số phần trăm trẻ em nghèo trong khi
9

Chỉ số nghèo trẻ em là một chỉ số tổng hợp giúp theo dõi hiệu quả hoạt động của các vùng
về vấn đề nghèo trẻ em một cách chi tiết hơn.

Để vận hành phương pháp đo lường tình hình nghèo trẻ em, chúng tôi sử dụng số liệu từ
Điều tra đánh giá các mục tiêu trẻ em và phụ nữ (MICS) và Khảo sát mức sống hộ gia đình
Việt Nam (VHLSS). Cả hai khảo sát này đều là khảo sát hộ gia đình cung cấp những thông
tin cụ thể về trẻ em cũng như về hộ gia đình đáp ứng một số chỉ số được trình bày trong Bảng
i. Điều tra MICS ở Việt Nam dựa vào các điều tra MICS chuẩn hóa đã được UNICEF hỗ trợ
trên phạm vi toàn cầu bao gồm nhiều câu hỏi tập trung vào các vấn đề giáo dục, y tế, sức
khoẻ sinh sản, HIV/AIDS. Khảo sát VHLSS lại tuân thủ phương pháp Khảo sát đo lường mức
sống (LSMS) của Ngân hàng Thế giới tập trung thu thập những thông tin về thu nhập và chi
tiêu của hộ gia đình cũng như những chỉ số phi tài chính. Các khảo sát hộ gia đình cung cấp
số liệu cụ thể ở mức độ từng cá nhân trẻ em cho phép xác định tất cả các thiếu thốn đối với
từng cá nhân trẻ em, và từ đó có thể thiết lập các bảng số liệu tổng hợp và tổng quan tình
hình nghèo. Hạn chế của việc sử dụng các khảo sát này là số liệu về tình trạng dinh dưỡng
chưa có tại thời điểm viết báo cáo, không phản ánh được những trường hợp trẻ em không
sống trong các hộ gia đình cũng như thực tế là các chỉ số khác nhau cung cấp thông tin về
trẻ em ở các độ tuổi khác nhau.
Các lĩnh vực và chỉ số đo lường được lựa chọn tạo thành cơ sở để tính toán Tỷ lệ nghèo trẻ
em (CPR) và Chỉ số nghèo trẻ em (CPI). CPR là tính theo đầu người phản ánh tỷ lệ trẻ em
được cho là nghèo. Để tính CPR, một trẻ em được xác định là nghèo khi được đo lường là
nghèo trong ít nhất hai trong số bảy lĩnh vực (giáo dục, y tế, nơi ở, nước & vệ sinh, lao động
sớm, vui chơi giải trí, mức độ tham gia và được bảo vệ). Tương tự như vậy, một trẻ sẽ bị
xác định là nghèo trong một lĩnh vực cụ thể nào đó khi không đạt được ít nhất một trong số

Quá trình phân tích tình hình nghèo trẻ em trong báo cáo này chỉ ra một số đặc điểm của cá
nhân trẻ em và các hộ gia đình mà các em sống có ảnh hưởng rất quan trọng đối với nguy
cơ nghèo trẻ em đó. Nhìn chung, trẻ em ở các khu vực nông thôn phải đối mặt với nguy cơ
nghèo cao hơn nhiều so với trẻ em thành thị. Các kết quả ước tính đều thống nhất cho thấy
không có liên hệ lớn giữa giới tính của trẻ và nguy cơ nghèo cũng như giữa số trẻ em và
số người già trong một hộ gia đình với nguy cơ trẻ em nghèo. Tuy nhiên, cả ở nông thôn và
thành thị, trình độ văn hoá/học vấn của chủ hộ có quan hệ tỷ lệ nghịch với nguy cơ trẻ em
nghèo. Trẻ em sống trong những gia đình mà chủ hộ có việc làm có nguy cơ nghèo thấp
hơn. Đặc biệt ở các khu vực nông thôn, nếu chủ hộ có việc làm thì nguy cơ trẻ em nghèo
trong gia đình đó giảm ít nhất 40 điểm phần trăm, dao động tuỳ theo loại hình công việc cụ
thể của người đó. Trẻ em sinh sống ở vùng Đồng bằng sông Hồng có nguy cơ nghèo thấp
nhất so với tất cả các vùng khác. Cụ thể, trẻ em vùng Đồng bằng sông Cửu long và Tây Bắc
có nguy cơ phải đối mặt với nghèo cao hơn đáng kể. Trên thực tế, nguy cơ nghèo đối với
trẻ em ở vùng Đồng bằng sông Cửu long cao hơn trẻ em ở Đồng bằng sông Hồng tới 55
điểm phần trăm. Trẻ em người Kinh/Hoa có nguy cơ nghèo thấp hơn nhiều so với trẻ em là
người các dân tộc thiểu số mặc dù sự khác biệt này xảy ra ở khu vực nông thôn hơn là khu
vực thành thị. Trẻ em sống trong gia đình mà chủ hộ là phụ nữ có nguy cơ nghèo thấp hơn
một chút trong khi trẻ em sống trong các hộ gia đình nghèo về thu nhập-chi tiêu có nguy cơ
nghèo cao hơn.
Bảng ii thể hiện thứ tự các vùng xếp theo mức độ nghèo trẻ em (Chỉ số nghèo trẻ em dựa
trên số liệu MICS) và theo tình hình nghèo về thu nhập-chi tiêu (% hộ gia đình sống dưới
ngưỡng nghèo – dựa trên số liệu VHLSS).

Xếp hạng theo Chỉ số nghèo trẻ
em
(dựa trên số liệu khảo sát MICS)
Xếp hạng theo tỷ lệ hộ nghèo
(dựa trên số liệu khảo sát VHLSS)
Đồng bằng sông Hồng 1 2
Đông Nam bộ 2 1

nhóm trẻ em nghèo khác nhau, có nghĩa là hai phương pháp này sẽ đưa ra những bức tranh
khác nhau về tình hình nghèo trẻ em.



Group AB - 12%
(both CPR and
Mon Poor)
Group C - 59%
(not poor)
Group A - 18%
(only CPR, not
Mon Poor)
Group B - 11%
(not CPR, only
Mon Poor)
12

Do đó nếu công tác hoạch định chính sách và xác định các nhóm mục tiêu chỉ dựa trên kết
quả của một phương pháp đo lường nghèo trẻ em thì có nghĩa là một số lượng lớn trẻ em
khác đã bị “bỏ sót”. Nếu chỉ sử dụng kết quả tính theo phương pháp tiền tệ trong hoạch định
chính sách thì sẽ bỏ sót những trẻ khác không được xác định là nghèo theo phương pháp
này nhưng lại được xác định là nghèo theo phương pháp đa chiều (nhóm A). Mặc dù các hộ
gia đình mà các em sinh sống được xác định là có mức thu nhập cao hơn chuẩn nghèo toàn
quốc nhưng những trẻ em này vẫn thường phải chịu đựng cảnh nghèo về các khía cạnh như
nước sạch và vệ sinh, y tế, vui chơi giải trí, và nơi ở. Tương tự như vậy, nếu chỉ dựa vào kết
quả của phương pháp đo lường đa chiều (phương pháp đo lường nghèo trẻ em) sẽ dẫn đến
tình trạng nhóm trẻ chỉ được xác định là nghèo theo phương pháp tiền tệ (nhóm B) bị bỏ ra
ngoài quá trình hoạch định chính sách. Trẻ em thuộc nhóm này thường là những em sống
trong các hộ gia đình có mức thu nhập dưới mức chuẩn nghèo. Tình huống này có thể được

13

 

Trong hai thập kỷ vừa qua, kinh tế Việt Nam phát triển nhanh chóng và tỷ lệ nghèo giảm đáng
kể. Vì vậy Việt Nam thường được coi là một ví dụ điển hình về những nỗ lực và chính sách
xoá đói giảm nghèo. Chính sách Đổi Mới được đưa ra vào cuối những năm 80 nhằm cải cách
nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung sang kinh tế thị trường mở cửa, thúc đẩy phát triển kinh
tế qua việc mở rộng cơ hội kinh doanh cho các doanh nhân trong và ngoài nước (Glewwe
2004). Những số liệu về nghèo tiền tệ cũng thể hiện kết quả tương tự với tỷ lệ nghèo giảm
từ 58% năm 1993 xuống còn 19,5% năm 2004 (VASS 2006). Tuy nhiên, đây chỉ là những số
liệu tổng hợp và cũng không thể thể hiện hết tình hình thực tế của các nhóm dân cư ở Việt
Nam. Chưa có sự quan tâm đúng mức đến tình trạng của trẻ em và đánh giá xem các biện
pháp xóa đói giảm nghèo đã có tác động như thế nào đến nhóm dân cư đặc biệt này của xã
hội. Ngoài ra, thước đo nghèo chính thức lại chủ yếu tập trung vào phương pháp đo lường
nghèo tiền tệ, phương pháp này có một số hạn chế khi đánh giá tình trạng nghèo trẻ em.
Thực trạng thiếu sự quan tâm đến nghèo trẻ em và nhược điểm của phương pháp tiền tệ đã
đặt ra yêu cầu phải có hướng tiếp cận khác để thấy rõ thực trạng của nghèo trẻ em. Số liệu
về nghèo ở Bảng 1 cho thấy, trên thực tế, số liệu giảm nghèo tiền tệ nói chung từ năm 1993
đến năm 2006 không phản ánh toàn cảnh thực trạng này, đồng thời không phải tất cả các
nhóm xã hội được hưởng lợi như nhau từ việc tăng mức sống.

    
Tỷ lệ dân số sống dưới chuẩn
nghèo*
58.1 37.4 28.9 19.5 16.0
Theo khu vực
 25.1 9.2 6.6 3.6 3.9
 66.4 45.5 35.6 25 20.4
Theo vùng*

nghèo trong xã hội, mặc dù đã bị che khuất bởi tỷ lệ nghèo chung, cũng đặt ra yêu cầu phải
tập trung đặc biệt vào đối tượng trẻ em. Nếu chúng ta muốn tìm hiểu thêm về nhóm dân cư
đặc biệt chiếm một phần tư dân số Việt Nam này (xem Bảng 2), cần phải quan sát kỹ đằng
sau các con số về tỷ lệ nghèo dựa trên thông tin của toàn bộ dân số.

2006
Trẻ dưới 5 tuổi 7.00
Trẻ dưới 16 tuổi 28.05


Báo cáo này trình bày vấn đề khái niệm hoá và áp dụng cách tiếp cận đa chiều trong đo
lường nghèo trẻ em Việt Nam. Mục đích xây dựng phương pháp tiếp cận này là tính toán
được các số liệu về nghèo trẻ em đáng tin cậy và phù hợp với thực tiễn ở Việt Nam; đồng
thời cung cấp một bức tranh toàn cảnh về tình trạng nghèo trẻ em và cuộc sống của trẻ em ở
Việt Nam nhằm cung cấp nhiều thông tin đáng tin cậy hơn cho các chính sách và chiến lược
giảm nghèo. Báo cáo trình bày các bước khác nhau được thực hiện để phát triển phương
pháp tiếp cận này (tổng quan tài liệu, xây dựng khung khái niệm, xác định các lĩnh vực và chỉ
số nghèo), việc áp dụng phương pháp này trên cơ sở các bộ số liệu MICS và VHLSS hiện
có. Báo cáo cũng phân tích các kết quả đầu ra về tỷ lệ nghèo và chỉ số nghèo trẻ em, rút ra
bài học liên quan tới tính khả thi về mặt kỹ thuật và về giá trị gia tăng mà phương pháp này
mang lại, đồng thời phân tích mối liên kết, sự trùng lặp giữa phương pháp tiếp cận nghèo trẻ
em đa chiều và phương pháp tiền tệ.
Cấu trúc của báo cáo như sau: Phần đầu là tổng quan lý thuyết về tầm quan trọng của việc
nghiên cứu tình trạng nghèo trẻ em, các phương pháp tiếp cận hiện nay và sự khác biệt
giữa cách tiếp cận đa chiều và phương pháp tiền tệ. Tiếp theo là mô tả về khung lý thuyết
của phương pháp tiếp cận nghèo trẻ em Việt Nam. Sau đó sẽ là mô tả về số liệu và phương
pháp luận được sử dụng trong nghiên cứu này. Phần tiếp theo sẽ trình bày và phân tích kết
quả nghiên cứu thực nghiệm về các kết quả đầu ra khác nhau, tập trung vào Tỷ lệ nghèo trẻ
em (CPR) và Chỉ số nghèo trẻ em (CPI). Nhóm nghiên cứu sẽ thảo luận về sự trùng lặp về
tình trạng nghèo theo lĩnh vực để nhấn mạnh phương pháp tiếp cận nghèo trẻ em đa chiều.

chính sách. Nó không những cho phép tìm hiểu sâu về tình trạng nghèo trẻ em mà còn tạo
điều kiện xây dựng và quản lý các mục tiêu, chiến lược và chính sách xóa đói giảm nghèo (ví
dụ Ben-Arieh, 2000, Corak, 2006). Tóm lại, có cơ sở vững chắc để minh chứng sự cần thiết
của định nghĩa và phương pháp đo lường nghèo cho đối tượng trẻ em, có tính đến nhu cầu
và điều kiện sống của chúng. Chính từ nhận thức được tầm quan trọng của việc đo lường
nghèo trẻ em Việt Nam, những công cụ đánh giá nghèo riêng của trẻ em Việt Nam đã được
xây dựng.
 
Nghiên cứu tổng quan các phương pháp tiếp cận hiện hành về định nghĩa và phương pháp
đo lường nghèo trẻ em có thể không đầy đủ nhưng cũng cung cấp một cái nhìn tổng quan về
các phương pháp tiếp cận hiện đang được phát triển. Phân tích phương pháp tiếp cận này
tạo cơ sở vững chắc cho việc phát triển phương pháp tiếp cận nghèo trẻ em riêng cho Việt
nam. Các phương pháp này bao gồm phương pháp tiền tệ, phương pháp tiếp cận thiếu thốn
của Bristol, phương pháp tiếp cận thực tiễn của Corak, Chỉ số tình trạng phúc lợi của trẻ em
Liên minh Châu Âu, Chỉ số tình trạng phúc lợi của trẻ em Mỹ, nghiên cứu Những cuộc đời
trẻ thơ và khuôn khổ DEV.
1
Mục này chủ yếu dựa vào Roelen and Gassmann (2008) “Đo lường nghèo và phúc lợi ở trẻ em: Tổng quan”, Báo cáo MGSoG
2008WP001, Maastricht
16

Với phương pháp tiếp cận tiền tệ, trẻ em nghèo được định nghĩa là những trẻ em sống trong
các hộ gia đình có thu nhập thấp
2
. Đây cũng là cách tiếp cận phổ biến nhất được sử dụng
rộng rãi hiện nay (Laderchi, Saith và Stewart 2003). Đây là phương pháp đo lường một
chiều, coi thu nhập là chỉ số duy nhất về tình trạng phúc lợi. Kết quả của phương pháp này là
Tỷ lệ nghèo trẻ em, tính toán số trẻ sống trong các gia đình có thu nhập dưới mức đã được
định trước (Ravallion 2004). Lợi thế của phương pháp này là kết quả rất dễ hiểu. Hơn nữa, có
thể dễ dàng suy ra khoảng cách giàu nghèo và mức nghèo từ thông tin về thu nhập của các

. Trong mỗi nhóm lại
có các lĩnh vực và các chỉ số khác nhau được xác định. Giá trị của các chỉ số tổng hợp so
sánh tình trạng của từng nước trong Liên minh Châu Âu dựa trên chỉ số trung bình và điểm
số z của lĩnh vực (domain z-scores) (Bradshaw et al. 2006). Kết quả cho ra một số liệu đơn
nhất phục vụ hữu ích cho các mục đích thông tin và các phép so sánh tương đối. Tuy nhiên,
số liệu này mang ít tính trực giác và chỉ cho thấy tình hình của một nước so với mức trung
bình chung.
2
Thuật ngữ thu nhập ở đây nói đến các chỉ số tiền tệ bao gồm chi tiêu và tiêu dùng.
3
Bảy lĩnh vực trong phương pháp tiếp cận của Bristol bao gồm thức ăn, nước sạch, công trình vệ sinh, cơ sở chăm sóc sức
khỏe, nơi ở, giáo dục và thông tin (Gordon và các cộng sự 2003a, 2003b).
4
Sáu nguyên tắc trong phương pháp tiếp cận thực tế của Corak bao gồm tránh những phức tạp không cần thiết, sử dụng hạn chế
các chỉ số bổ sung để tính toán thu nhập, gộp các tiêu chuẩn xã hội trong khi thiết lập chuẩn nghèo, thường xuyên cập nhật các
chỉ số, sử dụng cả chuẩn nghèo cố định cũng như biến đổi và xây dựng trợ giúp công cho giảm nghèo (Corak 2005, 2006b).
5
Tám nhóm trong EU CWI bao gồm tình trạng vật chất, nhà cửa, y tế, tình trạng khá giả chủ quan, giáo dục, các mối quan hệ của
trẻ em, sự tham dự của công dân và rủi ro và an toàn (Bradshaw et al. 2006)..
17

Chỉ số tình trạng phúc lợi của trẻ em và thanh niên Mỹ (US CWI) được xây dựng với mục
đích để xem xét sự thay đổi tình trạng phúc lợi ở trẻ em theo thời gian. Việc xây dựng các
chỉ số dựa khái niệm chất lượng cuộc sống, gồm cả các thước đo khách quan và chủ quan
về tình trạng phúc lợi theo bảy lĩnh vực chính
6
. Phần trăm thay đổi từ năm gốc sẽ được tính
trung bình cho toàn bộ các chỉ số trong từng lĩnh vực và sau đó tính trung bình cho toàn bộ
các chỉ số theo từng lĩnh vực để tính ra được một chỉ số tổng hợp (Land et al. 2001). Phương
pháp này đặc biệt có tác dụng trong việc theo dõi tình trạng phúc lợi của trẻ em cho các

7
(Thorbecke 2008,
Hulme và McKay 2008). Ngoài ra, nếu một hộ gia đình có thu nhập đủ mua rổ hàng hóa
không có nghĩa là hộ gia đình đó sẽ sử dụng nguồn thu nhập cho rổ hàng hóa đó (Thorbecke
2008). Tương tự như vậy, thu nhập chủ yếu được tính ở cấp độ hộ gia đình chứ không tính
riêng cho sự phân phối thu nhập trong gia đình (Hulme and McKay 2008). Do đó, phải sử
6
Bảy lĩnh vực chính trong US CWI là khá giả về vật chất, y tế, an toàn, khả năng sản xuất, vị trí xã hội, sự thân mật và và sự đầy
đủ về tình cảm. (Land et al. 2001)
7
Xem xét các thuộc tính như tình trạng biết chữ, biết tính toán, tuổi thọ, sự tham gia xã hội và thông tin.
18

dụng phương pháp quy mô tương đương để tính thu nhập cho mỗi thành viên trong hộ gia
đình, bao gồm cả trẻ em. Cuối cùng, bản thân trẻ em không phải chủ thể kinh tế và do đó
không thể tạo ra thu nhập để duy trì cuộc sống. Do đó các chỉ số tiền tệ không thể phản ánh
chính xác tình trạng nghèo trẻ em(White, Leavy and Masters 2002). Do những hạn chế về
khái niệm cũng như kỹ thuật như vậy nên các hướng tiếp cận nghèo theo hướng đa chiều
đã được phát triển. Amartya Sen là học giả đầu tiên đưa ra một phương pháp tiếp cận từ
nhiều khía cạnh ngoài yếu tố thu nhập đơn thuần để phản ánh tốt hơn tình trạng nghèo (Sen
1976, 1979). Sau đó, lĩnh vực đo lường nghèo đa chiều đã được phát triển rộng rãi, gồm
có phương pháp tiếp cận theo năng lực của Sen, phương pháp tiếp cận theo nhu cầu cơ
bản (Streeten 1981) hay phương pháp loại trừ xã hội (Marlier, Atkinson, Cantillon và Nolan
2007). Các nghiên cứu về nghèo trẻ em gần đây cũng tập trung nhiều hơn vào tính đa chiều
của nghèo (Gordon et al. 2003, Bradshaw et al. 2006). Sự nhận thức rộng rãi về đo lường
nghèo nói chung và những vấn đề đặc trưng đối với đo lường nghèo trẻ em đã dẫn đến sự
phát triển của phương pháp đo lường nghèo đa chiều ở Việt Nam.
Tổng quan tài liệu cho thấy sự cần thiết và nhu cầu phát triển một phương pháp đo lường
nghèo nhằm xác định và nhận diện được trẻ em nghèo, trong khi có tính đến các khía cạnh
về tình trạng phúc lợi của trẻ em. Tổng quan một số phương pháp và nghiên cứu về đo

công chúng. Mặt khác, phương pháp này này cũng được sử dụng trong quá trình thiết kế và
giám sát chính sách. Hai mục đích này đòi hỏi các phương pháp luận khác nhau và cho các
bộ sản phẩm khác nhau (Vandivere and McPhee 2008). Để phục vụ cho mục đích vận động
chính sách thì cần đưa ra số liệu thống kê tổng hợp trực quan và dễ hiểu; trong khi đó để
phục vụ cho công tác phân tích, giám sát và đánh giá chính sách thì lại cần thông tin chi tiết
ở nhiều cấp độ và phân tích khác nhau. Hai mục đích này và hàm ý phương pháp luận sẽ
được trình bày dưới đây, sau đó sẽ xem xét đến việc áp dụng riêng cho Việt Nam.
Nếu cần một phương pháp đo lường phục vụ chủ yếu cho 
thì phương pháp tính trên đầu người để ra một kết quả duy nhất nhằm xác định số trẻ em
nghèo là cách tiếp cận hữu hiệu. Phương pháp này cho kết quả là tỷ lệ phần trăm số trẻ em
nghèo trên tổng số trẻ em, đồng thời nó cũng có thể được nhắc đến là tỷ lệ nghèo tính theo
đầu người. Kết quả thu được là một con số có thể được định nghĩa là Tỷ lệ nghèo trẻ em
(CPR); đồng thời thể hiện rõ quy mô trẻ em nghèo ở Việt Nam. Mô tả tình trạng nghèo và dễ
tổn thương của trẻ em theo cách này rất dễ hiểu cho tất cả mọi người. Hơn nữa, nó có thể
thể hiện những tiến bộ trong việc đạt được mục tiêu giảm Tỷ lệ nghèo trẻ em trên toàn quốc
hoặc ở các vùng.
Một vấn đề nổi bật trong quá trình tiến hành các cuộc họp giữa các bên liên quan và hội thảo
tham vấn là mục tiêu cấp thiết nhất hiện nay của các Chỉ số nghèo trẻ em là phục vụ cho việc
. CPR không chỉ phục vụ cho mục đích vận động chính sách
mà còn có thể cung cấp thông tin cho các nhà hoạch định và thực hiện chính sách theo nhiều
cách khác nhau. Nếu xem xét CPR dưới góc độ một số liệu tổng hợp dựa trên một số chỉ số
về nghèo trẻ em, những số liệu được sử dụng để tính toán số liệu tổng hợp này có thể cung
cấp thông tin chi tiết về các nhóm trẻ em khác nhau. Những thông tin này có thể được sử
dụng để đánh giá đối tượng trẻ em nghèo Việt Nam gồm những ai và ở đâu, cũng như đặc
điểm chính của chúng. Hơn nữa, Chỉ số nghèo trẻ em (CPI) đo lường tình trạng nghèo trẻ
em ở cấp độ vùng có thể bổ sung cho thông tin này. Chỉ số này cho phép xếp hạng các vùng
và các địa phương theo điểm số để phân tích tình hình thực hiện ở các hoạt động liên quan.
Như vậy có thể hướng các chính sách đến công tác giảm tỷ lệ nghèo trẻ em ở cấp vùng. Do
đó việc kết hợp các CPR, CPI và chỉ số khác ở cấp độ nhỏ hơn nhằm cung cấp các thông
tin về phân bổ ngân sách và nguồn lực, mục tiêu chính sách và hoạch định chính sách, hơn

định trong CRC hầu như là trùng nhau và cùng hướng đến những lĩnh vực phát triển của trẻ.
Do đó, chúng bổ sung và củng cố lẫn nhau để xác định tình trạng nghèo trẻ em. Khái niệm
nghèo trẻ em là một khái niệm đa chiều dựa trên các phương pháp đo lường phi tiền tệ và
được điều chỉnh cho phù hợp với điều kiện xã hội và văn hóa Việt Nam. Khái niệm này cũng
được phát triển trên các khái niệm nghèo trẻ em và tình trạng phúc lợi của trẻ, được xác định
cho các phương pháp tiếp cận hiện hành. Như đã nói ở trên, toàn bộ các phương pháp đo
lường nghèo trẻ em hiện nay đều sử dụng CRC và quan điểm về nhu cầu cơ bản làm cơ sở
bắt đầu. Ngoài ra, trọng tâm của các phương pháp này là thực trạng của trẻ em vào một thời
điểm nhất định hơn là năng lực của chúng sẽ được sử dụng cho phúc lợi của chúng trong
tương lai (xem Hộp 2). Trong báo cáo này, trẻ em được xác định là những trẻ từ 16 tuổi trở
xuống được lấy theo định nghĩa chính thức theo Luật Bảo vệ, Chăm sóc và Giáo dục trẻ em
của Việt Nam (Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam 2004).
21

Nghèo trẻ em trong cách tiếp cận đa chiều có thể được định nghĩa như sau: nghèo trẻ em
bao gồm các đối tượng dưới 16 tuổi không được hưởng các quyền quy định trong Công ước
năm 1989 của Liên Hợp Quốc về quyền trẻ em và không được tiếp cận các nhu cầu cơ bản
của con người.

Một lý do chính của việc không sử dụng phương pháp tiếp cận theo năng lực để đo lường tình
trạng nghèo trẻ em đó là trẻ không có quyền phát huy hết năng lực của mình. Chúng phụ thuộc
vào môi trường trực tiếp xung quanh, bao gồm cha mẹ, gia đình và cộng đồng, để chuyển tải
năng lực của mình thành các kết quả tích cực. Do đó, để tìm hiểu thực trạng sinh sống của trẻ,
nên tập trung vào các kết quả cuối cùng (Thorbecke 2008). Hơn nữa, các kết quả cuối cùng dễ
quan sát và đo lường hơn là năng lực của trẻ. Do vậy, nghiên cứu này tập trung vào thực trạng
của trẻ chứ không tập trung vào năng lực hoặc các biện pháp cải thiện cuộc sống của trẻ.

Khái niệm chung về phương pháp tiếp cận nghèo trẻ em ở Việt Nam đã định hướng cho
việc xác định một khung gồm một tập hợp các lĩnh vực và chỉ số thể hiện những khía cạnh
khác nhau của tình trạng nghèo trẻ em Việt Nam. Việc chọn lựa các lĩnh vực dựa trên một số

thông tin đã được tổ chức nhằm thu thập ý kiến phản hồi của các cơ quan có liên quan và thể
hiện được quan điểm của họ trong khái niệm này. Khái niệm nghèo trẻ em tạo khuôn khổ chung
cho phương pháp tiếp cận; trong khi đó, các lĩnh vực và chỉ số về nghèo trẻ em được lựa chọn
để thể hiện vấn đề nghèo trẻ em một cách chi tiết hơn và trực quan hơn, đồng thời cũng hỗ trợ
cho việc đo lường vấn đề này. Nhiều phương pháp và tiêu chí lựa chọn đã được sử dụng để định
hướng cho quá trình phát triển phương pháp tiếp cận nghèo trẻ em ở Việt Nam. Tuy nhiên, quá
trình phát triển khung khái niệm cùng với các lĩnh vực và chỉ số của nó không phải là một quá
trình có diễn biến đều đặn. Để đảm bảo rằng phương pháp đang trong quá trình xây dựng được
hiểu rõ và thống nhất chung, đôi khi cần phải xem xét lại những quyết định được đưa ra vào giai
đoạn đầu của quá trình xây dựng. Nhiều tiêu chí đã được thảo luận và xem xét, trong đó một số
tiêu chí bị loại bỏ ngay từ đầu và một số tiêu chí khác được xem xét lâu hơn. Những ý kiến tán
thành và phản đối việc đưa các lĩnh vực và tiêu chí cụ thể vào nghiên cứu được thảo luận ở các
giai đoạn khác nhau của quá trình xây dựng. Tuy nhiên, khái niệm và danh sách các lĩnh vực và
chỉ số cuối cùng được trình bày trong báo cáo này có thể được coi là đại diện cho vấn đề nghèo
trẻ em ở Việt Nam, đã được các cơ quan có liên quan chấp nhận và có thể coi như là một kết
quả của quá trình tham vấn rộng rãi.
Liên quan tới quá trình chọn lựa các chỉ số, một số các tiêu chí đã được đặt ra nhằm đảm
bảo rằng các chỉ số phù hợp với khái niệm chung và có thể tính toán được. Các chỉ số ban
đầu được xác định là có thể phản ánh tình trạng nghèo trẻ em Việt nam sẽ được đánh giá
theo các tiêu chí này nhằm rút ra một danh sách rút gọn về các chỉ số cuối cùng. Trước tiên,
các chỉ số tốt nhất phải là đặc thù cho trẻ em. Theo quy ước chung, các phương pháp đo
lường nghèo trẻ em phải xem trẻ em như thành viên của hộ gia đình và đánh giá các vấn đề
liên quan đến nghèo và tình trạng dễ bị tổn thương ở cấp độ hộ gia đình. Tầm quan trọng
của việc phân tích nghèo lấy trẻ em là trung tâm cũng được nhấn mạnh trong phương pháp
tiếp cận các thiếu thốn (Gordon et al. 2003a, 2003b) và mô hình nghèo trẻ em ở Nam Phi
(Noble, Wright và Cluver 2006). Tuy nhiên, không thể tránh được có một số chỉ số chỉ
được thu thập ở cấp độ gia đình như nhà ở, nước sạch và vệ sinh (Gordon và các cộng sự
2003a, 2003b) (xem Hộp 9). Tiêu chí thứ hai là các chỉ số phải dễ quan sát và đo lường được
(Moore, Lippmann và Brown 2004). Điều này có nghĩa là rất khó đưa vào danh sách một số
chỉ số, ví dụ như các chỉ số về chất lượng dịch vụ, trừ khi chúng ta có thế thiết lập tiêu chuẩn

Điều tra đánh giá các mục tiêu trẻ em và phụ nữ (MICS) năm 2006 là một cuộc điều tra hộ gia
đình cung cấp thông tin cụ thể về đứa trẻ và hộ gia đình theo một số các chỉ số trong khung
lý thuyết. MICS Việt nam dựa trên điều tra MICS tiêu chuẩn do UNICEF hỗ trợ kỹ thuật. Cuộc
điều tra lần thứ nhất và thứ hai được thực hiện năm 1995 và 2000, trong khi lần 3 được hoàn
thành năm 2006. Cuộc điều tra gồm hàng loạt các câu hỏi đặc biệt tập trung vào lĩnh vực
giáo dục, y tế, sức khỏe sinh sản, HIV/AIDS và được chia ra thành những bảng hỏi cho hộ
gia đình, phụ nữ trong độ tuổi sinh sản và trẻ em dưới 5 tuổi. Các vùng được xác định là địa
bàn mẫu chính và mẫu được chọn theo 2 bước, dựa trên danh sách các khu vực điều tra từ
Tổng điều tra dân số (TCTK, 2007). Mẫu gồm tổng số 8,356 hộ gia đình với 36,573 cá nhân
trong đó có 10,874 trẻ em dưới 16 tuổi.
 
Nguồn dữ liệu thứ hai là Điều tra mức sống hộ gia đình Việt nam (VHLSS) năm 2006.
Chương trình dựa trên cuộc điều tra về mức sống ở Việt nam(VLSS) trước đó nhưng sử
dụng quy mô mẫu lớn hơn và được thực hiện 2 năm 1 lần. VLSS được thực hiện năm 1993
và 1998 và VHLSS được tiến hành từ năm 2002 tới nay cứ cách 2 năm một lần bởi Tổng cục
Thống kê (TCTK), dựa theo phương pháp Khảo sát đo lường mức sống (LSMS) của Ngân
hàng Thế giới. Mẫu điều tra của VHLSS từ năm 2002 đến 2010 được lấy từ mẫu gốc là mẫu
ngẫu nhiên của các vùng trong danh sách từ Tổng điều tra dân số năm 1999. Do đó các mẫu
từ danh sách này có thể được sử dụng cho nhiều cuộc điều tra khác nhau hoặc cho các bảng
8
Phần này chủ yếu dựa trên nghiên cứu của Roelen and Gassmann (2007) 
, MGSoG Working Paper
2008WP005, Maastricht
24

luân phiên trong VHLSS. VHLSS năm 2006 gồm 9.189 hộ với 39.071 cá nhân trong đó có
10.696 trẻ em dưới 16 tuổi.
 
Các phương pháp điều tra hộ gia đình như MICS và VHLSS cung cấp các dữ liệu vi mô với
điều kiện là có số liệu ở cấp độ từng trẻ. Điều này cho phép chúng ta tra cứu nguồn gốc của

nghèo trẻ em để so sánh theo vùng địa lý ở Việt Nam.
9
Ví dụ, các câu hỏi về giáo dục lại không hỏi trẻ từ 5 tuổi trở lên trong khi đó, các câu hỏi về dinh dưỡng lại chỉ hỏi trẻ dưới 5 tuổi.
Vì thế, tổng số các chỉ tiêu có thể quan sát được phụ thuộc vào tuổi của trẻ và số câu hỏi áp dụng cho những trẻ ở độ tuổi đó. Số
câu hỏi khác nhau đối với các nhóm tuổi khác nhau, điều này khiến cho việc phân tích và so sánh tình trạng nghèo trẻ em trở nên
phức tạp..
25

 

Như đã thảo luận trong Mục 3 và Hộp 3, việc kết hợp các phương pháp giả định, ý kiến
chuyên gia và nhất trí chung đã đưa ra một danh sách tổng hợp các lĩnh vực và chỉ số trên
cơ sở khung khái niệm, trong đó một số sẽ không đủ tính khả thi để đưa vào trong mô hình
cuối cùng vì nhiều lý do. Các lĩnh vực nghiên cứu ban đầu bao gồm thu nhập, giáo dục, y tế,
dinh dưỡng, giao thông, thông tin liên lạc, tình trạng phúc lợi chủ quan, an toàn, nhà ở, nước
sạch và vệ sinh, thừa nhận xã hội và bảo trợ xã hội. Thu nhập được bỏ ra khỏi danh sách do
đây được coi là một bước để đạt được kết quả cuối cùng hơn là một kết quả cuối cùng theo
đúng nghĩa; và cũng không phù hợp với mục đích đã được xác định từ đầu và khái niệm của
phương pháp này. Các vấn đề thông tin liên lạc, an toàn và giao thông không được coi là
những lĩnh vực phản ánh chính xác tình trạng nghèo trẻ em ở Việt Nam và không phù hợp
với điều kiện của Việt Nam. Các lĩnh vực liên quan đến tình trạng phúc lợi chủ quan và dinh
dưỡng bị loại bỏ do thiếu dữ liệu.
Các lĩnh vực và chỉ số về phương pháp tiếp cận nghèo trẻ em ở Việt nam được trình bày ở
Bảng 3
10
. Lưu ý rằng tất cả các chỉ số được thể hiện bằng giá trị tiêu cực thể hiện tỷ lệ trẻ
không đáp ứng một giá trị giới hạn cụ thể được coi là Tỷ lệ nghèo trẻ em theo chỉ số hoặc Tỷ
lệ nghèo trẻ em theo lĩnh vực. Hơn nữa, các định nghĩa về chỉ số có thể khác nhau khi dựa
trên bộ số liệu MICS hoặc VHLSS do loại câu hỏi và cấu trúc của từng câu hỏi trong phiếu
điều tra. Tiếp theo bảng dưới đây là phần thảo luận chi tiết về việc lựa chọn chỉ số trong từng


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status