Tài liệu XÂY DỰNG VÀ CỦNG CỐ KHỐI ĐOÀN KẾT CÁC DÂN TỘC Ở TÂY NGUYÊN (1986 - 2006) - Pdf 87


1
VNH3.TB2.188
XÂY DỰNG VÀ CỦNG CỐ KHỐI ĐOÀN KẾT
CÁC DÂN TỘC Ở TÂY NGUYÊN TRONG THỜI KỲ
ĐỔI MỚI (1986 - 2006) - KẾT QUẢ VÀ KINH NGHIỆM

PGS.TS. Trương Minh Dục

1. Chính sách của Đảng và Nhà nước nhằm phát triển kinh tế - xã hội, xây dựng
khối đoàn kết dân tộc ở Tây Nguyên trong thời kỳ đổi mới (1986 - 2006)
Trong quá trình lãnh đạo công cuộc đổi mới, Đảng ta đã có nhiều chủ trương hướng
tới mục tiêu thực hiện chính sách dân tộc và đặt công tác dân tộc trong mối quan hệ gắn bó
với chiến lược ổn định và phát triển kinh tế - xã hội của cả nước. Chính sách dân tộc của
Đảng đối với các dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên được đặt trong bối cảnh chung của quá
trình thực hiện chính sách dân tộc trong cả nước.
Chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước nhằm củng cố, xây dựng khối đoàn
kết các DTTS nói chung, Tây Nguyên nói riêng được thể hiện các các điểm cụ thể sau:
Thứ nhất, Đảng và Nhà nước ta luôn khẳng định, Tây Nguyên là địa bàn chiến lược
quan trọng của cả nước về kinh tế, chính trị và an ninh quốc phòng; là địa bàn cư trú lâu đời
của nhiều dân tộc, các dân tộc dù khác nhau về ngôn ngữ, phong tục tập quán, nhưng đều là
“anh em một nhà”. Vì thế, quan điểm của Đảng và Nhà nước ta coi việc phát triển kinh tế -
xã hội, củng cố an ninh quốc phòng miền núi, phát huy bản sắc văn hoá của các dân tộc,
củng cố HTCT ở Tây Nguyên, đào tạo cán bộ, nâng cao dân trí cho đồng bào các DTTS;
nâng cao cảnh giác, chống lại các biểu hiện kỳ thị, hẹp hòi, chia rẽ dân tộc là những nội
dung lớn để xây dựng khối đoàn kết các DTTS.
Thứ hai, Đảng và Nhà nước ta khẳng định, sự giúp đỡ, tương trợ của Đảng, Chính
phủ và đồng bào đa số đối với đồng bào các DTTS nói chung, các DTTS Tây Nguyên nói
riêng là nhất quán và lâu dài, nhằm từng bước đưa miền núi, vùng đồng bào các DTTS tiến
kịp miền xuôi, thực hiện bình đẳng dân tộc trên mọi lĩnh vực. Cùng với sự giúp đỡ của
Đảng, Chính phủ và đồng bào đa số, đồng bào các DTTS phải không ngừng nổ lực phấn đấu

2. Những kết quả đạt được
Trên cơ sở nắm vững các quan điểm, chủ trương chính sách lớn về phát triển kinh tế,
văn hoá, xã hội, giữ vững sự ổn định về chính trị, đảm bảo về an ninh quốc phòng vùng
đồng bào dân tộc thiểu số và căn cứ vào tình hình, đặc điểm cụ thể của địa phương, các
đảng bộ Tây Nguyên đã lãnh đạo xây dựng, tăng cường khối đại đoàn kết dân tộc trên một
số lĩnh vực sau:
2.1. Tập trung hoàn thành công tác định canh định cư (ĐCĐC), ổn định và phát triển
sản xuất, từng bước cải thiện đời sống đồng bào các dân tộc
Cuộc vận động ĐCĐC vùng đồng bào dân tộc nói chung, ở Tây Nguyên nói riêng là
một công tác cách mạng quan trọng để thực hiện thắng lợi chính sách dân tộc của Đảng, xây
dựng và củng cố khối đại đoàn kết các dân tộc.
Quán triệt Nghị quyết 22 của Bộ Chính trị và Quyết định 72 của Hội đồng Bộ trưởng,
đảng bộ các đảng bộ Tây Nguyên đã gắn chặt cuộc vận động ĐCĐC với tổ chức lại sản

3
xuất, thực hiện giao đất giao rừng, phát triển ngành nghề, chăm lo công tác giáo dục y tế,
thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội. Việc đưa đồng bào dân tộc tại chỗ vào các nông, lâm
trường; tổ chức thành các tổ đoàn kết sản xuất được quan tâm chú ý. Ngành lâm nghiệp các
tỉnh thực hiện giao đất khoán rừng cho đồng bào dân tộc đạt kết quả tích cực trong việc
chăm sóc rừng, phủ xanh đất trống đồi trọc, hạn chế tình trạng phá rừng làm rẫy, góp phần
ổn định đời sống đồng bào các dân tộc.
Trong 5 năm (2000-2005), ngân sách Nhà nước đã đầu tư hơn 195 tỷ đồng để thực
hiện các dự án ĐCĐC vùng đồng bào các DTTS Tây Nguyên. Trong đó, nguồn vốn Trung
ương bố trí 42 tỷ đồng phục vụ xây dựng kết cấu hạ tầng thuộc các dự án ĐCĐC, còn lại là
ngân sách của các tỉnh.
Đến năm 2005, toàn vùng Tây Nguyên đã có 160.440 hộ với 913.185 nhân khẩu đã
cơ bản hoàn thành ĐCĐC, chiếm 82,7% số hộ đồng bào dân tộc thiểu số tại chỗ thuộc diện
ĐCĐC; chiếm 71,3% tổng số hộ dân tộc thiểu số tại chỗ. Tỉnh Kon Tum đạt 83% số hộ
đồng bào dân tộc ĐCĐC; Gia Lai đạt 85%; Đắc Lắc đạt 76,8%; Lâm Đồng đã cơ bản hoàn
thành công tác ĐCĐC. Trong đó có 51,5% số hộ đã ĐCĐC vững chắc; sản xuất và đời sống

Chương trình xoá đói giảm nghèo được ngân sách Trung ương đã bố trí đầu tư 350 tỷ
đồng; các tỉnh Tây Nguyên đầu tư từ ngân sách địa phương 210 tỷ đồng; bố trí lồng ghép từ
các chương trình, dự án huy động cộng đồng 120 tỷ. Nguồn vốn tín dụng đã huy động thêm
khoảng 300 tỷ đồng tập trung cho công tác xoá đói giảm nghèo vùng sâu, vùng xa, vùng
DTTS tại chỗ. Hàng năm, Trung ương cân đối từ 40 - 45 tỷ đồng để thực hiện chính sách trợ
giá, trợ cước vận chuyển một số mặt hàng thiết yếu như: giống cây trồng, phân bón, muối
iốt, dầu lửa và thu mua hàng nông sản. Hỗ trợ đời sống trung bình 500.000 đồng/hộ, cho
vay sản xuất trung bình 1 triệu đồng/hộ. Nhờ đó, đã có 1,05 triệu lượt hộ được cấp các mặt
hàng cho không (vải, dầu hoả, thuốc chữa bệnh, sách vở, tiền điện); 853.000 lượt hộ được
hỗ trợ khuyến nông và cấp giống sản xuất .
Thực hiện Quyết định 168/2001/QĐ-TTg ngày 30-10-2001 và Quyết định số
132/2002/QĐ-TTg ngày 15-10-2002 của Thủ tướng Chính phủ, đến nay toàn vùng Tây
Nguyên đã giao được 19.615 ha đất sản xuất cho 43.890 hộ đồng bào DTTS, đạt 51,4% về
diện tích và 52,8% về số hộ; giao 486.000 ha rừng và đất lâm nghiệp cho 26.000 hộ, bình
quân 18,6 ha/hộ, trong đó 60% số hộ là đồng bào DTTS; tạo việc làm mới cho 93.810 lao
động/năm, trong đó 15% là DTTS bằng các nguồn vốn vay từ quỹ hỗ trợ việc làm.
Nhờ đó, tỷ lệ hộ đói nghèo trong đồng bào các DTTS ngày cảng giảm đi. Năm 2001
là 21,11%, năm 2005 còn 8,67% (theo tiêu chí cũ); năm 2005 từ 28,52% (theo tiêu chí mới)
xuống còn 22,85% năm 2006, riêng vùng DTTS từ 58,8% còn 51%. Tỉnh Gia Lai giảm từ
22,4% năm 2001 xuống còn 15,52% năm 2003 ; tỉnh Đắk Lắk năm 2001 số hộ đói nghèo là
94.477 hộ, chiếm tỷ lệ 25,55% số hộ toàn tỉnh, đến cuối năm 2003 đã giảm 40.688 hộ, còn
53.789 hộ, chiếm tỷ lệ 14,6%. Bình quân mỗi năm giảm được 3,65% số hộ đói nghèo .
Giải quyết vấn đề xoá đói, giảm nghèo ở Tây Nguyên không chỉ có ý nghĩa kinh tế xã
hội mà còn là vấn đề chính trị, vấn đề củng cố niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước,
qua đó góp phần tăng cường xây dựng khối đại đoàn kết các dân tộc ngày càng vững mạnh.
Hai là, từ những lợi ích thiết thực được mang lại thông qua các chủ trương, chính
sách của Đảng và Nhà nước, hầu hết đồng bào các DTTS có xu hướng vươn lên hoà nhập
vào sự phát triển chung, góp phần to lớn vào việc xây dựng khối đại đoàn kết các dân tộc.

Công tác ĐCĐC, giải quyết đất sản xuất, đất ở, giao khoán rừng và đất lâm nghiệp đã

văn hóa của quần chúng. Nhiều đội văn nghệ, đội cồng chiêng của làng xã đã tham dự các
hội diễn văn nghệ, hội diễn cồng chiêng ở huyện, tỉnh và được cử đi tham gia các lễ hội do
Trung ương tổ chức ở thành phố Đà Lạt, thành phố Hồ Chí Minh đã mở rộng giao lưu và
tăng cường tình đoàn kết giữa các dân tộc.
Các hoạt động văn hóa, thông tin, phát thanh, truyền hình, báo chí được tăng cường đã
góp phần quan trọng đưa đường lối, chủ trương chính sách của Đảng và nhà nước đến với
nhân dân, đặc biệt là vùng đồng bào dân tộc, vùng sâu vùng xa, vùng căn cứ kháng chiến.
Về vấn đề bảo tồn, phát huy văn hoá truyền thống các DTTS. Thực hiện Nghị quyết
10 - NQ/TƯ ngày 18 - 1 - 2002 của Bộ Chính trị “Về phát triển kinh tế-xã hội và bảo đảm
quốc phòng, an ninh vùng Tây nguyên thời kỳ 2001 - 2010”; Quyết định số 168/2001/QĐ -
TTg ngày 30-10-2001 của Thủ tướng Chính phủ “Về định hướng dài hạn 5 năm 2001 - 2005
và những giải pháp nâng cao đời sống cho đồng bào các DTTS”, Chính phủ đã đầu tư 21 tỷ

6
đồng cho dự án cấp quốc gia về “Sưu tầm và nghiên cứu sử thi Tây Nguyên”. Viện văn hoá
thông tin đã xây dựng dự án “Phục hồi, bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hoá cồng
chiêng ở không gian văn hoá cồng chiêng Tây Nguyên”, với tổng kinh phí đến năm 2010 là
400.000 USD. Ngành văn hoá thông tin các tỉnh Tây Nguyên đã thực hiện nhiều hoạt động
phục hồi các lễ hội đua voi, lễ hội cồng chiêng và các lễ hội truyền thống khác của các dân
tộc như: lễ đâm trâu, mừng lúa mới, cúng bến nước, bỏ mả, mừng sức khoẻ và cầu mưa.
Nhiều đề tài nghiên cứu về văn hoá Tây Nguyên cũng đang được triển khai nghiên cứu với
kinh phí đầu tư khá lớn như: “Giữ gìn bản sắc văn hoá các dân tộc Ê Đê, Gia Rai, Ba Na,
Xơ Đăng, Giẻ Triêng, Cơ Ho”, “Nghiên cứu nghi lễ, lễ hội và mẫu hệ dân tộc M’Nông”.
Việc sưu tầm các truyện cổ, trường ca, các làn điệu dân ca, điệu múa và việc chế tác nhạc cụ
dân tộc các DTTS ở Tây Nguyên cũng được triển khai một cách tích cực thu được những
kết quả đáng mừng.
Những nỗ lực và kết quả đạt được tuy còn khiêm tốn song đã thực sự góp phần tăng
cường lòng tự hào của đồng bào các DTTS, tạo cơ sở văn hoá vững chắc cho việc xây dựng
khối đoàn kết các dân tộc ở Tây Nguyên.
- Về vấn đề giáo dục, đào tạo nguồn nhân lực.

tế-xã hội vùng Tây Nguyên”, ngành giáo dục đã nâng cấp trường trung học văn hoá nghệ
thuật Đắk Lắk thành trường cao đẳng văn hoá nghệ thuật; xúc tiến thành lập trường cao
đẳng kinh tế kỹ thuật Gia Lai; đầu tư nâng cấp trường đào tạo nghề thanh niên dân tộc ở
Đắk Lắk; mở rộng 4 trường dạy nghề ở các tỉnh Đắk Lắk, Gia Lai.. Đến nay, 92% số huyện
của các tỉnh đã có trung tâm giáo dục thường xuyên. Trường Đại học Tây Nguyên và Đại
học Đà Lạt đã trở thành những trung tâm đào tạo lớn của khu vực Tây Nguyên. Đến nay Đại
học Tây Nguyên đã đào tạo được 5.589 sinh viên tốt nghiệp ra trường (gồm 2.070 bác sĩ,
2.436 kỹ sư nông lâm, 833 cử nhân sư phạm, 250 cử nhân kinh tế), trong số đó có 688 sinh
viên người DTTS, chiếm 12%. Số sinh viên DTTS này đã bố trí công tác đạt 98%. Hàng
năm các tỉnh đều thực hiện chính sách cử tuyển đối với con em các DTTS. Chỉ tính riêng ở
tỉnh Đắk Lắk, năm học 2003-2004 đã cử tuyển được 2.861 em vào học các trường đại học,
cao đẳng, trung học chuyên nghiệp. Trong đó, các trường đại học, cao đẳng: 230 em; đại
học dự bị Nha Trang: 75 em; đại học Tây Nguyên: 725 em; cao đẳng sư phạm Đắk Lắk: 127
em; trường Quân sự địa phương: 94 em; trường Văn hoá III (Bộ Công an): 241 em; trường
công nhân kỹ thuật cơ điện: 145 em; trường trung học Y tế: 71 em .
Đó là những thành tựu quan trọng đã, đang góp phần đáng kể vào sự phát triển kinh
tếú - xã hội nói chung, xây dựng khối đoàn kết các dân tộc ở Tây Nguyên nói riêng.
- Về vấn đề y tế, chăm sóc sức khoẻ cho đồng bào các DTTS.
Sự nghiệp phát triển y tế, chăm sóc sức khoẻ cho đồng bào các DTTS có nhiều tiến
bộ. Đến nay, các tỉnh Tây Nguyên cơ bản đã xoá xã trắng về y tế trong vùng DTTS, với
70% số xã có bác sĩ, 11.000 cán bộ y tế phục vụ các xã vùng 3; điều trị và phòng chống có
hiệu quả một số bệnh xã hội, bệnh phong, bướu cổ. Bệnh sốt rét giảm 80%, bệnh bướu cổ
giảm 92% so với 5 năm trước. Việc tiêm chủng mở rộng các bệnh nguy hiểm ở trẻ em đã
được ngành y tế tổ chức đến tận, buôn, làng, xã xa xôi hẻo lánh. Số trẻ em có nguy cơ mắc
bệnh giảm 80%. Trong 5 năm (2000-2004) đã cấp không thu tiền thuốc chữa bệnh cho các
đối tượng chính sách, hộ đồng bào các DTTS là 7,84 tỷ đồng; 1.187.000 đồng bào các
DTTS ở nông thôn được sử dụng nước sạch, chiếm 31,5% dân số nông thôn.
Tỉnh Đắk Lắk, tính đến hết năm 2004, 100% số xã có trạm y tế, trong đó 78% số xã
có bác sĩ, tỉ lệ trẻ em suy dinh dưỡng còn 36%, đã cấp 563.576 thẻ khám chữa bệnh miễn
phí cho người nghèo, khám chữa bệnh cho hơn 155.681 lượt người đồng bào các DTTS với


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status