mục lục
mục lục 1
LờI Mở ĐầU 2
CHƯƠNG I: MÔ HìNH LIÊN KếT NGÂN HàNG THƯƠNG MạI VớI TậP ĐOàN KINH Tế
4
1.1. KHáI QUáT Về TậP ĐOàN KINH Tế 4
1.1.1. Khái niệm 4
1.1.2. Sự hình thành TĐKT 5
1.1.3. Đặc điểm của TĐKT 6
1.2. Khái quát về nGân hàng thơng mại (NHTM) 7
1.2.1. Khái niệm về NHTM 7
1.1.2. Chức năng của NHTM 7
1.1.2.1. Trung gian tài chính 7
1.1.2.2. Tạo phơng tiện thanh toán 8
1.1.2.3. Trung gian thanh toán 8
1.1.3. Những hoạt động chủ yếu của ngân hàng 9
1.1.3.1. Hoạt động huy động vốn 9
1.1.3.2. Hoạt động tín dụng 9
1.1.3.3. Hoạt động cung cấp dịch vụ khác 9
1.1.4. Đặc trng của NHTM 10
1.1.4.1. Hoạt động kinh doanh của ngân hàng hàm chứa nhiều rủi ro 10
1.1.4.2. Đối tợng kinh doanh chính của ngân hàng là tiền tệ 10
1.1.4.3. Nguồn vốn chủ yếu để các ngân hàng hoạt động kinh doanh chính là
nguồn vốn huy động 11
1.1.4.4. Kinh doanh ngân hàng là lĩnh vực kinh doanh mang tính hệ thống cao
và phải chịu sự quản lý nghiêm ngặt của Nhà nớc 11
1.3. MÔ HìNH LIÊN KếT NHTM và TĐKT 12
1.2.1. TĐKT tham gia vào ban quản trị của NHTM 12
1.2.1.1. Đặc điểm của mô hình 12
1.2.1.2. Ưu điểm của mô hình 12
1.2.1.3. Nhợc điểm của mô hình 14
VIệT NAM 39
3.1. xây dựng mô hình liên kết tại việt nam 39
3.1.1. Điều kiện xác lập mô hình 39
3.1.1.1. Vi mô 39
3.1.1.2. Vĩ mô 40
3.1.2. Yêu cầu đối với mô hình 41
3.2. Xây dựng mô hình liên kết 42
3.2.1. Đề xuất về mô hình liên kết 42
3.2.2. Yêu cầu của mô hình 43
3.2.3. Định hớng phát triển các TĐKT Việt Nam 44
3.2.3.1. TĐKT Nh Nớc 45
3.2.3.2 TĐKT t nhân 46
3.2.4. Định hớng phát triển đối với NHTM 47
Kết luận 48
Danh mục tài liệu tham khảo 49
LờI Mở ĐầU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Thế giới đang trong giai đoạn cuộc khủng hoảng tài chính đợc đánh giá
là nghiêm trọng nhất từ trớc tới nay. Nhiều tổ chức tài chính lớn nhỏ đã không
thể trụ vững trớc cơn bão khủng hoảng. Trớc tình hình hiện nay, các nhà
nghiên cứu đang đặt ra nhiều câu hỏi về cách thức hoạt động của các định chế
tài chính. Trong các trung gian tài chính, ngân hàng là cầu nối quan trọng nhất
trong quá trình dẫn vốn của thị trờng. Sự tồn tại và phát triển của loại hình
doanh nghiệp này không những gây ra ảnh hởng sâu sắc tới hoạt động của các
2
2
ngành nghề khác trong nền kinh tế mà bản thân nó còn là loại hình doanh
nghiệp kinh doanh trực tiếp trong lĩnh vực tiền tệ. Do đó, nó trở thành tâm
điểm chú ý của nhiều các "đại gia" trong nền kinh tế. Theo cùng sự hình thành
và phát triển của nền kinh tế thị trờng, xu hớng tất yếu là sự liên kết trên cơ sở
2. Phạm vi, đối tợng nghiên cứu
3
3
Đối tợng nghiên cứu chính của đề tài là mô hình liên kết giữa NHTM và
TĐKT cùng với các giải pháp để hoàn thiện hóa mô hình ở Việt Nam.
Về phạm vi, đề tài đi sâu nghiên cứu hai mô hình liên kết chủ yếu ở
Việt Nam là mô hình TĐKT góp vốn vào NHTM và mô hình TĐKT đứng ra
thành lập NHTM trong 2 năm: 2007 và 2008.
3. Phơng pháp nghiên cứu
Trên cơ sở phơng pháp duy vật biện chứng, bài nghiên cứu sử dụng
đồng thời các phơng pháp so sánh, thống kê, tổng hợp, phân tích với hệ thống
sơ đồ, bảng biểu để trình bày các nội dung lí luận và thực tiễn.
4. Kết cấu bài nghiên cứu
Ngoài lời nói đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo bài nghiên
cứu đợc chia làm 3 chơng:
Chơng 1: Mô hình liên kết NHTM và TĐKT.
Chơng 2: Thực trạng liên kết NHTM với các TĐKT ở Việt Nam.
Chơng 3: Giải pháp hoàn thiện mô hình NHTM liên kết với các TĐKT
ở Việt Nam.
CHƯƠNG I: MÔ HìNH LIÊN KếT NGÂN HàNG THƯƠNG MạI
VớI TậP ĐOàN KINH Tế
1.1. KHáI QUáT Về TậP ĐOàN KINH Tế
1.1.1. Khái niệm
Cùng với sự phát triển của kinh tế xã hội, các tổ chức kinh tế ra đời và
phát triển qua nhiều giai đoạn. Bắt đầu là các xởng sản xuất nhỏ lẻ, chúng dần
lớn mạnh và ra đời các khái niệm công ty, doanh nghiệp và sự phát triển cao
hơn là các TĐKT. Có thể hiểu TĐKT: là một tập hợp các thực thể pháp lý (một
pháp nhân) độc lập dựa trên cơ sở liên kết là mối quan hệ về sở hữu, phân chia
thị trờng, liên kết sản xuất kinh doanh.
Theo Viện nghiên cứu Quản lí Kinh tế Trung ơng CIEM thì:
Từ ba lí do trên, ta thấy rằng việc hình thành các TĐKT là hiện tợng tất
yếu và cần thiết cho phát triển kinh tế. Và bối cảnh khủng hoảng kinh tế là
một yếu tố thúc đẩy quá trình hình thành các TĐKT nhanh hơn.
Để hình thành các TĐKT, có hai phơng thức liên kết:
- Liên kết ngang: là sự liên kết giữa các doanh nghiệp theo cùng một
ngành. Ví dụ: tập đoàn Than Khoáng sản Việt Nam, tập đoàn Bảo Việt
- Liên kết dọc: là sự liên kết giữa các doanh nghiệp ở các ngành khác
nhau. Ví dụ: tập đoàn Dầu khí
Để hình thành nên các TĐKT, các doanh nghiệp có thể sử dụng các biện
pháp: thành lập mới một công ty nằm trong quyền kiểm soát của mình, sáp
nhập mua lại hợp nhất với một doanh nghiệp khác. Trong các biện pháp
trên, biện pháp thành lập mới ít đợc sử dụng hơn do chi phí thành lập cao, đòi
hỏi doanh nghiệp phải có sử chuẩn bị đầy đủ về nguồn nhân lực, tìm hiểu
thông tin thị trờng. Và việc thâm nhập vào một lĩnh vực kinh doanh hoàn toàn
mới là rất khó khăn. Trong khi đó, phơng thức sáp nhập, mua lại hay hợp nhất
các doanh nghiệp sẽ giúp cho doanh nghiệp mới tận dụng đợc nguồn nhân lực,
vốn cũng nh thị phần của doanh nghiệp cũ.
5
5
Tóm lại, TĐKT đợc hình thành trên cơ sở liên kết giữa nhiều doanh
nghiệp độc lập khác nhau dới sức ép của cạnh tranh thị trờng. Do điều kiện
hình thành đó, TĐKT mang những đặc điểm riêng có để giúp các doanh
nghiệp thành viên của nó có đợc chỗ đứng cao hơn trên thị trờng.
1.1.3. Đặc điểm của TĐKT
TĐKT là hình thức liên kết sản xuất có những đặc trng cơ bản sau:
Thứ nhất, TĐKT là tổ chức có tính chất độc quyền cao. Do sự cạnh
tranh khốc liệt của nền kinh tế thị trờng, hàng loạt doanh nghiệp nhỏ đã phá
sản. Trong điều kiện đó, chỉ các doanh nghiệp lớn có thể tồn tại đợc. Vì thế,
để tồn tại thì yêu cầu đối với các doanh nghiệp là tăng qui mô vốn trong sản
xuất từ đó dẫn đến xu hớng thoả hiệp và thôn tính trong các doanh nghiệp. Xu
chuyển vốn trong nội bộ tập đoàn cũng nh tìm kiếm một nguồn tài trợ đảm
bảo hơn cho các dự án lớn là hết sức cần thiết. Và doanh nghiệp đáp ứng tốt
nhất các yêu cầu về huy động vốn cũng nh cung cấp các phơng tiện thanh toán
tối u cho TĐKT chính là các NHTM.
1.2. Khái quát về nGân hàng thơng mại (NHTM)
1.2.1. Khái niệm về NHTM
Ra đời và phát triển đồng thời cùng với nền sản xuất hàng hoá, ngân
hàng là một động lực quan trọng thúc đẩy nền kinh tế phát triển mạnh mẽ.
Ban đầu chỉ là các ngân hàng "thợ vàng" do những ngời thợ vàng và cho vay
nặng lãi tự thành lập. Về sau, theo dòng phát triển của phơng thức sản xuất xã
hội nói chung và sự vận động của t bản thơng nghiệp nói riêng, các NHTM đã
phát triển, liên kết với nhau tạo nên hệ thống ngân hàng với sự phân hoá thành
nhiều loại hình ngân hàng chuyên biệt hơn nh là ngân hàng Nhà nớc, ngân
hàng phát triển, ngân hàng tiết kiệm, ngân hàng đầu t Đồng thời, hoạt động
của NHTM cũng ngày càng đa dạng, phức tạp và luôn thay đổi để bắt kịp sự
thay đổi của nền kinh tế.
Nh vậy, trên phơng diện loại hình dịch vụ mà chúng cung cấp, các
NHTM có thể đợc định nghĩa là "các tổ chức tài chính cung cấp một danh
mục các dịch vụ tài chính đa dạng nhất - đặc biệt là tín dụng tiết kiệm, dịch
vụ thanh toán và thực hiện nhiều chức năng tài chính nhất - đặc biệt là tín
dụng, tiết kiệm, dịch vụ thanh toán và thực hiện nhiều chức năng tài chính
nhất trong so với bất kì một tổ chức kinh doanh nào trong nền kinh tế."
[1]
Ngoài ra, ở mỗi quốc gia, do đặc thù về kinh tế, xã hội, chính trị và
phong tục tập quán khác nhau nên đã nảy sinh nhiều quan niệm, nhiều định
nghĩa khác nhau về ngân hàng. Luật TCTD Việt Nam ghi rõ: Ngân hàng là
một loại hình TCTD đợc phép thực hiện toàn bộ các hoạt động ngân hàng và
các hoạt động khác có liên quan.
[11]
1.1.2. Chức năng của NHTM
của khách hàng tăng lên, khách hàng có thể dùng nó để mua hàng hoá và dịch
vụ. Cũng tức là bằng việc cho vay (hay tạo tín dụng) các ngân hàng đã tạo ra
phơng tiện thanh toán (tham gia tạo ra M
1
).
Cũng nh thế, toàn bộ hệ thống ngân hàng cũng tạo phơng tiện thanh
toán khi mở rộng các khoản tiền gửi từ ngân hàng này đến ngân hàng khác
trên cơ sở cho vay.
1.1.2.3. Trung gian thanh toán
Do sự phát triển mạnh mẽ và nhanh chóng cùng với nền kinh tế của hệ
thống ngân hàng, hiện nay, ở hầu hết các quốc gia, ngân hàng trở thành trung
gian thanh toán lớn nhất.
Thông qua việc gửi tiền tại các tài khoản thanh toán, khách hàng uỷ
thác cho các ngân hàng thay mặt họ thực hiện thanh toán giá trị hàng hoá và
dịch vụ. Để thực hiện chức năng này, các ngân hàng đa ra cho khách hàng
nhiều hình thức thanh toán nh thanh toán bằng séc, uỷ nhiệm chi, nhờ thu, các
8
8
loại thẻ cung cấp mạng lới thanh toán điện tử, kết nối các quỹ và cung cấp
tiền giấy khi khách hàng cần.
Ngoài ra, các ngân hàng còn thực hiện thanh toán bù trừ với nhau thông
qua ngân hàng Trung ơng hoặc các trung tâm thanh toán.
1.1.3. Những hoạt động chủ yếu của ngân hàng
Để thực hiện đợc những chức năng của mình, NHTM thực hiện các
nghiệp vụ hết sức đa dạng với mức độ chuyên môn hoá cao. Trong đó, co ba
hoạt động chủ yếu, đó là: hoạt động huy động vốn, hoạt động tín dụng và đầu
t và các hoạt động cung cấp dịch vụ tài chính khác nh dịch vụ thanh toán, t
vấn tài chính, quản lý hộ tài sản, kinh doanh ngoại tệ
1.1.3.1. Hoạt động huy động vốn
Khác với các loại hình doanh nghiệp phi tài chính, nguồn vốn chủ sở
nó hàm chứa rất nhiều rủi ro. Cụ thể là:
- Rủi ro tín dụng xảy ra khi khách hàng không thanh toán đợc gốc và
lãi của khoản vay. Và đây là rủi ro mang tính hệ thống.
- Rủi ro lãi suất xảy ra khi lãi suất thị trờng có sự biến động. Nguyên
nhân của nó là do ngân hàng không có sự cân xứng giữa kỳ hạn của tài sản có
và tài sản nợ hoặc sự mất cân xứng giữa khối lợng tài sản có và tài sản nợ
nhạy cảm với lãi suất. Có hai loại rủi ro lãi suất là rủi ro tái tài trợ tài sản nợ và
rủi ro tái đầu t tài sản có.
- Rủi ro thanh khoản là nguy cơ mất khả năng chi trả của ngân hàng
khi khách hàng có nhu cầu rút tiền. Đây là rủi ro xảy ra thờng xuyên và
nghiêm trọng hơn cả. Do tính chất lan truyền, nếu những ngời gửi tiền nhận
thấy ngân hàng gặp rắc rối về thanh khoản thì họ có thể sẽ đồng loạt rút tiền ra
khỏi ngân hàng.
- Rủi ro ngoại hối là khoản lỗ tiềm tàng mà ngân hàng phải gánh chịu
khi duy trì các tài sản có và tài sản nợ bằng ngoại tệ ở trong trạng thái trờng
hay đoản về loại ngoại tệ mà ngân hàng nắm giữ.
- Các hoạt động ngoại bảng là các hoạt động không thuộc bảng cân
đối tài sản của ngân hàng. Do tính đa dạng và phức tạp của các hoạt động này,
nguyên nhân và thời điểm xảy ra cũng nh những tác động của nó lên ngân
hàng là không giống nhau. Nhng tựu trung là đa lại tổn thất cho ngân hàng.
- Rủi ro công nghệ phát sinh khi những khoản đầu t cho phát triển
công nghệ không tạo đợc khoản tiết kiệm trong chi phí đã dự tính khi mở rộng
quy mô hoạt động. Rủi ro hoạt động có mối liên hệ chặt chẽ với rủi ro công
nghệ và có thể phát sinh bất cứ lúc nào nếu hệ thống công nghệ bị trục chặc
hoặc là khi hệ thống hỗ trợ công nghệ bên trong ngừng hoạt động.
1.1.4.2. Đối tợng kinh doanh chính của ngân hàng là tiền tệ
Có thể nói, ngân hàng kinh doanh một loại hàng hóa đặc biệt trên thị tr-
ờng đó chính là tiền tệ với đặc tính xã hội hóa cao, tính cảm ứng và nhạy
bén với mọi thay đổi trong nền kinh tế. Đây chính là đặc điểm cơ bản phân
biệt lĩnh vực kinh doanh ngân hàng so với các lĩnh vực kinh doanh khác. Giá
chức để bảo đảm an toàn trong hoạt động kinh doanh ngân hàng cũng nh để
có thể tạo ra các dịch vụ toàn diện cho ngân hàng. Điều này có thể do các
ngân hàng tự thiết lập hay do các yêu cầu của cơ quan quản lý Nhà nớc.
Có thể nói, điều cần thiết nhất đối với các NHTM là uy tín và các mối
quan hệ. Có đợc 2 điều đó, NHTM sẽ dễ dàng hơn trong việc thu thập các
thông tin và thẩm định các dự án. Đặc biệt NHTM huy động tiền gửi để cho
vay các dự án hay là để đầu t vào các lĩnh vực kinh tế khác. Do đó, việc tìm
kiếm các dự án có hiệu quả là đòi hỏi cấp thiết đối với ngân hàng. Mà trong
nền kinh tế, đối tợng có nhiều các dự án lớn và tính khả thi cao là các TĐKT.
Vì thế, liên kết với các TĐKT lớn để tranh thủ uy tín và các mối quan hệ sâu
11
11
sắc, và nhất là đảm bảo khả năng kiểm soát cao hơn đối với nguồn vốn bỏ ra
là hết sức hấp dẫn đối với NHTM.
1.3. MÔ HìNH LIÊN KếT NHTM và TĐKT
Do có những đặc điểm thoả mãn yêu cầu của cả 2 bên nh đã phân tích ở
trên, việc các NHTM và TĐKT có sự liên kết với nhau là một tất yếu của
khách quan. Nhng mối quan hệ này sâu sắc đến đâu và theo mô hình nh thế
nào là phù hợp? Đó là vấn đề cần nghiên cứu.
Trên thực tế, thế giới đã tồn tại nhiều những liên minh ngân hàng tập
đoàn mà sự thâm nhập lẫn nhau của 2 bên là hết sức sâu sắc. Theo đối tợng
giữ vai trò quản lý thì mô hình liên kết giữa NHTM và các TĐKT đợc chia
thành hai mô hình chính: mô hình các TĐKT tham gia vào ban quản trị của
NHTM và mô hình TĐKT xoay xung quanh NHTM.
1.2.1. TĐKT tham gia vào ban quản trị của NHTM
1.2.1.1. Đặc điểm của mô hình
Đây là hình thức đợc phần lớn các TĐKT lựa chọn. Mô hình liên kết đ-
ợc thành lập khi tập đoàn kinh sở hữu phần vốn góp lớn ở các NHTM và tham
gia vào ban quản trị ngân hàng. Mô hình này có 2 dạng :
Thứ nhất là các doanh nghiệp thành viên của TĐKT nắm giữ số lợng cổ
dụng số tiền này để cấp tín dụng và cung ứng các dịch vụ thanh toán. Do đó,
đối với ngân hàng, tiền gửi của các chủ thể trong nền kinh tế có vị trí rất quan
trọng và là nguồn vốn chiếm tỷ trọng lớn nhất trong tổng nguồn vốn của các
NHTM. Nh thế là NHTM tiếp cận đợc lợng vốn lớn từ các khách hàng trung
thành và các đối tác, bạn hàng lâu năm hay các khách hàng của TĐKT. Việc
các công ty con của TĐKT trở thành khách hàng trung thành của NHTM cũng
làm giảm thiểu một số các rủi ro đối với ngân hàng nh là rủi ro thanh khoản
(do các công ty này sẽ không đồng thời ồ ạt rút tiền ra).
b. Đối với TĐKT
Việc tham gia góp vốn, thành lập NHTM sẽ giúp cho các TĐKT đa
dạng hóa hoạt động kinh doanh. Theo học thuyết của C.Mác, chu chuyển t bản
là quá trình vận động bắt đầu từ khi nhà t bản ứng t bản ra dới hình thái tiền tệ
cho đến khi t bản quay về tay các nhà t bản cũng dới hình thái ấy. Hay nói
cách khác, đặc điểm vận động của các tổ chức kinh doanh là việc xuất vốn
mua hàng hoá, làm gia tăng giá trị của nó sau đó bán đi và thu về tiền tệ với số
lợng lớn hơn. Tuy nhiên, ngành ngân hàng không phải qua các bớc trung gian
hàng hoá mà trực tiếp kinh doanh tiền tệ (tức là tiền đẻ ra tiền). Ngoài ra, việc
nắm giữ tiền tệ của nền kinh tế tạo cho ngân hàng những quyền lực nhất định,
do đó nó trở thành đích ngắm của nhiều các TĐKT lớn. Việc nắm giữ cổ phần
của NHTM đối với các TĐKT đồng nghĩa với việc TĐKT nhận cổ tức làm gia
tăng thu nhập.
Ngoài ra, sự liên kết này còn giúp cho TĐKT có đợc sự u tiên nhất định
đối với các khoản vay tài trợ cho các dự án của các tập đoàn. Thực tế là để
đảm bảo an toàn vốn, ngân hàng chỉ cho vay đối với các dự án sau khi đã thẩm
định về tính khả thi và các điều kiện khác của các dự án. Tuy nhiên, nếu so
sánh giữa dự án của tập đoàn là cổ đông của ngân hàng và dự án của một công
13
13
ty khác có cùng tính khả thi và các điều kiện khác đợc thỏa mãn thì dự án của
tập đoàn sẽ đợc u tiên nhờ các mối quan hệ rành buộc.
mạo hiểm thì các lĩnh vực sản xuất kinh doanh chính của chính TĐKT cần rất
nhiều vốn để thực hiện thì không đợc đầu t, đó là sự lãng phí nguồn lực rất
lớn, có thể dẫn đến doanh thu và lợi nhuận từ hoạt động sản xuất chính không
đạt hiệu suất tốt.
14
14
Thứ hai, mối liên hệ ràng buộc sâu sắc giữa NHTM và TĐKT còn tăng
nguy cơ xuất hiện những tập đoàn t bản tài chính lớn làm lũng đoạn thị trờng.
Các TĐKT giữ một vai trò vô cùng quan trọng trong chiến lợc phát triển kinh
tế của các quốc gia, có thể nói, các tập đoàn này là những đầu tàu cho sự phát
triển và khẳng định vị thế của quốc gia đó về mặt kinh tế mà xa hơn là cả về
mặt chính trị, văn hóa. Vì vậy, các quốc gia luôn chú trọng và tạo điều kiện
cho các tập đoàn này phát triển. Ngân hàng lại là ngời nắm giữ tiền của nền
kinh tế. Tức là nếu coi nền kinh tế nh một cơ thể sống thì các TĐKT, là các cơ
quan bộ phận chính và hệ thống ngân hàng tài chính nh là hệ tuần hoàn, luân
chuyển máu tới các bộ phận nằm duy trì sự sống cho chúng. Nếu NHTM và
TĐKT liên kết với nhau thì sẽ tạo ra một sức mạnh rất lớn, chi phối tòan bộ
nền kinh tế, chức năng điều tiết nền kinh tế của Nhà Nớc cũng bị ảnh hởng. Vì
vậy, hiện nay, để tránh xuất hiện các đầu sỏ tài chính làm lũng đoạn thị trờng,
Chính phủ các nớc đã quy định tỷ lệ góp vốn tối đa của các TĐKT đối với các
NHTM.
1.2.2. Mô hình các TĐKT xoay quanh một NHTM trung tâm
1.2.2.1. Đặc điểm của mô hình
Đặc trng của mô hình này là ngân hàng là trung tâm của mối quan hệ và
ngân hàng trung tâm đó đợc gọi là main bank (ngân hàng chính). Ngân
hàng này là 1 tổ chức tài chính cung cấp vốn cho các công ty thuộc tập đoàn.
Ngân hàng trung tâm không chỉ giữ vài trò đơn giản nh là nhà cung cấp các
khoản vay cho tập đoàn mà còn là trung tâm xử lý thông tin cho các công ty
thuộc tập đoàn và các đối tác. Ngân hàng giám sát thành quả của tập đoàn,
nắm giữ vốn trong nhiều công ty chủ chốt và cung cấp nhân viên quản lý khi
TĐKT trong việc phân tích tính hiệu quả cho các dự án, cung cấp các vị trí
giám đốc tài chính, giám đốc điều hành cho các công ty con thuộc tập đoàn.
TĐKT sẽ đợc t vấn và sử dụng những phơng thức thanh toán tốt nhất.
Thứ ba, TĐKT sẽ có đợc sự hẫu thuẫn về vốn rất lớn từ NHTM. Vốn là
điều kiện cần thiết và tối quan trọng cho bất kỳ dự án nào của TĐKT. Ngân
hàng trung tâm với t cách là ngời cung cấp tài chính cho TĐKT sẽ đáp ứng đ-
ợc điều đó bằng cách huy động tiền gửi của nhân dân, tổ chức, các chủ thể
trong nền kinh tế. Khi các dự án của những tập đoàn lớn dễ đợc thực hiện, sẽ
cải tạo môi trờng đầu t, kích thích sự phát triển.
* Nh ợc điểm của mô hình
Thứ nhất, mối liên kết này sẽ làm suy yếu chức năng trung gian tài
chính của các NHTM truyền thống, phân bổ sai lệch nguồn tài nguyên tín
dụng cho khu vực sản xuất thực của nền kinh tế, và từ đó làm xói mòn tính
cạnh tranh giữa các chủ thể khác nhau trong nền kinh tế.
Các ngân hàng trung tâm này sẽ phải thờng xuyên đối phó với các áp
lực u đã tín dụng có lợi cho những mối quan hệ mang tính cách nội bộ.
NHTM là nhà cung cấp tài chính cho các dự án của các công ty con thuộc tập
đoàn, vì vậy, sẽ có những trờng hợp, dự án của các công ty con không thực sự
hiệu quả trong khi các dự án của các doanh nghiệp khác rất có triển vọng thì
với với sự thỏa thuận, liên kết chặt chẽ trên, ngân hàng vẫn phải u đãi cho các
16
16
công ty thuộc tập đoàn. Một khi đã có sự u đãi thì nguồn tài nguyên tín dụng
đã bị phân bổ một cách sai lệch. Nguồn vốn đáng lẽ ra phải chảy theo những
kênh có khả năng sử dụng nó một cách có hiệu quả nhất đã chuyển sang các
kênh nội bộ mà theo các chuyên viên phân tích tín dụng rất có thể sẽ bị bẻ
cong theo các ý dồ của cấp lãnh đạo
Ưu đãi và phân bổ sai lệnh tài nguyên tín dụng chính là căn nguyên dẫn
đến việc xói mòn tính cạnh tranh. Việc xói mòn tính cạnh tranh có thể đợc
biểu hiện dới nhiều hình thức khác nhau nhng chung quy lại, đó là các điều
17
cứu của đề tài này, chúng ta sẽ tìm hiểu hai quốc gia mà điều kiện địa lí và văn
hoá có nhiều nét tơng đồng với Việt Nam. Thứ nhất là Trung Quốc, quốc gia
XHCN sát biên giới với Việt Nam và là nớc có điều kiện kinh tế, chính trị và
văn hoá cũng nh xuất phát điểm của nền kinh tế gần với nớc ta nhất. Và thứ
hai là Nhật Bản, quốc gia Châu á nghèo tài nguyên nhất nhng lại có nền kinh
tế phát triển nhất.
1.4.1. Mô hình Keiretsu ngang ở Nhật Bản
Nhật Bản là đất nớc không chỉ là một cờng quốc trên thế giới mà còn là
một trong những bài học về sự vơn lên sau chiến tranh để khôi phục kinh tế
đất nớc. Ngời ta đã đi tìm hiểu nghiên cứu nguyên nhân tạo nên sự phát triển
thần kỳ của Nhật Bản sau chiến tranh thế giới thứ II, có thể nói rằng có rất
nhiều nguyên nhân, về sức mạnh của sự đoàn kết hay sức mạnh của yếu tố con
ngời nhng một trong số nguyên nhân dẫn đên sự phát triển đó là do sức mạnh
của các tập đoàn kinh tế hay còn gọi là Keiretsu. Mối liên kết giữa TĐKT và
NHTM đợc biểu hiện dới hình thức Keiretu ngang nh đã trình bày ở phần trên.
Sự liên kết này cũng đợc dựa trên các điều kiện khác biệt với các quốc gia
khác.
1.3.2.1. Điều kiện vĩ mô
Thứ nhất, do chính sách phát triển các TĐKT để làm đầu tàu cho nền
kinh tế, Chính phủ đã tạo những điều kiện thuận lợi cho sự hoạt động của
TĐKT cũng nh cho sự liên kết giữa TĐKT và ngân hàng trở nên chặt chẽ hơn.
Nớc Nhật sau chiến tranh thế giới lần thứ II đã bị tàn phá nặng nề về kinh tế.
Việc khôi phục kinh tế trở thành nhu cầu cấp bách đối với Chính phủ lúc bấy
giờ. Một trong những định hớng của Chính phủ Nhật đó là xây dựng các
TĐKT mạnh, đủ sức nâng đỡ cho nền kinh tế trong nớc và vơn ra thị trờng thế
giới. Chính do đó mà Chính phủ đã dành rất nhiều u đãi về chính sách, về vốn
trong đó có việc xây dựng mô hình ngân hàng nh là trung tâm huy động vốn,
xử lý thông tin, quản lý hoạt động của TĐKT
Thứ hai, Chính phủ muốn kiểm soát kiểm soát hoạt động của TĐKT
tổ chức kinh tế (kaidanren) có ảnh hởng mạnh nhất, không một chính sách
quan trọng nào về kinh tế, đặc biệt là về kinh tế đối ngoại của NN mà không
có sự tham gia trớc hoặc có sự thỏa thuận của tổ chức này. Các tập đòan còn
đa đại diện của mình vào cơ quan NN, đặc biệt là những cơ quan kinh tế, duy
trì những sự tiếp xúc thờng xuyên với CP thông qua ủy ban t vấn kinh tế khác
nhau. Kết quả là CNTB độc quyền NN ở Nhật đợc tăng cờng, NN trở thành
công cụ quan trọng phục vụ các TĐ TBTC Nhật thống trị trong nớc và bành tr-
ớng ra thế giới
1.3.2.2. Điều kiện vi mô :
a) Trong TĐKT :
Thứ nhất, các TĐKT Nhật đã có biện pháp huy động vốn táo bạo : Nếp
kinh doanh cổ điển ở các nớc phơng Tây đòi hỏi phải cân bằng khoản vay với
nguồn vốn của xí nghiệp, nghĩa là xí nghiệp phải có từ 50 70% tiền vốn, số
còn lại mới có thể đi vay hoặc phát hành trái phiếu. Sau chiến tranh, nguyên
tắc đó ở Nhật Bản bị phá vỡ. Tính chung từ 1958- 1962, vốn của xí nghiệp chỉ
19
19
chiếm 24% tổng số vốn kinh doanh, so với 65% xí nghiệp Nhật phải vay tới
gần 80% số vốn kinh doanh (trong đó già nửa là vay ngắn hạn, lãi suất 9-10%
thậm chí 20%/năm)
Thứ hai, Nhật Bản đã kết hợp khéo léo giữa "công nghệ phơng Tây" và
"tính cách Nhật Bản" hình thành nên các TĐKT mang phong cách Nhật.
b) Trong NHTM
Thứ nhất,trong việc tích lũy vốn, các ngân hàng trung tâm của TĐ có
thuận lợi hơn các nớc t bản khác là đợc sử dụng khối lợng tiền tiết kiệm cá
nhân lớn nhất trong dân chúng : Trung bình từ 1961- 1967 , tỷ lệ tiết kiệm
trong thu nhập của ngời dân Nhật là 18 ,6%, so với 6,2% ở Mỹ, 7,7% ở Anh,
8,7% ở Pháp, 13% ở Đức. Từ việc huy động lợng vốn lớn từ trong dân chúng,
NH trung tâm sẽ có nhiều vốn hơn để tài trợ cho nhu cầu của các TĐ mình
Thứ hai,các NHTM có khả năng nhận vốn của NHTW ( Ngân hàng
Mối liên kết giữa NHTM và TĐKT thờng đợc sự hậu thuẫn lớn về phía
chính phủ. Theo định hớng phát triển của các quốc gia, sự phát triển của các
TĐKT là tất yếu của quá trình hợp tác phát triển các loại hình doanh nghiệp,
các mối quan hệ hợp tác đầu t trên cơ sở nhu cầu phát triển thị trờng và hội
nhập kinh tế quốc tế. TĐKT huy động đợc các nguồn lực vật chất, lao động và
vốn trong xã hội vào quá trinh sản xuất kinh doanh, tạo ra sự hỗ trợ trong việc
cải tổ cơ cấu sản xuất, hình thành những công ty hiện đại. Việc hình thành
TĐKT cho phép phát huy lợi thế kinh tế có quy mô lớn, khai thác triệt để th-
ơng hiêu, hệ thống dịch vụ đầu vào, đầu ra, và nhiều loại hình dịch vụ. Từ vai
trò quan trọng trong nền kinh tế đó của TĐKT mà chính phủ các nớc đã có
những biện pháp hỗ trợ cho các TĐKT phát triển. Một trong số những sự hậu
thuẫn từ phía chính phủ cho phép mối liên kết này đó là cho phép các TĐKT
đợc tham gia góp vốn vào các NHTM. Tuy nhiên, để ngăn ngừa nguy cơ gây
lũng đoạn nền kinh tế và sự thâu tóm quyền lực vào tay các TĐKT, Chính phủ
của các nớc thờng quy định một tỷ lệ góp vốn nhất định
* Điều kiện về pháp lý
Hệ thống hành lang pháp lý thông thoáng với những quy định rõ ràng
cụ thể về tỷ lệ góp vốn, tỷ lệ cho vay trong nội bộ của NHTM và TĐKT cũng
nh tính an tòan bảo mật thông tin của các NHTM sẽ giúp cho mối quan hệ này
đợc minh bạch , tránh đợc những hạn chế, tiêu cực của các mô hình liên kết và
bảo đảm an toàn hoạt động của hệ thống ngân hàng
1.4.2.2. Điều kiện vi mô
* Đối với TĐKT
Các TĐKT phải có tiềm lực mạnh. Điều này thể hiện ở chỗ, TĐKT phải
có lợng vốn lớn để chủ động đầu t cho các dự án thuộc lĩnh vực sản xuất chính
của tập đoàn và tự chủ trong việc thanh toán cho các khoản vay tài trợ cho dự
án. TĐKT phải xác định đợc rằng NHTM mà mình tham gia làm cổ đông
chiến lợc hay cổ đông sáng lập phải độc lập về mặt hoạt động, và xem việc
đầu t vào NHTM là một trong số các lĩnh vực đầu t của tập đoàn và đợc hởng
lợi từ việc nắm giữ cổ phiếu.
thế còn có nhiều tranh luận xung quanh khái niệm này.
Văn bản luật đầu tiên có đề cập đến TĐKT là Luật Doanh Nghiệp 2005
tại Điều 146 khoản 2: Nhóm công ty bao gồm các hình thức sau đây: Công
ty mẹ Công ty con; TĐKT; Các hình thức khác. Còn theo điều 149 :
TĐKT là nhóm công ty có quy mô lớn. Chính phủ quy định hớng dẫn tiêu chí,
tổ chức quản lý và hoạt động của TĐKT. Theo vn bn lut ny cú th hiu
c TKT thuc vo nhúm cụng ty ging nh cụng ty m- cụng ty con.
22
22
Xó hi ngy cng phỏt trin.Cỏc tp on kinh t ngy cng c thnh
lp nhiu hn.V vn bn lut cng ó cú s thay i. Tại nghị định số
139/2007/NĐ-CP năm 2007, điều 26 hớng dẫn sửa đổi, bổ sung về TĐKT,
khoản 1 có quy định: TĐKT bao gồm nhóm các công ty có t cách pháp nhân
độc lập, đợc hình thành trên cơ sở tập hợp, liên kết thông qua đầu t, góp vốn,
sát nhập, mua lại, tổ chức lại hoặc các hình thức liên kết khác; gắn bó lâu dài
với nhau về lợi ích kinh tế, công nghệ, thị trờng và các dịch vụ kinh doanh
khác tạo thành tổ hợp kinh doanh có từ hai cấp doanh nghiệp trở lên dới hình
thức công ty mẹ - công ty con. Khoản 2 có quy định: "TĐKT không có t cách
pháp nhân, không phải đăng kí kinh doanh theo Luật Doanh Nghiệp. Việc tổ
chức hoạt động của tập đoàn do các công ty lập thành tập đoàn tự thỏa thuận
quyết định. Từ những sửa đổi bổ sung đó, chúng ta thấy rằng TĐKT không
có t cách pháp nhân. Thực tế nó chỉ là tập hợp của các công ty có t cách pháp
nhân độc lập, vận hành trên cơ sở các mối quan hệ về kinh tế, công nghệ
Mặc dù ở Việt Nam, TĐKT mới đợc thành lập nhng vẫn có thể rút ra
những đặc trăng cơ bản tơng tự các TĐKT thế giới:
Thứ nhất: TĐKT có phạm vi hoạt động lớn. TĐKT Việt Nam mới đợc
thành lập trong vòng 10 năm trở lại đây nên cha hình thành đợc các TĐKT đa
quốc gia. Tuy cũng có tập đoàn đặt văn phòng ở nớc ngoài nh Tập đoàn Hòa
Phát (đặt Văn Phòng Đại Diện tại phòng 7, tầng 4 Vientiane Commercial
Bank Building, Phố Lanxang, Vientiane, nớc Cộng hòa dân chủ Lào) nhng chủ
chức danh tổng giám đốc tập đoàn. Tuy nhiên ở Việt Nam thì vẫn còn tồn tại
chức danh này. Ví dụ: Ông Trơng Gia Bình là Chủ tịch hội đồng quản trị kiêm
Tổng giám đốc tập đoàn FPT. Còn với tập đoàn Bảo Việt, ông Lê Quang Bình
là chủ tịch hội đồng quản trị và bà Nguyễn Thị Phúc Lâm làm tổng giám đốc
tập đoàn .
Thứ năm: TĐKT hoạt động đa ngành nghề nhng thờng có một ngành
nghề chủ đạo. Tập đoàn FPT có công ty chứng khoán, đại học FPT, công ty
Bất động sản, công ty dịch vụ Tin học nhng lĩnh vực kinh doanh chủ yếu vẫn
là phần mềm tin học. Tập đoàn dầu khí Việt Nam đầu t vào lĩnh vực khai thác
dầu khí, ngân hàng, xây dựng nhng ngành nghề kinh doanh chính vãn là
khai thác dầu khí.
2.1.2. Phân loại TĐKT
2.1.2.1. TĐKT t nhân
Tiêu biểu cho TĐKT t nhân là tập đoàn FPT, tập đoàn Kinh Đô, tập
đoàn Hòa Phát, Trên thực tế mô hình TĐKT t nhân vẫn cha đợc thừa nhận ở
Việt Nam hiện nay.
Có thể nói, mặc dù có những bớc đờng phát triển với khó khăn thuận lợi
khác nhau song các mô hình tập đoàn này đều có những điểm chung, đó là:
- Hầu hết các tập đoàn này đều đợc hình thành trong khoảng thời gian
10 năm trở lại đây.
- Hầu hết các mô hình tập đoàn này đều có điểm xuất phát là mô hình
Công ty gia đình hoặc nhóm nhà đầu t thân cận
24
24
- Các tập đoàn đều có góp vốn, hoặc giữ cổ phần chi phối lẫn nhau ở
các công ty con, công ty liên kết, ngân hàng, đối tác trong và ngoài nớc với
hàng ngàn cổ đông.
- Các cụng ty thnh viờn ca tập đoàn này đều đang đợc niêm yết trên
s giao dịch .
- Các tập đoàn đang có xu hớng mở rộng quy mô sản xuất kinh doanh
25
25