ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHỆ
LÊ QUỲNH HOA
NGHIÊNCỨU VỀ TỐI ƯU HOÁ VIỆC CHUYỂN
GIAO DỌC GIỮA CÁC MÔI TRƯỜNG MẠNG
KHÔNG DÂY DI ĐỘNG KHÁC NHAU
LUẬN VĂN THẠC SĨ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: Tiến sĩ Nguyễn Hoài Sơn
HÀ NỘI – 2010
4
MỤC LỤC
CHƯƠNG 1 - TỔNG QUAN 10
1.1 Mạng không dây 10
1.2 Giao thức Mobile IP 11
1.2.1 Giới thiệu 11
1.2.2 Các thành phần của Mobile IP 12
1.2.3 Cơ chế hoạt động của Mobile IP 13
1.2.4 Các cải tiến của Mobile IP 15
CHƯƠNG 2: CHUYỂN GIAO DỌC TRONG MẠNG KHÔNG DÂY DI ĐỘNG19
2.1 Các khái niệm chuyển giao: 19
2.1.1 Chuyển giao cứng: 19
2.1.2 Chuyển giao mềm: 19
2.1.3 Chuyển giao ngang: 20
2.1.4 Chuyển giao dọc: 21
2.2 Chuyển giao dọc trong mạng không dây di động 22
2.2.1 Sự cần thiết của chuyển giao dọc 22
2.2.2 Các bước cơ bản của quá trình chuyển giao dọc: 23
2.2.3 Các nghiên cứu liên quan 26
CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP LẬP LỊCH TRONG MÔ HÌNH MẠNG HỖ TRỢ
CHUYỂN GIAO DỌC KẾT HỢP BĂNG THÔNG NHIỀU ĐƯỜNG TRUYỀN
TRONG MẠNG KHÔNG DÂY DI ĐỘNG 33
3.1 Đề xuất giải pháp 33
Danh sánh các nút khách
12
Hình 3
Hoạt động của giao thức Mobile IP
15
Hình 4
Định tuyến tam giác
16
Hình 5
Chuyển giao mềm và chuyển giao cứng
20
Hình 6
Một ví dụ về chuyển giao ngang
20
Hình 7
Một ví dụ về chuyển giao dọc
21
Hình 8
Kiến trúc OMNICon
24
Hình 9
Mô hình hỗ trợ sử dụng nhiều đường truyền trong giải pháp BAG
26
Hình 10
Sử dụng DC để đánh giá khả năng chuyển tải gói tin của các kết
nối
28
Hình 11
Kiến trúc mạng hỗ trợ chuyển giao dọc và kết hợ băng thông nhiều
đuờng truyền
Correspondent Node
CoA
Care of Address
FA
Foreign Agent
GPRS
General Packet Radio Service
HA
Home Agent
HoA
Home of Address
IPv4
Internet Protocol version 4
IPv6
Internet Protocol version 6
UMTS
Universal Mobile Telecommunications Systems
WLAN
Wireless LAN
3G
3th Generation
4G
4th Generation
đó, ngành công nghiệp sản xuất các thiết bị đầu cuối trên thế giới cũng đạt được nhiều
thành tựu đáng kể trong những năm qua. Một thiết bị đầu cuối giờ đây có thể được
trang bị nhiều hơn một loại giao diện mạng, điều đó giúp cho một nút mạng có nhiều
cơ hội để kết nối vào Internet hơn, bởi vì tại một thời điểm nào đó nút mạng có thể tìm
được sóng của một công nghệ mạng thích hợp với một trong các giao diện mà nó có.
8
Đã có nhiều nghiên cứu liên quan [3] đến việc sử dụng các công nghệ mạng không dây
được trang bị tại các thiết bị đầu cuối ra đời. Tuy nhiên, hầu hết các nghiên cứu này
đều đề cập đến việc sử dụng một giao diện đơn lẻ nào đó tại một thời điểm cho các yêu
cầu kết nối của các ứng dụng.
Như đã đề cập ở phần trên, với sự hỗ trợ của Mobile IP, các nút mạng giờ đây
đã có thể duy trì được các kết nối của mình trong khi đang di chuyển trong phạm vi
các vùng phủ sóng của các mạng không dây. Tuy nhiên, Mobile IP chỉ cho phép các
nút mạng di chuyển qua lại giữa các vùng phủ sóng của cùng một công nghệ mạng, ví
dụ như từ mạng WLAN này sang mạng WLAN khác. Trong thực tế, đôi khi người sử
dụng đầu cuối lại muốn di chuyển từ vùng phủ sóng của công nghệ mạng này sang
vùng phủ sóng của công nghệ mạng khác, ví dụ như từ mạng WLAN sang mạng
GPRS và ngược lại. Lúc đó, Mobile IP không thể đáp ứng được mong muốn của người
sử dụng. Xuất phát từ nhu cầu thực tế đó, nhiều nhà nghiên cứu đã đề xuất các giải
pháp [4][5] để hỗ trợ người sử dụng với các thiết bị cầm tay của mình di chuyển qua
lại giữa các mạng khác nhau. Đó chính là bài toán chuyển giao dọc. Chuyển giao dọc
cho phép các nút mạng có thể kết hợp băng thông của các đường truyền mà nó có để
truyền tải một ứng dụng nào đó như là tải một tập tin từ một nút mạng khác qua mạng
Internet. Tuy nhiên, việc kết hợp băng thông nhiều đường truyền lại đặt ra một bài
toán mới, làm thế nào để các gói tin được chuyển đến cho một nút mạng trên nhiều
đường truyền khả dụng khác nhau mà nó có một cách nhanh chóng nhất.
Với bài toán đặt ra, luận văn này tập trung giải quyết vấn đề: xây dựng một giải
pháp lập lịch để chuyển các gói tin gửi đến cho một nút mạng thông qua nhiều đường
truyền khác nhau. Mục đích của bài toán là nhằm làm tăng tốc độ truyền tải các ứng
dụng của một nút mạng khi nó được trang bị nhiều loại giao diện mạng khác nhau và 10
CHƢƠNG 1 - TỔNG QUAN
1.1 Mạng không dây
Ngày nay, việc kết nối các thiết bị đầu cuối với nhau như máy tính để bàn, máy
tính xách tay, máy in, máy quét hay các thiết bị cá nhân khác nhằm chia sẻ tài nguyên,
dữ liệu giữa chúng không còn xa lạ. Các thiết bị đầu cuối đó kết nối với nhau qua môi
trường truyền dẫn tạo thành mạng. Xét về phương thức kết nối, có thể chia thành hai
loại mạng: mạng có dây và mạng không dây.
Được xem là kiểu mạng truyền thống, mạng có dây là mạng sử dụng cáp mạng để
kết nối các thiết bị đầu cuối với nhau. Các thiết bị đầu cuối có thể nối trực tiếp với
nhau, cũng có thể thông qua môi trường truyễn dẫn nào đó. Tuy nhiên, trong những
môi trường không cho phép thi công cáp, dây dẫn thì mạng không dây là một giải pháp
đáng để lựa chọn. Mạng không dây là mạng được thiết lập bằng cách sử dụng tần số
sóng vô tuyến, sóng hồng ngoại, sóng vệ tinh hay để truyền thông giữa các thiết bị đầu
cuối. Ưu điểm nổi bật của mạng không dây so với mạng có dây truyền thống là các
thiết bị đầu cuối không cần sử dụng dây cắm vật lý giữa chúng và với nhà cung cấp
mạng, điều này mang lại những lợi điểm mà mạng có dây truyền thống không có được
như dễ thi công, nhất là ở những nơi không thể kéo cáp như nhà ga, sân bay, sân vận
động,… Cũng chính vì dễ thi công, dễ triển khai nên mạng không dây cũng dễ dàng để
mở rộng, bởi vì việc làm tăng một phạm vi phủ sóng ở một vị trí địa lý nào đó đôi khi
chỉ đơn giản là thiết lập thêm một Access Point ở khu vực đó. Mạng không dây có thể
là mạng số liệu không dây hay mạng viễn thông không dây.
Có một số mạng dữ liệu không dây dựa trên mạng tiếng nói không dây như mạng
điện thoại vô tuyến. Các mạng CPDP (Cellular Digital Packet Data), HSCSD (High
Speed Circuit Switched Data), PDP-C (Packet Data Cellular), GPRS (General Packet
Radio Service) là những ví dụ về loại mạng này. Một số mạng không dây khác được
nối TCP hiện tại, nút mạng lại phải giữ địa chỉ IP đang dùng. Việc thay đổi địa chỉ IP
sẽ làm cho kết nối này bị ngắt. Vậy làm thế nào để một nút mạng dù thay đổi điểm
truy cập Internet vẫn duy trì được các phiên truyền dữ liệu ở tầng ứng dụng? Đó chính
là một trong những vấn đề cần khắc phục của giao thức IP
Mobile Internet Protocol (gọi tắt là Mobile IP) là sự mở rộng của giao thức IP
được khuyến nghị bởi IETF và được trình bày cụ thể trong RFC 3344 đã giải quyết
được vấn đề nêu trên. Mobile IP cho phép các thiết bị đầu cuối có thể di chuyển trong
khi vẫn đang kết nối với Internet mà không cần phải thay đổi địa chỉ IP của mình.
Chính vì thế mà Mobile IP được mệnh danh là giao thức kết nối thế giới.
Mobile IP có nhiều phiên bản mở rộng và phát triển khác nhau như: MIPv4,
MIPv6, Fast MIP, Hierarchical MIP, Multiple CoA MIP, Proxy MIP, MobileNetwork
Mobility (NEMO), Hawaii,
12
1.2.2 Các thành phần của Mobile IP
Theo RFC 3344, Mobile IP bao gồm một số thành phần sau:
Mobile Node: là một nút mạng có thể di chuyển từ nơi này sang nơi khác. Mỗi
Mobile Node được gắn hai địa chỉ IP, một địa chỉ IP là điạ chỉ cố định gọi là home
address do mạng nhà của nút mạng cung cấp, nó được sử dụng để định danh một đầu
cuối liên kết; địa chỉ IP còn lại là địa chỉ tạm thời gọi là care_of_address, nó chỉ ra vị
trí hiện tại của Mobile Node. Có một cơ chế ánh xạ giữa hai địa chỉ này, nó được thực
hiện bởi một vài router đặc biệt thường được gọi là Mobility Agent. Có hai loại
Mobility Agent là Home Agent và Foreign Agent.
Home Agent: là một router thuộc mạng nhà của Mobile Node, nó duy trì việc ánh
xạ giữa hai địa chỉ IP cố định và IP tạm thời của các nút mạng trong bảng ánh xạ di
chuyển. Mỗi một dòng trong bảng ánh xạ di chuyển bao gồm các trường: địa chỉ IP cố
định, địạ chỉ IP tạm thời và thời gian sống của kết nối. Hình 1 chỉ ra bảng ánh xạ giữa
địa chỉ IP cố định và địa chỉ IP tạm thời do Home Agent lưu giữ.
Home Address
Care-of-Address
Life Time (in sec)
một nút mạng đang kết nối và trao đổi thông tin với Mobile Node. Correspondent
Node có thể là nút mạng di động hoặc không di động.
1.2.3 Cơ chế hoạt động của Mobile IP
Cơ chế hoạt động của Mobile IP được trình bày cụ thể trong RFC 3344. Có thể
tóm tắt hoạt động của Mobile IP như sau.
Khi một Mobile Node đăng nhập vào một mạng đầu tiên nào đó, nó được cấp một
địa chỉ IP cố định, gọi là home address. Địa chỉ này được Mobile Node sử dụng để gửi
và nhận các gói tin khi nó vẫn đang ở trong mạng nhà. Trong quá trình kết nối với
mạng, Mobile Node luôn lắng nghe các bản tin quảng bá được phát theo chu kỳ từ các
Mobility Agent. Các bản tin quảng bá luôn kèm theo thông tin về địa chỉ IP của
Mobile Agent, nhờ đó mà Mobile Node biết là nó có ở trong cùng một mạng với
Mobile Agent hay không và do đó, Mobile Node sẽ biết mình có đang ở trong mạng
nhà nữa hay không. Nếu phát hiện mình đã ra khỏi mạng nhà, Mobile Node sẽ tiến
hành quá trình tìm kiếm đại diện tạm trú Foreign Agent.
Ngoài ra, Mobile Node cũng có thể tự mình gửi bản tin tìm kiếm đại diện tạm trú
lên Mobility Agent nếu nó không muốn chờ đợi các các bản tin quảng bá được phát
theo chu kỳ. Khi đã tìm được một đại diện tạm trú Foreign Agent, Mobile Node bắt
đầu quá trình đăng ký.
Quá trình đăng ký bao gồm một số bước cơ bản như sau:
- Đầu tiên Mobile Node gửi một bản tin yêu cầu đăng ký bao gồm địa chỉ
home address của Mobile Node và địa chỉ IP của Home Agent đến Foreign
Agent mà nó vừa tìm được.
- Foreign Agent, thay mặt Mobile Node sẽ gửi bản tin yêu cầu đăng ký đến
Home Agent. Bản tin này bao gồm địa chỉ IP cố định của Mobile Node và
địa chỉ của Foreign Agent.
14
- Tiếp đó, Home Agent sẽ cập nhật các thông tin vừa nhận được trong bảng
ánh xạ địa chỉ của nó, đồng thời gửi bản tin xác nhận việc đăng ký đã thành
công cho Foreign Agent.
- Sau cùng, Foreign Agent thêm vào danh sách các nút khách của nó các thông
MNCN
MNCN
Encapsulated IP Packet
Header
Original IP Packet
Header Payload
Src Dst
Src Dst
Header
Original IP Packet
(decapsulated)
TUNNEL
Hình 3. Hoạt động của giao thức Mobile IP
1.2.4 Các cải tiến của Mobile IP
Như vậy, với giao thức Mobile IP, một mút mạng giờ đây có thể thay đổi điểm kết
nối vào Internet mà vẫn duy trì được các kết nối sẵn có nhưng không cần thay đổi địa
chỉ IP cố định của mình, điều mà giao thức IP truyền thống không làm được. Chính vì
lợi điểm đó mà Mobile IP ngày càng trở nên không thể thiếu trong thế giới di động.
Tuy nhiên, cho đến nay người ta vẫn tiếp tục nghiên cứu để cải tiến Mobile IP bởi
nó thực sự cần thiết cho các mạng kế tiếp, ví dụ như 4G. Hai trong những vấn đề của
Mobile IP cần được cải tiến là định tuyến tam giác và chuyển tiếp gói tin.
Đầu tiên là vấn đề định tuyến tam giác. Trong giao thức Mobile-IP, các gói tin
được gửi từ Correspondent Node tới Mobile Node đều đến Home Agent. Tiếp đó,
Home Agent đóng gói gói tin trong một đường hầm và gửi tới Foreign Agent. Trong
khi đó, các gói tin được gửi từ Mobile Node tới Correspondent Node được gửi trực
tiếp từ Foreign Agent tới Correspondent Node mà không cần thông qua Home Agent
vì Mobile Node biết rõ địa chỉ IP của Correspondent Node. Cơ chế truyền tin như vậy
16
được gọi là định tuyến tam giác. Hình 4 mô phỏng cơ chế định tuyến tam giác trong
Bằng cách này, người ta đã giải quyết được vấn đề định tuyến tam giác trong
Mobile IP.
Vấn đề thứ hai cần được đặt ra để cải tiến trong Mobile IP là làm thế nào để giảm
thiểu việc mất các gói tin chuyển đến cho Mobile Node khi nó di chuyển từ mạng
khách cũ sang mạng khách mới?
Để giải quyết vấn đề này, người ta đã đưa ra cơ chế chuyển tiếp gói tin
(forwarding). Các gói tin được gửi đến Mobile Node trong quá trình Mobile Node di
chuyển sang mạng khách mới sẽ được lưu tại bộ đệm của Foreign Agent ở mạng
khách cũ. Khi Mobile Node gửi yêu cầu đăng ký tại mạng mới, nó sẽ yêu cầu Foreign
Agent ở mạng mới thông báo không những cho Home Agent mà còn cho cả Foreign
Agent ở mạng cũ biết về địa chỉ care-of-address hiện thời của mình. Nhờ đó, khi việc
đăng ký hoàn tất, các gói tin đang được lưu giữ ở Foreign Agent cũ sẽ được gửi tới
cho Foreign Agent mới trong một đường hầm. Tại Foreign Agent mới, các gói tin
được loại bỏ tiêu đề IP mà Foreign Agent cũ đã đóng thêm vào và được gửi đến cho
Mobile Node.
Kết luận
Là một mở rộng của giao thức IP, Mobile IP đã giải quyết được bài toán di chuyển
của các thiết bị đầu cuối trong khi vẫn đang kết nối với mạng mà không cần thay đổi
địa chỉ IP cố định của mình. Chính vì tầm quan trọng và hiệu quả thực tế đạt được là
rất lớn nên đến nay Mobile IP vẫn đang được tiếp tục nghiên cứu và cải tiến để có thể
phát huy các điểm mạnh của nó trong các mạng thế hệ tiếp theo như mạng 4G.
Trong các mạng thế hệ tiếp theo, nhiều loại công nghệ mạng khác nhau được phủ
sóng chồng lấn lên nhau, điều đó cho phép một thiết bị đầu cuối với các loại giao tiếp
18
mạng khác nhau có thể sử dụng đồng thời nhiều công nghệ mạng. Tuy nhiên, Mobile
IP truyền thống không thể hỗ trợ các nút mạng di chuyển qua lại giữa các vùng phủ
sóng của các công nghệ mạng khác nhau. Vậy làm thế nào để hỗ trợ các thiết bị đầu
cuối di chuyển từ vùng phủ sóng của công nghệ mạng này sang vùng phủ sóng của
công nghệ mạng khác? Đó chính là vấn đề của bài toán chuyển giao dọc sẽ được trình
bày trong chương 2 của luận văn này.
của Access Point này sang vùng phủ sóng của Access Point khác mà vẫn duy trì được
việc tải tập tin đó là một ví dụ đơn giản về chuyển giao.
Việc di chuyển của các nút mạng có thể xảy ra giữa các vùng phủ sóng khác nhau
của cùng một công nghệ mạng hoặc giữa các vùng phủ sóng của các công nghệ mạng
khác nhau như WLAN, GPRS, Bluetooth, … Tùy vào cơ chế chuyển giao mà người ta
chia ra các loại chuyển giao khác nhau như chuyển chuyển giao cứng, chuyển giao
mềm, giao ngang, chuyển giao dọc
2.1 Các khái niệm chuyển giao:
2.1.1 Chuyển giao cứng:
Chuyển giao cứng còn được gọi là “ngắt trước khi chuyển”. Với cơ chế này, các
kết nối đang có sẽ bị ngắt trước khi thiết bị đầu cuối chuyển sang một vùng phủ sóng
mới. Các vùng phủ sóng này có thể sử dụng cùng hoặc khác công nghệ mạng với
nhau.
2.1.2 Chuyển giao mềm:
Khác với chuyển giao cứng, trong chuyển giao mềm, các kết nối hiện có vẫn được
duy trì nhờ vào cơ chế “chuyển trước khi ngắt”. Với cơ chế này, các kết nối thay thế
cho các kết nối cũ được thiết lập trước khi việc chuyển giao thực sự xảy ra. Trong
trường hợp này, các vùng phủ sóng thường chồng lấn lên nhau, do đó, tại khu vực
chồng lấn của các vùng phủ sóng, thiết bị đầu cuối có thể dễ dàng bắt được sóng của
20
nhiều mạng khác nhau. Nhờ đó, thiết bị đầu cuối sẽ lựa chọn mạng nào mà nó cho là
tốt nhất để tiếp tục quá trình truyền tin.
Hình 5 minh họa cơ chế chuyển giao mềm và chuyển giao cứng khi Mobile Node
di chuyển qua vùng phủ sóng của các trạm thu phát sóng trong một mạng tế bào.
BS1 BS1BS2 BS2
Chuyển giao mềm
Chuyển giao cứng
Hình 5. Ví dụ về chuyển giao mềm và chuyển giao cứng
Chuyển giao cứng và chuyển giao mềm là hai khái niệm thường được dùng trong
kết nhằm duy trì các ứng dụng đang hoạt động ở tầng phía trên. Tuy nhiên, để có thể
thực hiện được công việc chuyển giao dọc, cần phải có các cơ chế hỗ trợ chuyển giao
dọc giữa các mạng mà Mobile Node di chuyển qua lại. Hình 7 là một ví dụ về chuyển
giao dọc giữa mạng GPRS và WLAN.
Ngày nay, khi một thiết bị đầu cuối có thể được trang bị nhiều hơn một loại giao
diện mạng và các vùng phủ sóng của nhiều công nghệ mạng tồn tại hỗn hợp, chồng lấn
lên nhau thì việc chuyển giao dọc mở ra một cơ hội cho những người sử dụng đầu cuối
có thể di chuyển qua lại giữa các mạng khác nhau trong khi vẫn đang kết nối vào
Internet và sử dụng các dịch vụ trên đó. Việc chuyển giao còn mang đến một lợi điểm
là làm tăng tính an toàn cho các phiên truyền ứng dụng, bởi vì khi một giao diện nào
dó đột nhiên mất tín hiệu, phiên làm việc đó có thể được đảm nhiệm bởi một giao diện
mạng khả dụng khác. Chính vì những lợi điểm đó mà chuyển giao dọc đã và đang thu
hút sự quan tâm của rất nhiều nhà nghiên cứu. Trong phần tiếp theo của chương này,
22
các nghiên cứu liên quan đến chuyển giao dọc trong mạng không dây di động sẽ được
trình bày.
Hình 7. Một ví dụ về chuyển giao dọc
2.2 Chuyển giao dọc trong mạng không dây di động
2.2.1 Sự cần thiết của chuyển giao dọc
Thực tế cho thấy rằng, không có một công nghệ mạng đơn lẻ nào có thể cung cấp
dịch vụ truyền tin vừa có băng thông cao, vùng phủ sóng rộng và độ trễ thấp cho một
số lượng lớn người sử dụng đầu cuối. Do đó, việc phủ sóng chồng chéo nhiều loại
mạng khác nhau ngày nay đã trở nên rất phổ biến, nó giúp cho người sử dụng đầu cuối
có nhiều cơ hội để sử dụng các dịch vụ truyền tin mọi lúc, mọi nơi và phù hợp với chi
phí mà họ bỏ ra.
Trong những năm gần đây, mạng 3G đã được triển khai ở nhiều quốc gia trên thế
giới, trong đó có Việt Nam. Mạng 3G sử dụng công nghệ UMTS (Universal Mobile
Telecommunications Systems) có thể cung cấp các ứng dụng có tốc độ truyền dữ liệu
thấp và trung bình, do đó nó không thể đáp ứng được các dịch vụ đòi hỏi tốc độ truyền
Quyết định chuyển giao có thể được đưa ra bới Mobile Node, hoặc bởi Mobile
Agent. Quyết định chuyển giao dựa trên việc theo dõi chất lượng kênh liên kết như độ
mạnh của sóng, băng thông của đường truyền, năng lượng còn lai của thiết bị, … Ví
dụ, nếu lấy độ mạnh của sóng làm tiêu chí chuyển giao, thì khi tín hiệu ở vùng mà
Mobile Node đang đứng xuống thấp hơn mức tín hiệu ngưỡng, một quyết định chuyển
giao phiên làm việc của Mobile Node sang vùng có tín hiệu cao hơn sẽ được đưa ra.
Hoặc khi năng lượng còn lại của thiết bị đầu cuối trở nên thấp, Mobile Node sẽ ra
quyết định chuyển phiên làm việc sang mạng có yêu cầu về việc tiêu thụ năng lượng
đầu cuối ít hơn. 24
c. Thực hiện chuyển giao
Ở giai đoạn này các phiên làm việc đang tồn tại được chuyển từ mạng cũ sang
mạng mới trên kênh truyền đã được cấp phát ở giai đoạn trước. Việc chuyển giao phải
đảm bảo không ảnh hưởng tới các dịch vụ đang được truyền tải ở tầng tầng ứng dụng
phía trên.
Chuyển giao dọc được áp dụng nhiều trong thực tế để giải quyết bài toán duy trì
kết nối sẵn có khi một thiết bị đầu cuối được tích hợp nhiều giao diện mạng đi vào
vùng phủ sóng của nhiều công nghệ mạng khác nhau. Chính vì tầm quan trọng của
chuyển giao dọc trong mạng không dây di động mà đã có nhiều nhà nghiên cứu bỏ
nhiều công sức cho các vấn đề liên quan đến vấn đề này. Phần tiếp theo của chương 2
sẽ đưa ra một số nghiên cứu liên quan đó.
2.2.3 Các chính sách chuyển giao:
Việc đảm bảo cho các thiết bị đầu cuối luôn được kết nối vào mạng “tốt nhất”
mọi lúc, mọi nơi vẫn chưa phải là mục tiêu cao nhất của các nhà nghiên cứu trong
vấn đề chuyển giao dọc. Thông thường, để có thể quyết định một mạng nào đó là
“tốt nhất” là một công việc khó khăn bởi sự phát triển rộng khắp và sự phủ sóng
chồng chéo lên nhau của các loại mạng. Nhiều công nghệ mạng không dây diện
rộng như CDMA được thiết kế để đáp ứng với các đòi hỏi của mạng thế hệ thứ 3
cậy của mạng. Độ trễ này có thể được đặc trưng bởi số lần truyền lại các gói tin.
Khi đang một mạng có băng thông cao, ví dụ như Infared LAN có tải cao và bị
nghẽn thì Mobile Node nên có lựa chọn khôn ngoan là chuyển sang sử dụng một
mạng tuy có băng thông thấp hơn, ví dụ như Metricom Ricochet nhưng lại đang có
lưu lượng thấp.
Sự tiêu thụ năng lượng của thiết bị đầu cuối cũng là một nhân tố động khác. Các
phiên truyền không dây có thể được thực hiện thông qua các card giao tiếp
PCMCIA (ví dụ như card hồng ngoại, WaveLAN,…) hoặc các thiết bị khác. Trong
khi các card PCMCIA đòi hỏi việc cấp nguồn từ pin của Mobile Node thì một số
thiết bị mạng khác như mô_đem Ricochet lại có phần cung cấp nguồn riêng. Khi
mức năng lượng còn lại của một Mobile Node trở nên thấp, Mobile Node sẽ cố
gắng lựa chọn một mạng khả dụng mà sự tiêu tốn năng lượng của thiết bị đầu cuối
là thấp nhất. Ví dụ một Mobile Node đang ở trong mạng Metricom Ricochet có thể
quyết định chuyển sang sử dụng mạng WaveLAN nếu nguồn bên ngoài của
mô_đem Ricochet không còn đủ dùng cho ứng dụng.
Đối với các mạng hướng kết nối, thời gian thiết lập kết nối tương đối dài và vẫn
có thể tính cước phụ trội nếu một người chỉ lướt qua mạng một cách nhanh chóng.
Thời gian kết nối sẽ là rất ngắn, do đó việc chuyển mạch vào mạng này là việc
không đáng làm.
26
Các tham số khác như lịch sử sử dụng, tốc độ di chuyển hiện tại của người
dùng, bản đồ vùng phủ sóng của mạng cũng có thể là các tham số tham khảo để một
quyết định chuyển giao được đưa ra. Ví dụ như một người đang lái xe sẽ muốn lựa
chọn mạng tế bào GSM hơn là Metricom Ricochet vì độ trễ của mạng Metricom
Ricochet không thích ứng với tốc độ của xe hơi. Nếu tốc độ di chuyển của người sử
dụng và hướng di chuyển của người đó được biết trước, thì cùng với bản đồ vùng
phủ sóng của một mạng, thời điểm mà người sử dụng đó rời mạng cũ để xâm nhập
vào một mạng mới là có thể biết trước được. Điều này là rất có ích, nó giúp làm
giảm độ trễ chuyển giao nhờ vào việc khởi động chuyển giao trước khi Mobile
Node đưa ra quyết định rời bỏ mạng cũ.