Hà Nội – 2008
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHỆ
LÊ CÔNG ĐÀI
NGHIÊN CỨU HỆ THỐNG GIAO DỊCH
LIÊN NGÂN HÀNG TRONG THANH TOÁN ATM VÀ
MỘT SỐ ĐỀ XUẤT CẢI TIẾN
Ngành: Công nghệ thông tin
Chuyên ngành: Công nghệ phần mềm
Mã số: 60.48.10
LUẬN VĂN THẠC SĨ
NGƢỜI HƢỚNG DẪN KHOA HỌC: TS. TRƢƠNG NINH THUẬN
Đại học Công nghệ - ĐHQG Hà Nội Luận văn Cao học – Lê Công Đài - K12T3
Trang 1 / 73
MỤC LỤC MỞ ĐẦU 4
2.2.6 Bảo mật trong thanh toán ATM 31
2.2.7 Các dịch vụ hiện đại trong hệ thống eBanking 32
CHƢƠNG 3 – MỘT SỐ HẠN CHẾ TRONG THANH TOÁN LIÊN NGÂN
HÀNG VÀ ĐỀ XUẤT HƢỚNG XỬ LÝ 37
3.1 Những hạn chế trong thanh toán ATM liên ngân hàng 37
3.1.1 Phần cứng 37
3.1.2 Phần mềm 40
3.1.3 Mô hình thanh toán ATM hiện tại 40
3.2 Một số đề xuất nhằm khắc phục các hạn chế trên 45
3.2.1 Phần cứng 45
Đại học Công nghệ - ĐHQG Hà Nội Luận văn Cao học – Lê Công Đài - K12T3
Trang 2 / 73
3.2.2 Phần mềm 48
3.2.3 Thay đổi mô hình thanh toán ATM liên ngân hàng 49
3.3 Phân tích hệ thống ứng với mô hình mới đƣợc khuyến cáo 51
3.3.1 Phần cứng 51
3.3.2 Phần mềm 55
3.3.3 Sử dụng mô hình thanh toán mới 59
KẾT LUẬN 69
TÀI LIỆU THAM KHẢO 71
Đại học Công nghệ - ĐHQG Hà Nội Luận văn Cao học – Lê Công Đài - K12T3
Trang 3 / 73
một máy vi tính và có thể hỗ trợ điện thoại hay định vị toàn
cầu)
POS
Điểm bán hàng tự động, thường là nhỏ lẻ (phân biệt với Kiosk
là điểm bán hàng có sử dụng máy tính kết nối trung tâm)
POST
Hệ thống tổng đài bưu điện
RSA
Mật mã với mã khóa công khai ra đời năm 1977 được sử dụng
phổ biến cho thương mại điện tử
UTC
Giờ chuẩn quốc tế xác định theo phương pháp nguyên tử và
được đồng bộ với giờ thiên văn
WB
Tên gọi của Ngân hàng thế giới, một trong hai tổ chức tài
chính lớn nhất thế giới
Đại học Công nghệ - ĐHQG Hà Nội Luận văn Cao học – Lê Công Đài - K12T3
Trang 4 / 73
MỞ ĐẦU
Thế kỷ 20 được coi là thế kỷ của những phát minh quan trọng thúc đẩy xã
hội phát triển. Những năm cuối cùng của thế kỷ chứng kiến một cuộc cách mạng
lớn về khoa học với sự ra đời của máy tính điện tử. Chỉ trong mấy thập kỷ tồn
tại và phát triển, công nghệ điện tử đã có những thành tựu vô cùng to lớn góp
phần vào sự phát triển nhiều mặt của xã hội. Ngày nay, thật khó có thể tưởng
tượng một xã hội phát triển mà không có sự đóng góp của các thiết bị hiện đại
có mặt ngày càng nhiều trong mọi lĩnh vực của cuộc sống. Các thiết bị điện tử
của nó chính là hệ thống các thiết bị đóng vai trò như những giao dịch viên
điện tử – Automatic Teller Machine – viết tắt là ATM. Việc thực hiện các
giao dịch ngân hàng được lập trình sẵn để khách hàng là chủ thẻ có thể dễ
dàng thao tác mà không cần sự trợ giúp của nhân viên ngân hàng và vẫn đạt
được kết quả mong đợi là giao dịch với ngân hàng thành công. Bên cạnh đó,
với mỗi loại thẻ của các ngân hàng khác nhau, sẽ có những giao dịch giống
và khác nhau được thực hiện trên máy tùy thuộc vào từng chiến lược của các
ngân hàng cũng như đối tượng khách hàng mà ngân hàng nhắm tới. Giao
dịch giống nhau phần lớn là các giao dịch truyền thống, ví dụ như rút tiền,
kiểm tra số dư tài khoản, chuyển khoản.
1.1.2 Máy ATM
Việc phát triển hệ thống thanh toán tự động nói chung cũng như chiếc
máy ATM nói riêng cũng có một lịch sử lâu dài giống như sự phát triển của
máy tính bắt đầu từ chiếc bàn tính của người Trung Hoa hay sự phát triển của
Đại học Công nghệ - ĐHQG Hà Nội Luận văn Cao học – Lê Công Đài - K12T3
Trang 6 / 73
chiếc máy gõ chữ đơn giản thành bộ xử lý văn bản – Word Processsor và hiện
nay đã được mềm hóa trong các phần mềm sử dụng trong máy vi tính.
Về mặt lịch sử thì có thể coi chiếc máy rút tiền đầu tiên ra đời từ trước
những năm 39 tại NewYork – Mỹ, với sự suy nghĩ đơn giản ban đầu của
Luther George Simjian là phát minh ra một thiết bị có khả năng đáp ứng nhu
cầu tiền mặt đơn giản, chiếc máy rút tiền đầu tiên của thế giới ra đời nhằm
phục vụ cho khách hàng của ngân hàng City Bank of New York, nhưng 6
tháng sau thì nó bị bỏ đi vì rất ít người dùng. Mãi tận đến 25 năm sau, máy
rút tiền điện tử đầu tiên được hãng in De La Rue thiết kế tại Enfield Town
(gần London) cho ngân hàng Barclays Bank vào ngày 27 tháng 6 năm 1967.
liệu. Ngoài ra còn sử dụng cả mã hóa cho M/Chip và mã hóa vùng
(Zone)
- Mang tính độc quyền của một hay một vài tổ chức toàn cầu nào đó
Nói chung, hệ thống thẻ thanh toán phát triển chủ yếu là thẻ ghi nợ và thẻ
tín dụng (gọi chung là thẻ thanh toán). Thị trường thẻ ghi có (Credit Card)
phát triển chủ yếu ở những nước có hệ thống điện tử phát triển rất mạnh và
áp dụng tương đối thành công chính phủ điện tử như ở Nhật bản. Các nước
còn lại – ngay cả ở Singapo – thị trường này cũng không phát triển.
Đại học Công nghệ - ĐHQG Hà Nội Luận văn Cao học – Lê Công Đài - K12T3
Trang 8 / 73
1.2.2 Hệ thống thanh toán điện tử
Cũng để đáp ứng nhu cầu phục vụ cho thị trường thẻ thông minh, hệ
thống thanh toán điện tử ở các nước phát triển cũng được phát triển mạnh về
chất. Thị trường này phát triển mạnh theo hướng đáp ứng nhu cầu thanh toán
mọi lúc mọi nơi, về phần mềm thì có thể nói đến hệ thống mở với kiến trúc
đa kênh (với sự tham gia của kênh thoại, hệ thống di động và Internet). Một
số các hệ thống điện tử mới được đưa vào sử dụng như Kiosk (máy bán hàng
tự động có kết nối với trung tâm), In – Vehicle Unit (IU – máy trả phí tự động
cho thanh toán phí cầu đường hay các bãi đỗ xe), Car park meter (máy thanh
toán tiền taxi)…
Điểm quan trọng trong một số dịch vụ đáp ứng thẻ thanh toán cho phép
hạn chế tối đa lưu thông tiền lẻ và vé rất bất tiện trong lưu thông và quản lý.
Thống kê năm 2007 ở đơn vị chấp nhận thẻ lớn nhất Singapo cho thấy với
40000 thiết bị đầu cuối phục vụ cho trên 13000 điểm chấp nhận thẻ cho
doanh số trên 11 tỷ SGD (vào khoảng hơn 7 tỷ USD) hằng năm.
1.3 Hệ thống thanh toán ATM ở Việt Nam
được chú ý nhiều trong dân cư.
Thống kê cho thấy, một trong 10 sự kiện nổi bật nhất của ngành ngân
hàng trong năm 2005 chính là sự tăng trưởng vượt trội của thị trường thẻ với
tốc độ tăng 300% so với năm 2004 (tính theo doanh số thanh toán và rút tiền
mặt bằng thẻ) [2]
Năm 2006 đánh dấu bước đầu cho sự phát triển bằng việc xuất hiện nhiều
công ty liên doanh nhảy vào lĩnh vực phát hành thẻ thanh toán. Đáng ghi
nhận hơn nữa là hệ thống thanh toán quốc tế thông qua thẻ VISA và Master
đã được các ngân hàng đáp ứng không chỉ cho khách du lịch nước ngoài mà
còn cho một bộ phận dân cư trong nước có nhu cầu thanh toán quốc tế khi
đời sống của đại bộ phận dân cư đã được nâng lên đáng kể.
Đại học Công nghệ - ĐHQG Hà Nội Luận văn Cao học – Lê Công Đài - K12T3
Trang 10 / 73
Những con số ấn tượng nói trên dự cảm về một tương lai tươi sáng của thị
trường thẻ Việt Nam. Tuy nhiên, chung quanh "đời sống của những chiếc
thẻ" nói riêng và hệ thống thanh toán thông minh nói chung vẫn còn tồn tại
nhiều vấn đề khó có thể giải quyết được trong ngày một ngày hai.
1.4 Một số vấn đề cần giải quyết của hệ thống thanh toán ở Việt Nam
1.4.1 Những hạn chế của hệ thống thanh toán
Thực tế là số lượng máy ATM quá ít và tập trung chủ yếu ở các thành phố
lớn. Thật vậy, tương ứng với 2,1 triệu thẻ đã được các ngân hàng Việt Nam
phát hành mới chỉ có 1.200 máy ATM được lắp đặt trên toàn quốc (tính tới
thời điểm cuối năm 2005). Như vậy, người ta tính ra rằng trung bình có tới
1.750 người chen chúc nhau sử dụng một chiếc máy ATM, tuy mật độ trung
bình là một con số hơi thiếu trọng lượng khi đánh giá dịch vụ cao cấp nhưng
nó cũng cho thấy một tỉ lệ quá nhỏ bé dân số sử dụng hệ thống thanh toán
phục vụ 24/24 là mang tính khả thi (hiện nay việc ứng dụng cho chi trả lương
đang được tiến hành thử nghiệm và sẽ sớm được mở rộng trên toàn quốc).
Hiện nay, việc áp dụng thanh toán thống nhất giữa các Ngân hàng thương
mại đang gặp trở ngại lớn. Mặc dù các hệ thống thanh toán đã được triển khai
từ lâu và được áp dụng thành công ở một số các ngân hàng lớn nhưng việc
đưa ra một tiêu chuẩn chung cho các hệ thống như vậy cũng như việc kết nối
các hệ thống thanh toán riêng rẽ của các ngân hàng với nhau vẫn đang gặp
nhiều khó khăn rất lớn không chỉ về công nghệ mà còn ở nhiều khía cạnh
khác. Với sự quyết tâm rất lớn từ phía chính phủ, sự ra đời của một hệ thống
thanh toán tự động tập trung đã được thể hiện bằng sự ra đời của BankNet.
Như vậy, việc thanh toán liên ngân hàng bước đầu được giải quyết về mặt
nguyên tắc, theo đó mọi thanh toán liên ngân hàng qua hệ thống thanh toán
tự động được thông qua BankNet sau đó được hạch toán tại các ngân hàng.
Việc điều chuyển số liệu được thực hiện đồng bộ hàng giờ để đảm bảo tránh
tối đa mọi rủi ro.
Mặc dù đã có những cải thiện đáng kể nhưng nhiều chuyên gia trong nước
Đại học Công nghệ - ĐHQG Hà Nội Luận văn Cao học – Lê Công Đài - K12T3
Trang 12 / 73
và quốc tế vẫn đưa ra nhận xét rằng hiện nay các ngân hàng mới chỉ chạy
theo bề nổi, tức số lượng thẻ phát hành ra, mà chưa chú ý tới chiều sâu, tức là
sức sống của chiếc thẻ sau khi được đưa đến tay người sử dụng và cả những
dịch vụ hậu bán hàng đi kèm sau đó.
1.4.2 Vấn đề bảo mật thẻ ATM
Hiện nay, một loạt các quốc gia và vùng lãnh thổ trong khu vực như
Malaysia, Đài Loan, Nhật Bản, Singapo, Trung Quốc đang tích cực chuyển
sang loại thẻ thông minh theo chuẩn EMV có độ bảo an cao hơn, những kẻ
thanh toán ATM đã thực sự nảy sinh như một vấn đề lớn khi số giao dịch
tăng nhanh chóng đồng thời phạm vi sử dụng hệ thống cũng được mở rộng
trên toàn quốc. Việc sử dụng hệ thống 2 lớp không đảm bảo chạy cho một hệ
thống lớn. Đặc biệt là khi có yêu cầu đáp ứng thanh toán liên ngân hàng trên
máy ATM thì số lượng giao dịch tăng lên rất nhanh. Do đó, vấn đề xử lý thời
gian thực – bao gồm cả chấp nhận và từ chối dịch vụ trong truờng hợp không
thể đáp ứng cũng là một giải pháp cần được nghiên cứu để áp dụng.
Đại học Công nghệ - ĐHQG Hà Nội Luận văn Cao học – Lê Công Đài - K12T3
Trang 14 / 73
1.5 Về đề tài luận văn
Trong đề tài nghiên cứu này, với sự hạn chế trong khuôn khổ đề tài cũng như
sự mới mẻ về mặt kỹ thuật phần cứng của hệ thống ATM, chúng tôi chỉ trình bày
sơ lược hệ thống thanh toán qua thẻ ATM đang áp dụng tại Ngân hàng công
thương hiện nay. Phần chính của đề tài tập trung vào phân tích các yếu tố kỹ
thuật liên quan chủ yếu tới phần mềm như các chuẩn, các giao thức áp dụng và
mô hình giao dịch thẻ liên ngân hàng. Từ những nghiên cứu đó đề xuất xây dựng
một hệ thống mới với mô hình thanh toán và các giải pháp kỹ thuật tương ứng
có khả năng đáp ứng yêu cầu thanh toán thời gian thực khi mở rộng thanh toán
thẻ liên ngân hàng.
Trên thực tế, khi áp dụng mở rộng thanh toán, ngay trong phạm vi một ngân
hàng cũng đã xảy ra tình trạng hệ thống quá tải và khi thử nghiệm thanh toán
liên ngân hàng có xuất hiện sự cố do phi tương thích. Do đó, vấn đề chính cần
giải quyết ở đây là đưa ra các khuyến cáo kỹ thuật nhằm không chỉ đáp ứng
được khả năng thanh toán thống nhất giữa các ngân hàng theo một chuẩn chung
mà còn đảm bảo cho khả năng thanh toán đáp ứng thời gian thực của cả hệ
thống trước sự mở rộng thanh toán cho nhiều ngân hàng trên toàn quốc. Vấn đề
Trang 16 / 73
gần như xóa sổ các phương thức chuyển tiền truyền thống khác nhờ vào một
số tính chất đặc biệt của nghiệp vụ ngân hàng như:
1. Không thu phí nộp tiền vào tài khoản
2. Phí rút tiền rất thấp hoặc không có (Một số ngân hàng không tính phí
cho 1 đến 2 lần rút đầu tiên trong ngày)
3. Quản lý tài khoản khách hàng như một tài khoản tiết kiệm
4. Độ tin cậy cao do sự quản lý khách hàng và tài khoản thống nhất trong
mỗi ngân hàng
5. Cho phép sử dụng tài khoản theo nhóm khách hàng (Rất thích hợp với
các dịch vụ thanh toán học phí, điện nước, điện thoại cho hộ gia đình
hay cơ quan)
6. Giao dịch tức thời trên hệ thống tập trung với mạng thanh toán rộng
khắp ở các siêu thị, khu công nghiệp, các trung tâm mua sắm và các
địa điểm công cộng có nhiều người qua lại
7. Áp dụng được với nhiều hình thức thanh toán như chuyển khoản thông
thường
8. Khả năng mở rộng các dịch vụ cũng như đáp ứng yêu cầu thanh toán
thẻ quốc tế cho khách du lịch.
Những yếu tố vượt trội này khiến cho thanh toán ATM trong nền kinh tế
tiền mặt trở thành một kênh phân phối tiền vô cùng hiệu quả với ngân hàng
và là một kênh sử dụng vô cùng thuận tiện với khách hàng. Do đó, việc phát
triển hệ thống trở nên thân thiện với người sử dụng đặc biệt là việc đáp ứng
thời gian thực nhằm giải quyết tình trạng xếp hàng chờ đợi vốn vẫn diễn ra từ
lâu tại các ngân hàng trong nước. Có thể thấy không phải ngẫu nhiên mà hiện
nay mọi ngân hàng đều tham gia phương thức thanh toán này dù trực tiếp hay
liên kết với các ngân hàng lớn.
Đại học Công nghệ - ĐHQG Hà Nội Luận văn Cao học – Lê Công Đài - K12T3
nhiều đầu vào, cảnh giới trạng thái làm việc của một số động cơ.
Đại học Công nghệ - ĐHQG Hà Nội Luận văn Cao học – Lê Công Đài - K12T3
Trang 18 / 73
4. Tính tiền định: Dự đoán trước được thời gian phản ứng tiêu biểu, thời
gian phản ứng chậm nhất cũng như trình tự đưa ra các phản ứng. Nếu
một bộ điều khiển phải xử lý đồng thời nhiều nhiệm vụ, ta phải tham
gia quyết định được về trình tự thực hiện các công việc và đánh giá
được thời gian xử lý mỗi công việc. Như vậy người sử dụng mới có cơ
sở để đánh giá về khả năng đáp ứng tính thời gian thực của hệ thống.
Trên thực tế, ngoài các chuẩn liên quan đến các hệ thống đòi hỏi sự đáp
ứng kỹ thuật khắt khe thì không có một khái niệm thời gian thực cụ thể cho
các dịch vụ điện tử. Với các dịch vụ, đáp ứng thời gian là siêu thực theo
nghĩa „đáp ứng càng nhanh càng tốt !‟. Tất nhiên, trong trường hợp bất khả
thi (như hệ thống quá tải hoặc Offline chẳng hạn) thì dịch vụ phải có khả
năng đáp ứng với những ràng buộc thời gian chặt chẽ không loại trừ việc từ
chối dịch vụ và yêu cầu hỗ trợ hoặc yêu cầu khách hàng sử dụng dịch vụ sau
hay chuyển sang địa điểm khác.
Các hệ thống CNTT hoàn toàn có thể xảy ra tình trạng nghẽn mạng trên
diện rộng đặc biệt là Internet, điển hình là khi đường cáp quang cho Châu Á
bị đứt cuối năm 2006, toàn bộ lưu lượng được truyền qua vệ tinh gây nên
tình trạng quá tải, các hệ thống giao dịch gần như bị tê liệt. Hay như hệ thống
bán vé xem chung kết WorldCup nhanh chóng bị tê liệt khi có quá nhiều kết
nối với hệ thống và rất nhiều các ví dụ khác. Trong những tình huống như
vậy, việc cố gắng thực hiện giao dịch chỉ làm tốn thời gian mà không đem lại
kết quả và sự từ chối dịch vụ một cách thân thiện có thể được coi là phù hợp
nhất. Tuy nhiên, với hệ thống thì việc đánh giá khối lượng công việc là cực
Ba đầu vào:
Bộ phận nhận thẻ: Card Reader – phần này tiếp nhận thẻ từ người sử
dụng và đọc các thông tin tài khoản lưu trên chip nhớ của thẻ, các
thông tin này là tối thiểu chủ yếu là xác nhận các thẻ hợp lệ (loại thẻ,
mã số, thông tin tối thiểu về người sử dụng thẻ. Một thẻ không hợp lệ
có thể bị trả lại (từ chối dịch vụ) và có thể nuốt thẻ với những thẻ đen
hay thẻ hết hạn
Phím số: Keypad – bộ phận nhập dữ liệu dạng số, thường được thiết
kế tương tự như hệ Key của các máy điện thoại để bàn truyền thống.
Đây chính là bộ phận sử dụng để nhập thông tin mật (sử dụng PIN
number) và sẽ được mã hóa trước khi gửi đi
Nút chọn : Screen Button – sử dụng như một menu tương ứng với
các dịch vụ được ngân hàng cung cấp. Hệ thống này tùy thuộc vào
công nghệ sử dụng cho màn hình mà có thể tồn tại (dạng nút bấm
cứng) hay không tồn tại (sử dụng các nút mềm cho màn hình cảm
ứng)
Bốn đầu ra:
Bộ phận hiển thị: Display Screen – là màn hình giao tiếp chính với
người sử dụng. Các giao tiếp này được thiết kế dưới dạng theo từng
bước với các lựa chọn tương ứng trên màn hình. Màn hình ban đầu
được sử dụng là các màn mono (đơn sắc) và dần được thay thế bởi
các màn giao diện màu thân thiện hơn (sử dụng luôn như một công
cụ quảng cáo với các đoạn phim có sẵn trong máy). Hiện nay, công
nghệ sử dụng là công nghệ LCD cảm ứng.
Hệ thống loa: Theo tiêu chuẩn chung của thế giới, giao tiếp này là bắt
Đại học Công nghệ - ĐHQG Hà Nội Luận văn Cao học – Lê Công Đài - K12T3
Trang 21 / 73
touchscreen, 8 tactile
function display keys,
vandal resistant glass Display Pixel Size
Autoscaling Security
NCR Secure
countermeasures to fraud -
ECD, Illuminated MEEI,
Enhanced Shutter Security,
Encrypting PIN Pad,
support for EMV, Triple DES
& Remote Key
Management, Fluiditi
(optional ink staining for
Intelligent Cash Protection),
UL 291 safe Security Lock Type
Đại học Công nghệ - ĐHQG Hà Nội Luận văn Cao học – Lê Công Đài - K12T3
F (-
20
0
C - +40
0
C), Extreme: -
31
0
F - +122
0
F - (-35
0
C -
+50
0
C), 10 - 95% humidity Dimensions
Height - 59.3" (1,506mm),
Width - 21.9" (556mm),
Depth 30" (752mm) Power Requirements
Advertising Capabilities
Color customization,
Security
Signage Options
2.2.1.3 Cơ chế hoạt động
Thông thường, một hệ thống ATM được liên kết với trung tâm xử lý dữ
liệu qua đường truyền POST truyền thống là đường điện thoại quay số (trừ
các hệ thống giao dịch được đặt ngay tại các chi nhánh). Với các giao dịch
mở rộng cho tương lai khi áp dụng thẻ thông minh, đường truyền được
khuyến nghị là leased – line.
Đại học Công nghệ - ĐHQG Hà Nội Luận văn Cao học – Lê Công Đài - K12T3
Trang 23 / 73 Hình 4: Mô hình hoạt động của hệ thống ATM
Trong mô hình hoạt động của hệ thống ATM ở hình 4, ATM kết nối và
làm việc với máy chủ Host đóng vai trò như nhà cung cấp dịch vụ (có thể
thuộc ngân hàng hoặc không), các hạch toán từ máy chủ này sau đó được
chuyển về ngân hàng cũng qua một đường truyền POST (cũng có thể là
đường quay số hoặc leased – line). Máy chủ Host nếu thuộc một tổ chức
trung gian thì đây chính là nơi chuyển hạch toán cho các máy chủ của các
người được tiến hành từ lâu và đã có những thành công lớn cả về lý
thuyết lẫn thực nghiệm. Gần đây, chúng ta thấy nổi lên một xu hướng áp
dụng các thành tựu của công nghệ Sinh trắc trong các sản phẩm công
nghệ đặc biệt là cho bảo mật hệ thống. Tuy nhiên, việc áp dụng này
thường chỉ dành cho những lĩnh vực có mức độ quan trọng rất cao mang
tính quốc gia như lĩnh vực hình sự, tình báo (áp dụng để nhận diện các
phần tử cực đoan hoặc đang bị truy nã) chẳng hạn, lý do là giá thành của
các thiết bị chuyên dụng rất cao không thích hợp cho áp dụng đại trà.
Gần đây, với sự phát triển vô cùng nhanh và mạnh trong lĩnh vực điện tử
đã góp phần không nhỏ trong việc thương mại hóa những sản phẩm cao
cấp và bảo mật sinh trắc cũng không phải ngoại lệ. Bảo mật vân tay là sự
áp dụng trong môi trường thương mại đầu tiên và đang được phổ biến
trên toàn thế giới. Hiện nay có thể dễ dàng thấy sự hiện diện của loại
hình bảo mật này trên các thiết bị điện tử cao cấp như ATM, laptop và