Nghiên cứu và phát triển hệ thống thông tin quản lý chất thải nguy hại môi trường trên nền GIS - Pdf 25


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHỆ
==================================

Đặng Chiến Công NGHIÊN CỨU VÀ PHÁT TRIỂN HỆ THỐNG THÔNG
TIN QUẢN LÝ CHẤT THẢI NGUY HẠI MÔI
TRƯỜNG TRÊN NỀN GIS

LUẬN VĂN THẠC SỸ

Hà Nội – 2011 4

MỤC LỤC

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT 6
DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ 7
CHƯƠNG 1: ĐẶT VẤN ĐỀ 9
1.1. Tính cần thiết, ý nghĩa của đề tài 9
1.2. Cấu trúc luận văn 10
CHƯƠNG 2: BÀI TOÁN QUẢN LÝ CHẤT THẢI NGUY HẠI 11
2.1. Tổng quan về chất thải nguy hại 11
2.2. Kinh nghiệm quốc tế về hệ thống thông tin quản lý chất thải nguy hại 13
2.3. Hiện trạng quản lý thông tin chất thải nguy hại 14
2.4. Hệ thống thông tin quản lý chất thải nguy hại 16
2.4.1. Khái niệm Hệ thống thông tin quản lý 16
2.4.2. Hệ thống thông tin quản lý chất thải nguy hại 17
2.5. Kết luận 19
CHƯƠNG 3: HỆ THỐNG THÔNG TIN ĐỊA LÝ VÀ ỨNG DỤNG XÂY
DỰNG BẢN ĐỒ CHUYÊN ĐỀ 20
3.1. Giới thiệu chung Hệ thống thông tin địa lý (GIS) 20
3.1.1. Định nghĩa GIS 20

CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN 61
5.1. Kết quả đạt được 61
5.2. Hướng phát triển của đề tài 61
PHỤ LỤC 63
Phụ lục A. Bảng một số thuật ngữ 63
Phụ lục B. Bảng phân cấp độ ổn định của khí quyển 64
TÀI LIỆU THAM KHẢO 65 6

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT Từ viết tắt
Từ gốc
Nghĩa tiếng Việt
CTNH

Chất thải nguy hại
CSDL

Cơ sở dữ liệu
DBMS
Database Management System
Hệ quản trị dữ liệu
ĐVHC

Đơn vị hành chính
GIS

Hình 3.1.3.2
Dữ liệu Raster
Hình 3.1.3.3
Tổ chức các lớp bản đồ
Hình 3.1.4.1
Mô hình dữ liệu phân cấp
Hình 3.1.4.2
Mô hình dữ liệu mạng
Hình 3.1.4.3
Mô hình dữ liệu quan hệ
Hình 3.2.6.2.1
Xử lý số liệu bằng phƣơng pháp phân nhóm
Hình 3.2.6.2.2
Lựa chọn các hình thức biểu hiện
Hình 3.3.2.1
Bản đồ ô nhiễm bụi lơ lửng trong mùa hè năm 1996
Hình 3.3.2.2
Bản đồ ô nhiễm bụi lơ lửng trong mùa hè dự báo cho năm
2000
Hình 4.1.2.1
Mô hình kiến trúc tổng thể hệ thống CTNH ứng dụng GIS
Hình 4.1.2.2
Minh họa trình bày hiện trạng xử lý CTNH theo dải màu
Hình 4.1.2.3
Minh họa trình bày thống kê hiện trạng xử lý CTNH theo biểu
đồ dạng bánh
Hình 4.1.2.4
Minh họa trình bày vùng đệm cảnh báo ảnh hƣởng CTNH đến
môi trƣờng
Hình 4.2.1.1

bao quát rộng, có nhiều thông tin và khả năng cũng cấp thông tin nhanh có chất
lƣợng và độ tin cậy cao, hệ thống thông tin địa lý (Geographic Information
System - GIS) đã trở thành một công cụ quan trọng trợ giúp quá trình hoạch
định chiến lƣợc và kế hoạch/chính sách bảo vệ môi trƣờng cho các quốc gia
cũng nhƣ các vùng lãnh thổ.
Các quốc gia trên thế giới đã và đang xây dựng các hệ thống cảnh báo thiên
tai, dự báo tác động biến đổi khí hậu đối với môi trƣờng, hệ thống thông tin cảnh
báo cúm gia cầm, hệ thống cảnh báo sự cố tràn dầu dải ven biển … dựa trên
công nghệ GIS. Công nghệ GIS đang là xu thế mới cho việc hiển thị, xử lý và hỗ
trợ ra quyết định nhanh hơn. Một ví dụ cụ thể tại Australia [8], các cơ quan
chính phủ đang ra sức nghiên cứu hệ thống cảnh báo cháy rừng dựa trên nền
GIS. Ngay sau khi dữ liệu có liên quan đến các yếu tố cơ bản của khí tƣợng nhƣ:
Nhiệt độ, độ ẩm, lƣợng mƣa của từng vùng khí hậu trên địa bàn, hệ thống thông
tin sẽ đƣa ra đƣợc cảnh báo cháy rừng đối với từng khu vực nhạy cảm. Kết thúc
một tháng trong mùa cháy hoặc cả mùa cháy, phần mềm phân vùng trọng điểm
cháy rừng sẽ tự động vẽ bản đồ vùng trọng điểm cháy. Hệ thống đƣợc xây dựng
dƣới dạng website nên có thể tự động kết nối và cập nhật kết quả cảnh báo cháy
rừng và bản đồ vùng tọng điểm cháy rừng tới thành viên trong ban chỉ đạo
Phòng cháy chữa cháy (PCCC). Do đó hỗ trợ hiệu quả công tác huy động lực
lƣợng, tổ chức chữa cháy rừng, ngăn chặn kịp thời các điểm có nguy cơ cháy
rừng để giảm thiểu thiệt hại do cháy rừng gây ra [8].
Nhằm đáp ứng các yêu cầu cung cấp thông tin cho quá trình ra quyết định
về bảo vệ môi trƣờng ở nƣớc ta, một nhu cầu cấp thiết do thực tế đặt ra là cần
sớm sử dụng và đƣa công nghệ GIS vào việc thu thập, phân tích số liệu môi
trƣờng.
Thực tế về hiện trạng môi trƣờng đã cho thấy, việc quản lý chất thải không
an toàn, trong đó đặc biệt là các loại chất thải nguy hại, đã để lại những hậu quả
nặng nề về môi trƣờng, gây ảnh hƣởng tiêu cực đến sức khỏe cộng đồng nhƣ các
điểm tồn lƣu hóa chất, thuốc bảo vệ thực vật, các bãi rác thải không hợp vệ sinh,
các bãi đổ thải của các nhà máy sản xuất, Vì vậy, quản lý an toàn chất thải,

thuật xây dựng bản đồ chuyên đề và trình bày bản đồ chuyên đề. Chƣơng này
đồng thời nghiên cứu phƣơng pháp xác định mức độ ô nhiễm môi trƣờng không
khí theo “nồng độ tƣơng đối tổng cộng của nhiễm chất ô nhiễm đồng thời có mặt
trong không khí” và ứng dụng Gis để thể hiện phạm vi ảnh hƣởng.
Chương 4: Trình bày hệ thống quản lý CTNH ứng dụng GIS cảnh báo tác
động của các điểm xử lý CTNH đối với môi trƣờng xung quanh. Chƣơng này
cũng trình bày các bƣớc thực hiện chƣơng trình, kết quả đạt đƣợc và một số hình
ảnh minh họa chƣơng trình.

11 CHƯƠNG 2: BÀI TOÁN QUẢN LÝ CHẤT THẢI NGUY HẠI
2.1. Tổng quan về chất thải nguy hại
Chất thải nguy hại là chất thải gây ra mối đe dọa lớn hay tiềm ẩn đối với
sức khỏe của cộng đồng hay đối với môi trƣờng [15]. Theo luật về môi trƣờng
của Hoa Kỳ, CTNH có bốn đặc tính chính bao gồm: Dễ cháy; Phản ứng; Ăn
mòn; Có tính độc.
Chất thải nguy hại có thể phân loại theo thành những loại sau: [1]
Chất thải công nghiệp và công nghiệp nguy hại: Hiện nay, các cơ sở sản
xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp phát triển rất đa dạng về ngành nghề, từ
công nghiệp hoá chất, luyện kim, dệt nhuộm, giấy và bột giấy… đến nhựa, cao
su tái sinh, nấu đúc kim loại Các cơ sở này thuộc nhiều thành phần kinh tế do
các ngành, các cấp khác nhau quản lý, nhƣ Trung ƣơng, địa phƣơng, cơ sở liên
doanh với nƣớc ngoài và tƣ nhân. Hoạt động sản xuất của các cơ sở này phát
sinh chất thải nhiều và đa dạng.
Chất thải rắn y tế: Hiện nay cả nƣớc có khoảng hơn 12.500 cơ sở khám
chữa bệnh, trong đó có khoảng 850 cơ sở là các bệnh viện với quy mô khác
nhau. Phần lớn các bệnh viện đặt trong các khu dân cƣ đông đúc. Trong năm
2001, Bộ Y tế tiến hành khảo sát tại 280 tại bênh viện đại diện cho 61 tỉnh,

lấp chung. Các bãi rác nhƣ vậy đang là các nguồn gây ô nhiễm không khí, nƣớc
và dịch bệnh cho dân cƣ xung quanh nếu không đƣợc kiểm soát chặt chẽ.
Về cơ bản, quản lý chất thải bao gồm các công đoạn: Nhận biết, phân loại,
thu gom lƣu giữ chất thải; Tái sử dụng, tái chế chất thải; Xử lý tiêu hủy chất
thải.
Ở nƣớc ta hiện nay, việc thu gom, vận chuyển và xử lý chất thải rắn trong
đó bao gồm cả chất thải công nghiệp và chất thải nguy hại do các công ty môi
trƣờng đô thị thực hiện. Các công ty môi trƣờng đô thị chịu sự giám sát của
UBND tỉnh, thành phố thông qua sở Tài nguyên và Môi trƣờng và Sở Giao
thông công chính. Bên cạnh đó, UBND quận, huyện cũng có trách nhiệm quản
lý các xí nghiệp môi trƣờng cấp huyện. Các công ty môi trƣờng đô thị có thể bao
gồm một số công ty con, chịu trách nhiệm thực hiện các công đoạn hoặc xử lý
các loại rác khác nhau.
Các công ty môi trƣờng đô thị dùng Công nghệ chôn lấp là chính: theo
thống kê của các Sở Tài nguyên và Môi trƣờng địa phƣơng và Hội Môi trƣờng
Đô thị thì trên cả nƣớc hiện nay có 82 bãi chôn lấp chất thải đang vận hành,
trong số đó chỉ có 8 bãi đƣợc coi là chôn lấp hợp vệ sinh. Tuy nhiên các bãi
chôn lấp này chôn lấp cả các chất thải nguy hại nhƣ pin, ắc quy, đèn neon, dầu
xe máy, mực in, tân dƣợc quá hạn, hộp nhựa đựng các loại mỹ phẩm, dầu gội,
kim tiêm, v.v…, vì chƣa đƣợc phân loại, tách ra để xử lý riêng.

13

Tỷ lệ thu hồi các chất có khả năng tái chế và tái sử dụng nhƣ nilon, giấy
vụn, kim loại, nhựa, thuỷ tinh chủ yếu do những ngƣời bới rác thực hiện, tỷ lệ
này vào khoảng 13%-20%. Tỷ lệ thu hồi các chất kể từ nguồn phát sinh đến bãi
chôn lấp tƣơng đối cao, tuy nhiên các hoạt động thu gom hoàn toàn do tự phát
và không có tổ chức, quản lý. Có khoảng 1,5%-5% tổng lƣợng chất thải phát
sinh đƣợc thu hồi, chuyển hoá thành phân vi sinh và chất mùn thông qua quá
trình composting. Bên cạnh đó, trên thực tế, nhiều hoạt động thu gom, xử lý, tái

nhiễm môi trƣờng nƣớc.
Hệ thống quản lý chứng từ chất thải và cấp phép điện tử (E-manifest) của
Hàn Quốc [5]: Là một hệ thống thông tin hỗ trợ quản lý chất thải co các chức
năng quản lý chứng từ và cấp phép đổ thải. Hệ thống cho phép các đối tƣợng là
cơ quan quản lý và các chủ nguồn thải, chủ vận chuyển, chủ xử lý chất thải cùng
tham gia. Việc cập nhật dữ liệu đƣợc thực hiện trên nền internet và trung tâm hỗ
trợ ngƣời dùng qua đƣờng điện thoại. Dữ liệu đƣợc lƣu giữ và xử lý với thời
gian thực. Cơ sở dữ liệu đƣợc xây dựng theo mô hình tập trung tại 1 máy chủ.
Hệ thống của Hàn Quốc đƣợc xây dựng từ năm 2000 và vẫn đang đƣợc tiếp tục
phát triển.
Hệ thống quản lý chứng từ chất thải điện tử của Nhật Bản [5]: Hệ thống
này cũng cho phép quản lý chứng từ và cấp phép đổ thải trên nền internet. Hệ
thống E-manifest của Nhật Bản bắt đầu đƣợc áp dụng phổ biến từ năm 2003.
Hiện nay có khoảng 1600 doanh nghiệp chủ nguồn thải và hơn 3000 doang
nghiệp vân chuyển, xử lý chất thải sử dụng hệ thống này.
Có thể thấy rằng đã có khá nhiều hệ thống thông tin hoặc hệ thống cơ sở dữ
liệu quản lý nguồn thải, lƣợng thải trên thế giới, tuy nhiên, chỉ có rất ít hệ thống
thông tin cho phép cập nhật thông tin, quản lý về chứng từ chất thải và hỗ trợ
cấp phép xả thải nhƣ các hệ thống của Nhật Bản và Hàn Quốc. Ngay cả tại Nhật
bản, việc chuyển từ sử dụng hệ thống chứng từ giấy sang chứng từ điện tử cũng
mới đƣợc thực hiện gần đây. Quá trình chuyển đối sử dụng hệ thống quản lý
chứng từ điện tử gặp không ít khó khăn do “sức ỳ” của hệ thống quản lý chứng
từ giấy cũ. Tại Hàn Quốc, với mức độ phổ cập công nghệ thông tin lớn và một
hệ thống thông tin điện tử E-manifest đƣợc thiết kế thuận tiện, việc quản lý
chứng từ chất thải nguy hại điện tử đã phổ biến tƣơng đối nhanh và mang lại lợi
ích đáng kể.
2.3. Hiện trạng quản lý thông tin chất thải nguy hại
Phân tích dữ liệu, thông tin và việc quản lý thông tin thu thập đƣợc trong
quá trình khảo sát hiện trạng, có thể nhận thấy một số vấn đề nổi bật sau.
Thông tin đa dạng nhưng không đầy đủ: Các thông tin về chất thải có thể

o Phƣơng pháp cập nhật, xử lý thông tin quy định không chặt chẽ, dẫn
tới không chuẩn hóa đƣợc thông tin. Ví dụ: Không có biểu mẫu báo
cáo cụ thể, chi tiết; quy trình báo cáo không rõ ràng về thời gian báo
cáo, nội dung báo cáo;
o Quy trình báo cáo chƣa rõ ràng, các đầu mối thông tin thiếu tập trung,
lƣu chuyển thông tin không hợp lý. Ví dụ: Các hoạt động điều tra,
khảo sát về chất thải của Cục Bảo vệ môi trƣờng do các đơn vị khác
nhau thuộc Cục cùng thực hiện, nhƣng lại đƣợc tổ chức theo các kênh
điều tra khác nhau, dẫn tới việc vừa chống chéo vừa thiếu thông tin,

16

o Thông tin phản hồi không tƣờng minh và thiếu chi tiết. Ví dụ: Trong
nhiều trƣờng hợp, mặc dù các biểu mẫu điều tra đã đƣợc thiết kế công
phu, hợp lý, tuy nhiên, thông tin thu lại đƣợc không đầy đủ do ngƣời
trả lời không có trách nhiệm, không hiểu chuyên môn hoặc quá mệt
mỏi.
Thực tế cũng cho thấy, những hạn chế về thông tin và xử lý liên quan đến
chất thải đã dẫn tới nhiều khó khăn, bất cập cho công tác quản lý môi trƣờng,
gián tiếp gây ra ô nhiễm môi trƣờng và những ảnh hƣởng tiêu cực đến sức khỏe
cộng đồng. Mặt khác, việc cập nhật thông tin về chất thải và quá trình xử lý
thông tin hợp lý sẽ góp phần tăng cƣờng hiệu quả quản lý, giảm đáng kể những
chi phí quản lý, tránh đƣợc sự lãng phí vô ích do tồn đọng và chống chéo thông
tin.
Việc quản lý thông tin về chất thải còn rất rời rạc, nhiều nơi có tính “cát cứ
thông tin”; không có quy định rõ ràng về cơ chế chia sẻ thông tin. Thông tin
đƣợc thu thập và lƣu giữ không cùng một định dạng chuẩn vì vậy không thuận
lợi cho việc chia sẻ, trao đổi thông tin. Trong khi đó, có thể thấy rõ mong muốn
đƣợc chia sẻ thông tin về chất thải từ nhiều phía khác nhau, bao gồm cả các cơ
quan quản lý nhà nƣớc Trung ƣơng và địa phƣơng, các cơ sở chủ nguồn thải

chính là dữ liệu và các xử lý. Dữ liệu là nguyên liệu của hệ thông tin đƣợc biểu
diễn đƣới nhiều dạng: văn bản, truyền khẩu, hình vẽ,… và những vật mang tin
nhƣ giấy, bảng từ, đĩa từ… Các xử lý bao gồm thông tin đầu vào qua các xử lý
thành thông tin đầu ra.
2.4.2. Hệ thống thông tin quản lý chất thải nguy hại
Mô hình kiến trúc hệ thống của hệ thống CTNH mô tả tổng thể các thành
phần của hệ thống theo các cách tiếp cận khác nhau. Hệ thống gồm các thành
phần chính sau:
Kiến trúc hệ thống:

18 Hình 2.4.1 Mô hình kiến trúc hệ thống Quản lý CTNH
Mô hình ngƣời sử dụng: Cung cấp khả năng về mặt chức năng (dịch vụ)
cho các đối tƣợng của hệ thống, ở đây là các doanh nghiệp (Chủ nguồn thải, Chủ
vận chuyển, Chủ xử lý), hệ thống quản lý (Sở, Cục) và ngƣời dân (cộng đồng)
theo mô hình 4 lớp.

Doanh nghiệp (CNT-CVC-CXL) lớp 3)
Cấp Sở TNMT (lớp 2)
Cấp Cục BVMT (lớp 1)
Hệ thống
thông tin
quản lý
CTNH

19

Hình 2.4.2.1 Mô hình người sử dụng

GỬI BCÁO
ĐĂNG KÝ
SỔ ĐĂNG

GỬI
CHỨNG TỪ
DANH MỤC
BÁO CÁO

THỐNG KẾ
PHÂN TÍCH
QUẢN TRỊ (ADMIN)
TRAO DỔI
THÔNG TIN
HỆ ĐTM
HỆ CT64
HỆ KHÁC
MẠNG LAN /WAN / INTERNET
CSDL
GIS/DSS/FM

20

CHƯƠNG 3: HỆ THỐNG THÔNG TIN ĐỊA LÝ VÀ ỨNG DỤNG XÂY
DỰNG BẢN ĐỒ CHUYÊN ĐỀ
3.1. Giới thiệu chung Hệ thống thông tin địa lý (GIS)
3.1.1. Định nghĩa GIS
GIS viết tắt của cụm từ Geographic Information System (Hệ thống thông
tin địa lý). Hiện nay có một só quan điểm về GIS nhƣ sau:
GIS là công cụ trên cơ sở máy tính để lập bản đồ và phân tích những hiện

và hiển thị.
Bản đồ là phƣơng tiện tốt nhất để hiển thị các thông tin địa lý. Các dữ liệu
không gian bao gồm ba loại đặc điểm: điểm, đƣờng và vùng; vị trí của chúng
đƣợc xác định bởi các tọa độ. Theo truyền thống, bản đồ là tờ giấy phẳng, nó có
tọa độ hai chiều. Bản đồ có các ký hiệu, bao gồm các đƣờng và màu sắc khác
nhau biểu thị các đặc điểm khác nhau. Bên cạnh thông tin không gian, còn có
các dữ liệu mô tả hoặc thuộc tính, chúng giải thích các đặc điểm của dữ liệu
không gian và mối liên hệ không gian xác định quan hệ của các đặc điểm bản
đồ. Tính chất thời gian cũng đƣợc bao gồm bởi vì phần lớn các dữ liệu là có liên
quan đến thời gian.
Dữ liệu trong hệ thống thông tin địa lý là những dữ liệu luôn thay đổi và
phức hệ. Chúng bao gồm những mô tả số của hình ảnh bản đồ, mối quan hệ
logic giữa các hình ảnh đó, những dữ liệu thể hiện các đặc tính của hình ảnh và
các hiện tƣợng xảy ra tại các vị trí địa lý xác định. Nội dung của cơ sở dữ liệu

22

đƣợc xác định bởi các ứng dụng khác nhau của hệ thống thông tin địa lý trong
một hoàn cảnh cụ thể.
3.1.3. Dữ liệu không gian
a. Khái niệm
Dữ liệu không gian là những mô tả số của hình ảnh bản đồ. Chúng bao gồm
toạ độ, quy luật và các ký hiệu dùng để xác định hình ảnh cụ thể của bản đồ
trong một khuôn dạng hiểu đƣợc của máy tính. Hệ thống thông tin địa lý dùng
các dữ liệu không gian để tạo ra một bản đồ hay hình ảnh bản đồ trên màn hình
hoặc trên giấy thông qua thiết bị ngoại vị. Có sáu loại thông tin bản đồ dùng để
thể hiện hình ảnh bản đồ và ghi chú của nó trong hệ thống thông tin địa lí, bao
gồm: Ðiểm (Point); Ðƣờng (Line); Vùng (Polygon); Ô lƣới (Grid cell); Ký hiệu
(Sympol); Ðiểm ảnh (Pixel)
Dữ liệu không gian có hai mô hình lƣu trữ là Vector và Raster.

Đây là dữ liệu đƣợc tạo thành bởi các ô lƣới có độ phân giải xác định. Loại
dữ liệu này chỉ dùng cho mục đích diễn tả và minh hoạ chi tiết bằng hình ảnh
thêm cho các đối tƣợng quản lý của hệ thống.
Một diện tích địa lý đƣợc chia thành các hàng-cột, tạo nên các điểm ảnh
(pixel). Độ lớn nhỏ của các hàng/cột (hay điểm ảnh) tạo nên độ phân giải của dữ
liệu. Ví dụ: điểm ảnh có kích thƣớc 10 x 10 m. Vị trí điểm ảnh đƣợc xác định
bởi số hàng/số cột.
Dữ liệu dạng raster có thể là dữ liệu thô (ảnh vệ tinh, file ảnh scan của bản
đồ, file chụp của máy ảnh số, …) hoặc là dữ liệu không gian của một số phần
mềm GIS.

Hình 3.1.3.2 Dữ liệu Raster và Vector [10]
Lớp đối tƣợng (layer): Thành phần dữ liệu đồ thị của hệ thống thông tin địa
lý hay còn gọi là cơ sở dữ liệu bản đồ đƣợc quản lý ở dạng các lớp đối tƣợng.
Mỗi một lớp chứa các hình ảnh bản đồ liên quan đến một chức năng, một ứng
dụng cụ thể. Lớp đối tƣợng là tập hợp các hình ảnh thuần nhất dùng để phục vụ
cho một ứng dụng cụ thể và vị trí của nó so với các lớp khác trong một hệ thống
cơ sở dữ liệu đƣợc xác định thông qua một hệ toạ độ chung. Việc phân tách các
lớp thông tin đƣợc dựa trên cơ sở của mối liên quan logic và mô tả họa đồ của
tập hợp các hình ảnh bản đồ phục vụ cho mục đích quản lý cụ thể
d. Cách thức tổ chức dữ liệu không gian
Để tiện phân tích và tổng hợp, dữ liệu không gian thƣờng đƣợc tổ chức
thành các lớp (layer / theme); cũng thƣờng đƣợc gọi là các lớp dữ liệu chuyên đề
(thematic layer).

24

Mỗi lớp dữ liệu thƣờng biểu diễn một tính chất liên quan đến vị trí trên mặt
đất. Ví dụ: lớp dữ liệu về ranh giới hành chính, về loại đất, về hiện trạng sử dụng
đất, …

3.1.4. Dữ liệu thuộc tính
a. Khái niệm
Là những mô tả về đặc tính, đặc điểm và các hiện tƣợng xảy ra tại vị trí địa
lí xác định mà chúng khó hoặc không thể biểu thị trên bản đồ đƣợc. Cũng nhƣ
các hệ thống thông tin địa lý khác, hệ thống này có 4 loại dữ liệu thuộc tính:
Ðặc tính của đối tượng: liên kết chặt chẽ với các thông tin đồ thị, các dữ
liệu này đƣợc xử lí theo ngôn ngữ hỏi đáp cấu trúc (SQL) và phân tích. Chúng
đƣợc liên kết với các hình ảnh đồ thị thông qua các chỉ số xác định chung, thông
thƣờng gọi là mã địa lý và đƣợc lƣu trữ trong cả hai mảng đồ thị và phi đồ thị.
Hệ thống thông tin địa lý còn có thể xử lí các thông tin thuộc tính riêng rẽ và tạo
ra các bản đồ chuyên đề trên cơ sở các giá trị thuộc tính. Các thông tin thuộc
tính này cũng có thể đƣợc hiển thị nhƣ là các ghi chú trên bản đồ hoặc là các
tham số điều khiển cho việc lựa chọn hiển thị các thuộc tính đó nhƣ là các ký
hiệu bản đồ.
Dữ liệu tham khảo địa lý: Mô tả các sự kiện hoặc hiện tƣợng xảy ra tại một
vị trí xác định. Không giống các thông tin đặc tính, chúng không mô tả về bản
thân các hình ảnh bản đồ, thay vào đó chúng mô tả các danh mục hoặc các hoạt
động nhƣ cho phép xây dựng các khu công nghiệp mới, nghiên cứu y tế, báo cáo
hiểm họa môi trƣờng. . . liên quan đến các vị trí địa lí xác định. Các thông tin
tham khảo địa lí đặc trƣng đƣợc lƣu trữ và quản lí trong các file độc lập và hệ
thống không thể trực tiếp tổng hợp với các hình ảnh bản đồ trong cơ sở dữ liệu
của hệ thống. Tuy nhiên các bản ghi này chứa các yếu tố xác định vị trí của sự
kiện hay hiện tƣợng.
Chỉ số địa lý: là các chỉ số về tên, địa chỉ, khối, phƣơng hƣớng định vị,
liên quan đến các đối tƣợng địa lí, đƣợc lƣu trữ trong Hệ thông tin địa lý để
chọn, liên kết và tra cứu dữ liệu trên cơ sở vị trí địa lý mà chúng đã đƣợc mô tả
bằng các chỉ số địa lý xác định. Một chỉ số địa lý có thể bao gồm nhiều bộ xác
định cho các thực thể sử dụng từ các cơ quan khác nhau nhƣ là lập danh sách

26


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status