Phát triển dịch vụ dựa trên vị trí (LBS) trên nền tảng điện toán đám mây - Pdf 25

Trang 4

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN 2
LỜI CẢM ƠN 3
MỤC LỤC 4
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT 6
DANH MỤC BẢNG BIỂU TRONG LUẬN VĂN 7
DANH MỤC HÌNH VẼ TRONG LUẬN VĂN 7
MỞ ĐẦU 9
CHƢƠNG 1. TỔNG QUAN VỀ DỊCH VỤ DỰA TRÊN VỊ TRÍ 11
1.1 Giới thiệu về dịch vụ LBS 11
1.2 Các thành phần cơ bản của LBS 13
1.3 Hoạt động của hệ thống LBS 14
1.4 Đặc điểm của LBS 20
1.5 Một số ví dụ về ứng dụng LBS: 22
1.6 Kết luận 25
CHƢƠNG II: CÔNG NGHỆ ĐIỆN TOÁN ĐÁM MÂY 27
2.1. Định nghĩa Điện toán đám mây 27
2.2. Tính chất cơ bản của Điện toán đám mây 29
2.2.1. Tự phục vụ theo nhu cầu (On-demand self-service) 30
2.2.2. Truy xuất diện rộng (Broad network access) 30
2.2.3. Dùng chung tài nguyên (Resource pooling) 30
2.2.4. Khả năng co giãn (Rapid elasticity) 31
2.2.5. Điều tiết dịch vụ (Measured service) 32
2.3. Các mô hình Điện toán đám mây 32
2.3.1. Mô hình dịch vụ 32
2.3.2. Mô hình triển khai 34
2.4. Điện toán đám mây: lợi ích và khó khăn 37
2.4.1. Ƣu và nhƣợc điểm của Điện toán đám mây 37

2. Tích hợp Android SDK vào Eclipse 70

Trang 6

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

STT
Từ viết tắt
Tiếng Anh
Tiếng Việt
1
Cloud
Computing
Cloud Computing
Điện toán đám mây
2
GEA
Google App Engine
Dịch vụ điện toán đám mây của
Google
3
GIS
Geographic
Information System
Hệ thông tin địa lý
4
GPS
Global Positioning
System
Hệ thống định vị toàn cầu

Public Cloud
Dịch vụ đám mây mở
12
SaaS
Software as a
Service
Dịch vụ phần mềm

Trang 7

DANH MỤC BẢNG BIỂU TRONG LUẬN VĂN

Bảng 2.1: Bảng khảo sát chất lƣợng dịch vụ 38
Bảng 2.2: Bảng so sánh Điện toán đám mây và Gird Computing 45
Bảng 2.3: Bảng mô tả giới hạn sử dụng của một ứng dụng GAE miễn phí 47
Bảng 2.4: Bảng mô tả free quota của một ứng dụng GAE miễn phí 48
DANH MỤC HÌNH VẼ TRONG LUẬN VĂN
Hình 1.1: Các hệ thống thông tin tích hợp 11
Hình 1.2: Công nghệ định vị và hệ thống LBS 12
Hình 1.3: Các thành phần cơ bản của LBS 13
Hình 1.4: Trao đổi thông tin giữa các thành phần trong hệ thống LBS 14
Hình 1.5: Các thiết bị di động 16
Hình 1.6: Vai trò của GeoMobility Server 17
Hình 1.7: Các kiểu ngữ cảnh khác nhau theo Nivala (2003) 21
Hình 1.8: Phân loại các ứng dụng LBS 23
Hình 1.9: Tổng quan hệ thống COSPAS-SARSAT (vệ tinh NOAA và dịch vụ
thông tin, 2005) 24
Hình 1.10: Dẫn đƣờng ô tô (Tomtom, 2005) 25
Hình 2.1: Điện toán đám mây 29
Hình 2.2: Đặc điểm của Điện toán đám mây và các nhóm mô hình phân loại 30

Hình 3.15: Giao diện trên Web – Chỉ đƣờng đến điểm tìm đƣợc 62
Hình 3.16: Tìm kiếm các điểm ATM có trong phạm vi 500m 63
Hình 3.17: Chỉ đƣờng từ vị trí đứng đến cây ATM tìm đƣợc 64 Trang 9

MỞ ĐẦU
Dịch vụ dựa trên vị trí (Location Based Services - LBS) là một hƣớng nghiên cứu
rất đƣợc quan tâm và đƣợc ứng dụng nhiều trong thực tế tại Việt Nam trong những
năm gần đây. Có thể hiểu một cách đơn giản về LBS là những dịch vụ tiện ích cung
cấp cho ngƣời sử dụng dựa trên vị trí địa lý của họ. Nó bao gồm những dịch vụ về các
lĩnh vực giao thông, địa điểm du lịch, quảng cáo trực tuyến…
Hiện nay, trên thế giới LBS đã có nhiều nghiên cứu và ứng dụng trong thực tiễn
nhƣ điều hành giao thông, quản lý vƣờn quốc gia, thƣơng mại dịch vụ… ở Việt nam,
một số dịch vụ dựa trên vị trí đã bắt đầu đƣợc một số doanh nghiệp triển khai. Có thể
kể đến các dịch vụ tìm kiếm điểm tiện ích nhƣ điểm đặt ATM, cây xăng, nhà hàng… ở
xung quanh vị trí của khách hàng.
Việc các thiết bị di động cá nhân có tích hợp GPS (Global Positioning
System)ngày càng phổ biến trong cuộc sống càng tạo điều kiện cho phép các nhà phát
triển ngiên cứu mở rộng các ứng dụng về dịch vụ dựa trên vị trí.
Cùng với sự phát triển mạnh mẽ của dịch vụ Điện toán đám mây (Điện toán đám
mây) và công nghệ mạng di động, sự tăng nhanh số lƣợng các thiết bị di động sử dụng
dịch vụ lƣu trữ đám mây để mở rộng khả năng lƣu trữ cũng nhƣ khả năng chia sẻ dữ
liệu. Với ƣu điểm không cần mất quá nhiều chi phí khởi tạo bảo trì hệ thống máy chủ,
với khả năng đáp ứng đến 99.99% thời gian hoạt động, khả năng mở rộng, Điện toán
đám mây đang là một lựa chọn khả thi cho các doanh nghiệp phát triển và cung cấp
các dịch vụ nội bộ và cho khách hàng.
Ở Việt Nam hiện nay, việc xây dựng dịch vụ trên nền tảng Điện toán đám mây
còn là một lĩnh vực mới đang đƣợc nghiên cứu và ứng dụng. Vì vậy, luận văn tập

dây và vị trí địa lý của thiết bị di động[10].
Dịch vụ LBS là phần giao của ba công nghệ chính đƣợc thể hiện nhƣ trong hình
1.1, bao gồm: GIS – cơ sở dữ liệu không gian, Internet và thiết bị di động – định vị
toàn cầu [1],[2].

Hình 1.1: Các hệ thống thông tin tích hợp
Hình 1.1 cho thấy các loại hệ thống thông tin tích hợp đƣợc hình thành nhƣ sau:
 Hệ thống WebGIS đƣợc hình thành từ việc tích hợp Internet và GIS/CSDL
không gian.
Web GIS
GIS di động
Internet
di động
LB
S
Trang 12

 Hệ thống GIS di động (Mobile GIS) đƣợc hình thành từ việc tích hợp
GIS/CSDL không gian và các thiết bị di động nhƣ điện thoại di động và GPS.
 Hệ thống Internet di động (Mobile Internet) đƣợc hình thành trên cơ sở tích
hợp các thiết bị di động nhƣ điện thoại di động và Internet.
Dịch vụ LBS đƣợc hình thành từ việc tích hợp ba loại công nghệ GIS/CSDL
không gian, mạng Internet và các thiết bị di động.
Dịch vụ LBS có khả năng cung cấp 2 nhóm hoạt động chính là liên lạc thông tin
và tƣơng tác qua lại giữa khác hàng và dịch vụ. Vì thế, ngƣời sử dụng có thể cho nhà
cung cấp dịch vụ biết trong bối cảnh hiện tại thì các loại thông tin họ cần và phù hợp
với họ, với vị trí của họ. Hệ thống sẽ cung cấp các thông tin hoàn toàn phù hợp với
ngƣời sử dụng hoặc các thông tin do ngƣời sử dụng yêu cầu.
Các ứng dụng dịch vụ LBS đƣợc chia thành 4 nhóm chính [9]:
 Dịch vụ thông tin và dẫn đƣờng (Information and navigation services): LBS

 Nhà cung cấp ứng dụng và dịch vụ (Service and Content Provider)
 Nhà cung cấp dữ liệu và nội dung/CSDL không gian (Geodatabase)
Các thành phần của hệ thống dịch vụ LBS đƣợc mô tả nhƣ trong hình 1.3, bao
gồm:

Hình 1.3: Các thành phần cơ bản của LBS
Các thiết bị di động (Mobile Devices)
Là công cụ để ngƣời sử dụng đƣa ra các yêu cầu về thông tin mong muốn. Kết
quả trả về có thể là tiếng nói, hình ảnh, văn bản… Các thiết bị di động có thể là PDA,
điện thoại di động (Cell Phones), máy tính cá nhân (Laptop), các thiết bị dẫn đƣờng
trên ô tô…
Thiết bị định vị (Positioning)
Trang 14

Một thành phần cơ bản của hệ thống LBS là các thiết bị định vị. Để các dịch vụ
LBS hoạt động, vị trí của ngƣời sử dụng cần đƣợc xác định. Ví trí ngƣời sử dụng có
thể thu nhận thông tin thôn gqua mạng truyền tin di động, GPS ở ngoài trời (Outdoor),
mạng sóng radio ở trong nhà (Indoor). Nếu vị trí của ngƣời sử dụng không đƣợc định
vị tự động thì ngƣời sử dụng có thể cho biết vị trí của mình một cách thủ công
(manual).
Mạng truyền tin (Communication Network)
Có nhiệm vụ truyền tải dữ liệu và các yêu cầu dịch vụ từ thiết bị di động đến các
nhà cung cấp dịch vụ, đồng thời truyền tải thông tin kết quả trở lại cho ngƣời sử dụng.
Nhà cung cấp ứng dụng và dịch vụ (Service and Content Provider)
Nhà cung cấp dịch vụ có trách nhiệm cung cấp các dịch vụ khác nhau tới ngƣời
sử dụng, có trách nhiệm xử lý các yêu cầu dịch vụ do ngƣời sử dụng gửi lên thông qua
mạng truyền tin. Các dịch vụ đƣợc cung cấp phải có các chức năng cơ bản nhƣ xác
định vị trí, tìm đƣờng đi (ngắn nhất, nhanh nhất), tìm kiếm các thông tin liên quan đến
vị trí theo yêu cầu của ngƣời sử dụng.
Nhà cung cấp dữ liệu và nội dung/CSDL không gian (Geodatabase)

 Giới hạn: Hầu hết các thiết bị đa mục đích đều có chức năng tính toán và bộ
nhớ nguồn giới hạn, có giới hạn không gian tính toán, các điều khiển. Vì vậy, các tính
toán đƣợc chủ yếu thực hiện trên dịch vụ máy chủ (Server) rồi gửi kết quả cho ngƣời
dùng. Bên cạnh đó, còn có các giới hạn về nguồn pin của thiết bị, màn hình hiển thị
nhỏ, ảnh hƣởng của môi trƣờng…

Trang 16

Hình 1.5: Các thiết bị di động
Mạng di động không dây
Mạng di động không dây có nhiệm vụ chuyển đổi dữ liệu ngƣời dùng và thông
điệp yêu cầu dịch vụ từ thiết bị di động đầu cuối đến nhà cung cấp dịch vụ, đồng thời
gửi các thông tin kết quả đã đƣợc xử lý đến ngƣời dùng. Mạng không dây thƣờng đƣợc
sử dụng là WWAN – Wireless Wide Area Networkví dụ GMS và UMTS,WLAN –
Wireless Local Area Network ví dụ IEEE 802.11 chuẩn b/g/n và WPAN – Wireless
Personal Area Network ví dụ Bluetooth. Trong đó:
 WWAN: phạm vi hoạt động của mạng từ 100m – 35km. Các phổ tần số phổ
thông đều phải đăng ký, do các cơ quan có thẩm quyền quản lý. Thế hệ mạng
đầu tiên (tƣơng tự G1) đƣợc đƣa ra ứng dụng cho dịch vụ radio, có tốc độ
truyền dữ liệu khá thấp (4.8kbps). Hệ thống di động toàn cầu (GSM) và dịch
vụ sóng vô tuyến (GPRS) là mạng thế hệ 2 (ký hiệu G2) có tốc dộ truyền dữ
liệu cao hơn (GSM: 9.6 – 14kpbs; GPRS: 20 – 115kbps). Tuy nhiên, tốc độ
này chƣa đủ đáp ứng cho các ứng dụng đa phƣơng tiện, vì thế, các nhà khoa
họcđang nghiên cứu phát triển thế hệ mạng thứ 3. Hiện nay, tại châu Âu có
hệ thống băng tần UMTS (hệ thống truyền thông vũ trụ không dây), cho phép
tốc độ lên tới 2Mbps.
 WLAN: có vùng phủ sóng từ 10m – 150m (300m trong điều kiện ngoài trời).
Các phổ tần số đƣợc sử dụng miễn phí, không phải đăng ký, có tốc độ truyền
dữ liệu lên đến 100Mbps.
 WPAN: có vùng phủ sóng 10m – 100m.

Geospatial Consortium (OGC). ISO 19119 cung cấp một dịch vụ khung chung và ISO
19101 đem lại sự phân loại các dịch vụ địa lý, còn OGC định nghĩa cho các dịch vụ
định vị mở (OpenLS).
OpenLS định nghĩa các dịch vụ cơ bản nhất (core), chúng truy cập và trừu tƣợng
hóa các kiểu dữ liệu, tạo thành một khung mẫu cho dịch vụ mở, đƣợc gọi là
GeoMobility Server. Trong đó, Server hành động nhƣ một ứng dụng máy chủ để trả
lời các yêu cầ dịch vụ. Vai trò của Server đƣợc mô tả nhƣ hình 1.6

Hình 1.6: Vai trò của GeoMobility Server
Trang 18

OpenLS 1.1 định nghĩa các kiểu dịch vụ thành 5 kiểu chính:
 Dịch vụ thư mục: Dịch vụ này cung cấp các truy nhập vào một thƣ mục
trực tuyến để tìm kiếm một địa điểm gần
nhất hoặc một địa điểm cụ thể, sản phẩm
hoặc dịch vụ. Ví dụ: “Điểm đặt ATM của
ngân hàng X ở đâu?”, “Điểm đặt ATM
gần khách sạn nhất nằm ở đâu?”, “Trong
bán kính 1km, có điểm đặt ATM nào?”…
 Dịch vụ cổng vào: Đây là giao diện giữa GeoMobility Server và Location
Server. Nó đƣợc sử dụng để yêu cầu đặt
câu hỏi từ vị trí hiện tại tới các điểm khác
nhau (các điểm tiện ích), hay vị trí hiện tại
là ở đâu?

 Dịch vụ vị trí hữu ích: Dịch vụ này thực
hiện nhƣ một Geocode bằng việc xác định
rõ vị trí địa lý. Ví dụ: tên địa điểm, tên địa
chỉ đƣờng phố, mã thƣ tín…


viên quốc gia… Ví dụ đầu tiên là xác định vị trí và phạm vi hoạt động của
ngƣời tàn tật nhằm có thể quan sát, hỗ trợ bệnh nhân tốt hơn. Đồng thời,
dịch vụ kiểm tra sẽ xác định và cảnh báo mỗi khi đối tƣợng đi vào vùng
nguy hiểm. Ví dụ thứ hai, LBS đƣợc ứng dụng để quản lý các vùng đặc biệt
trong công viên: diện tích rừng phòng hộ, rừng nguyên sinh, vùng dịch
bệnh… hay dùng để xác định phạm vi hoạt động của các cá thể động vật quí
hiếm cần bảo vệ sinh hoạt trong vùng rừng quốc gia.
 Các ứng dụng LBS phổ biến đƣợc xây dựng và đƣa ra sử dụng đại trà bởi
các nhà cung cấp truyền thông nhƣ AT&T, Vodaphone… hay các công ty
cung cấp dịch vụ bản đồ số Google, Diadiem.com …
Chúng ta có thể phân loại các nhà cung cấp dữ liệu khác nhau:
 Dịch vụ thư mục: nhà cung cấp dịch vụ trang vàng (Yellow Pages) trong
vùng, quốc gia hoặc quốc tế; các công ty vận tải (xe buýt, xe khách toàn
quốc, taxi…); các dịch vụ tìm kiếm Internet (Google.com, Bing.com…); các
dịch vụ thông tin tiêu dùng Internet (Ciao.com) và các trang Web cá nhân
(Personal Site, Website của công ty…); thƣ viện điện tử nhƣ Wikipedia; các
dịch vụ thời tiết, giải trí, thông tin thời sự…
 Dịch vụ cổng vào: các dịch vụ định vị, các nhà cung cấp vị trí
 Các dịch vụ vị trí hữu dụng: các nhà cung cấp dữ liệu (chi nhánh bƣu điện
quốc gia), dữ liệu đƣờng phố (NAVTEQ, tele Atlas).
 Dịch vụ trình diễn: Nhà cung cấp ảnh Ăngten và vệ tinh (trung tâm thời tiết,
trung tâm viễn thám quốc gia); nhà cung cấp bản đồ (Cục bản đồ quốc gia,
NXB Bản đồ); nhà cung cấp dịch vụ bản đồ số (Gmap, Gearth, Diadiem…)
 Dịch vụ định tuyến: các nhà cung cấp dữ liệu đƣờng phố, các nhà quản trị,
qui hoạch thành phố… và các dịch vụ định tuyến đƣợc kết nối với các dịch
vụ trình diễn (maps.google.com, Bingmap.com, diadiem.com…)
Trang 20

1.4 Đặc điểm của LBS
Các dịch vụ LBS sẽ khác nhau dựa vào các mốc nhận thức nhƣ biển chỉ đƣờng,
Hình 1.7: Các kiểu ngữ cảnh khác nhau theo Nivala (2003)
Trong đó:
 Người dùng di động: đặc điểm về ngƣời dùng rất quan trọng, các ứng dụng
cần quan tâm đến các vấn đề sau:
- Tuổi và giới tính: trẻ em không quan tâm đến quầy bar nhƣng quan
tâm đến các khu vui chơi giải trí…
- Đặc điểm liên quan: ngôn ngữ, tập quán…
- Bạn bè và cộng sự: nếu ngƣời dùng muốn hợp tác…
 Vị trí: là thành phần đƣợc quan tâm phổ biến của ngữ cảnh. Nó cho phép có
các thông tin định vị. Ví trí của ngƣời dùng có thể đƣợc xác thực, ví dụ miêu
tả một liên kết địa lý, hoặc sự liên quan địa lý nhƣ phòng trong tòa nhà.
 Thời gian: thời gian có thể là thời gian tức thời trong ngày hoặc khoảng thời
gian nhƣ buổi sáng, buổi trƣa, buổi chiều hoặc tối, cũng có thể là ngày trong
tuần, ngày trong năm… Trong một môi trƣờng thời gian của dịch vụ thì thời
gian phải đƣợc xác định.
 Sự định hướng: sự định hƣớng của ngƣời dùng là rất quan trọng để xác định
xu hƣớng của ngƣời dùng. Trong dịch vụ định hƣớng phải kiểm tra đƣợc
ngƣời dùng đang ở đâu trong thứ tự định hƣớng.
 Lịch sử dẫn đường: cho phép ngƣời dùng quan sát họ đã ở đâu và họ đã làm
gì. Điều này cho phép các dịch vụ đƣa ra các gợi ý cho ngƣời dùng trong khi
họ di chuyển và cho phép họ quay lại khi bị lạc đƣờng. Nó còn giúp tạo ra
tiểu sử ngƣời dùng, làm tăng giá trị cho các thông tin liên quan.
 Mục đích sử dụng: đƣợc định nghĩa bằng các hành vi, mục tiêu, công việc và
các vai trò của ngƣời dùng. Có các kiểu khác nhau nhƣ:
Trang 22

- Kiểu thông tin
- Kiểu trình diễn: bản đồ, văn bản, âm thanh

ra nó vì họ đang trong một tình huống khẩn cấp (nhƣ bị thƣơng, tội phạm tấn công…).
Ví dụ 1: ngƣời lái xe thƣờng không biết vị trí chính xác của họ khi phƣơng tiện
của họ bị tai nạn. Nhờ việc định vị chính xác tự động sẽ giúp cho các dịch vụ trợ giúp
khẩn cấp cung cấp nhanh chóng và hiệu quả. Nó bao gồm cả loại công cộng và riêng
tƣ cho cả ngƣời đi bộ và ngƣời lái xe. Các dịch vụ khẩn cấp công cộng có thể gọi lính
cứu hỏa, đội cứu thƣơng… theo đúng quy định, các tổ chức công cộng giúp đỡ khẩn
cấp trên đƣờng cho những ngƣời lái xe xuất hiện là một trong những triển vọng của
các dịch vụ giúp đỡ.
Ví dụ 2: dịch vụ Tìm kiếm và Cứu nạn (SAR -Search and rescue) nhƣ trong hình
1.9. Dịch vụ này là một trong những ví dụ lâu nhất cho một hệ thống dịch vụ khẩn cấp
dựa trên vị trí. Đèn hiệu Radio …trên những chiếc thuyền biển hoặc đèn hiệu nhỏ trên
ngƣời truyền tín hiệu radio trong trƣờng hợp khẩn cấp. Hệ thống sẽ khoanh vùng từ
đèn hiệu nhỏ với tín hiệu radio (nhƣ tín hiệu giải cứu hoặc vệ tinh) đến đèn hiệu và
chuyển vị trí GPS hiện tại của họ thông qua vệ tinh đến dịch vụ khẩn cấp.

Trang 24 Hình 1.9: Tổng quan hệ thống COSPAS-SARSAT (vệ tinh NOAA và dịch vụ thông tin,
2005)
Dịch vụ dẫn đƣờng
Dịch vụ dẫn đƣờng dựa trên thiết bị di động của ngƣời dùng. Cần định hƣớng
trong giới hạn vị trí địa lý hiện tại của họ. Mạng di động có khả năng định vị chính xác
vị trí thiết bị di động của ngƣời dùng, có thể đƣợc đƣa vào một loạt các dịch vụ dẫn
đƣờng. thiết bị điều khiển sẽ cho ngƣời dùng biết chính xác địa điểm họ muốn một
cách tốt nhất, đƣa ra cho họ hƣớng chi tiết để đi nhƣ thế nào đến đích.
Ví dụ: Từ vị trí của điện thoại di động, ngƣời điều khiển có thể cho phép ngƣời
dùng biết chính xác nơi họ muốn đến và xác định hƣớng đi nhƣ thế nào để đến đích.
Trong hầu hết các hệ thống dẫn đƣờng ô tô hiện nay, thông tin khác với lộ trình và dữ
liệu đƣờng đi không có trong thiết bị di động. ngƣời dùng tính toán lại lộ trình thông

mình, các công ty ngày nay hoàn toàn có thể xây dựng cho một một hệ thống cung cấp
dịch vụ LBS cho riêng mình. Có thể lấy ví dụ nhƣ dịch vụ truy vấn cây ATM, phòng
giao dịch của riêng ngân hàng …
Tuy nhiên, đối với các công ty có qui mô vừa và nhỏ, chi phí cho xây dựng và
duy trì hệ thống dịch vụ LBS là một khoản chi phí không phải là nhỏ. Cùng với sự ra
đời của công nghệ điện toán đám mây (Điện toán đám mây), hạn chế về chi phí cao
trong việc xây dựng và duy trì các hệ thống dịch vụ LBS đã đƣợc khắc phục phần nào.
Việc kết hợp hai công nghệ để xây dựng các dịch vụ LBS trên nền tảng điện toán đám
mây là một chủ đề đang đƣợc nghiên cứu và phát triển hiện nay không chỉ ở Việt Nam
mà còn cả trên thế giới.
Trong chƣơng II của luận văn sẽ giới thiệu tổng quan, các ƣu và nhƣợc điểm của
công nghệ mới đang đƣợc quan tâm hiện nay: công nghệ Điện toán đám mây.

Trang 27

CHƢƠNG II: CÔNG NGHỆ ĐIỆN TOÁN ĐÁM MÂY

Chương này đưa ra một cái nhìn tổng quan nhất về
Điện toán đám mây, về lợi ích và hạn chế khi áp dụng Điện
toán đám mây trong thực tế.
Giới thiệu về công nghệ Điện toán đám mây của
Google – Google App Engine.

Khái niệm và mô hình Điện toán đám mây mới xuất hiện gần đây, đang phát triển
rất mạnh mẽ và sôi nổi nhƣ một trào lƣu mới, các công ty cung cấp dịch vụ Đám mây
ngày càng nhiều, cung cấp các dịch vụ ngày càng đa dạng. Đặc điểm nổi bật của Điện
toán đám mây chính là khả năng co giãn linh hoạt, sự tiện lợi và giảm tối đa chi phí
cho ngƣời dùng. Chính điều này thu hút sự quan tâm của rất nhiều doanh nghiệp khi
bƣớc chân vào Điện toán đám mây.
Các định nghĩa của Điện toán đám mây vẫn chƣa thống nhất. Trong số nhiều

dạng dịch vụ có khả năng mở rộng đƣợc. Tuy nhiên, các công ty nhƣ Gartner, IDC,
Merrill Lynch, The 451 Group [11] không phải là các công ty chuyên về IT cho nên
những định nghĩa này tập trung vào giải thích Điện toán đám mây là “nhƣ thế nào” và
chủ yếu dựa trên kinh nghiệm của các công ty này.
Đứng ở góc nhìn khoa học kỹ thuật cũng có nhiều định nghĩa khác nhau, trong đó
có hai định nghĩa của Ian Foster và Rajkumar Buyya đƣợc dùng khá phổ biến và có
nhiều điểm tƣơng đồng.
Theo Ian Foster: Điện toán đám mây là một mô hình điện toán phân tán có tính
co giãn lớn mà hƣớng theo co giãn về mặt kinh tế, là nơi chứa các sức mạnh tính toán,
kho lƣu trữ, các nền tảng và các dịch vụ đƣợc trực quan, ảo hóa và co giãn linh động,
sẽ đƣợc phân phối theo nhu cầu cho các khách hàng bên ngoài thông qua Internet (“A
large-scale distributed computing paradigm that is driven by economies of scale, in
which a pool of abstracted, virtualized, dynamically scalable, managed computing
power, storage, platforms, and services are delivered on demand to external customers
over the Internet”[6]).
Theo Rajkumar Buyya: Cloud là một loại hệ thống phân bố và xử lý song gồm
các máy tính ảo kết nối với nhau và đƣợc cung cấp động cho ngƣời dùng nhƣ một hoặc
nhiều tài nguyên đồng nhất dựa trên sự thỏa thuận dịch vụ giữa nhà cung cấp và ngƣời
sử dụng. (“A Cloud is a type of parallel and distributed system consisting of a
collection of interconnected and virtualised computers that are dynamically
provisioned and presented as one or more unified computing resources based on
service-level agreements established through negotiation between the service provider
and consumers”[4]).


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status