TRỊNH DŨNG CHINH NGHIÊN CỨU CHẾ TẠO NANO BẠC DẠNG PHIẾN
(Ag NANOPLATE) BẰNG PHƯƠNG PHÁP
HÓA KHỬ
LUẬN VĂN THẠC SĨ Thành phố Hồ Chí Minh - 2014
Đ
ẠI HỌC QUỐC GIA H
LUẬN VĂN THẠC SĨ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS ĐẶNG MẬU CHIẾN
Thành phố Hồ Chí Minh - 2014
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHỆ
ĐẠI HỌC QUỐC GIA TP HỒ CHÍ MINH
PTN CÔNG NGHỆ NANO
i LỜI CAM ĐOAN
Tôi là Trịnh Dũng Chinh, học viên cao học chuyên ngành Vật liệu và Linh kiện Nano
thuộc chương trình liên kết giữa Trường Đại học Công nghệ - ĐHQG Hà Nội và
Phòng Thí nghiệm Công nghệ Nano (LNT) - ĐHQG TP. HCM. Tôi đã thực hiện đề tài
thạc sĩ “Nghiên cứu chế tạo nano bạc dạng phiến (Ag nanoplate) bằng phương pháp
hóa khử” tại Phòng Thí nghiệm Công nghệ Nano (LNT) - ĐHQG TP. HCM với sự
hướng dẫn của PGS.TS. Đặng Mậu Chiến.
Tôi xin cam đoan những kết quả ghi nhận trong Luận văn là hoàn toàn trung thực và
chưa có trong các công trình nào khác mà tôi không tham gia.
Tp. Hồ Chí Minh, ngày 20 tháng 02 năm 2014
iii
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH SÁCH CÁC CHỮ VIẾT TẮT v
DANH SÁCH CÁC HÌNH vi
DANH SÁCH CÁC BẢNG viii
MỞ ÐẦU 1
CHƯƠNG 1: NGHIÊN CỨU LÝ THUYẾT 4
1.1 Tổng quan về vật liệu nano và nano bạc (Ag) 4
1.1.1 Vật liệu nano 4
1.1.1.1 Khoa học và công nghệ nano 4
1.1.1.2 Tính chất của vật liệu nano 7
2.1.2.1 Quang phổ kế hấp thụ tử ngoại khả kiến (UV-Vis) 21
2.1.2.2 Kính hiển vi điện tử truyền qua (TEM) 21
iv 2.2 Nguyên vật liệu và quy trình chế tạo dung dịch nano bạc 22
2.2.1 Nguyên vật liệu 22
2.2.2 Quy trình thí nghiệm chế tạo dung dịch nano bạc 22
2.2.2.1 Quy trình sử dụng chất kiểm soát hình dạng
Cetyltrimethylammonium bromide (CTAB) 22
2.2.2.2 Quy trình sử dụng chất kiểm soát hình dạng H
2
O
2
và Trisodium
citrate (TSC) 23
CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 25
3.1 Tổng hợp nano bạc dạng phiến (Ag nanoplate) bằng phương pháp sử dụng
CTAB 25
3.1.1 Kết quả quang phổ UV-vis 25
3.2.4 Đánh giá sự ổn định của nano bạc dạng phiến theo thời gian 46
3.2.4.1 Kết quả quang phổ UV-vis 46
3.2.4.2 Kết quả ảnh TEM 49
3.2.5 Kết luận 50
KẾT LUẬN VÀ HƯỚNG PHÁT TRIỂN 51
TÀI LIỆU THAM KHẢO 54
v DANH SÁCH CÁC CHỮ VIẾT TẮT
ĐHQG TP. HCM Đại Học Quốc Gia Thành Phố Hồ Chí Minh.
TEM Transmission Electron Microscope - Kính hiển vi điện tử truyền
qua
UV-Vis Ultraviolet-Visible spectroscopy - Phương pháp xác định phổ
hấp thu ánh sáng của vật liệu trong vùng cực tím và khả kiến
PVP 40000 Polyvinylpyrrolidone 40000
Ag nanoplate Hạt nano bạc dạng phiến
TSC Trisodium citrate
CTAB Cetyltrimethylammonium bromide
H
2
O
Hình 2.4: Lò sấy chân không
Hình 2.5: Máy quay ly tâm (High speed centrifuge – Rotina 38 – Hettick)
Hình 2.6: Máy đo phổ UV-Vis Cary100
Hình 2.7: TEM (Tramission Electronic Microscopy - JEM 1010 – JEOL)
Hình 2.8a: Quy trình tổng hợp hạt nano bạc mầm
Hình 2.8b: Quy trình tổng hợp phát triển thành nano bạc dạng phiến
Hình 2.9: Quy trình tổng hợp nano bạc dạng phiến sử dụng chất kiểm soát hình dạng
là H
2
O
2
và Trisodium citrate (TSC)
Hình 3.1: Giai đoạn phát triển của nano bạc dạng phiến sử dụng chất tạo hình CTAB
Hình 3.2: Quang phổ hấp thụ UV-vis của hạt nano bạc mầm theo thời gian
Hình 3.3: Ảnh mẫu dung dịch từ pH=2 đến pH=12 (A) và quang phổ hấp thụ UV-vis
của các mẫu pH=2 đến pH=12 (B) ngay sau khi chế tạo
Hình 3.4: Quang phổ hấp thụ UV-vis của sáu mẫu đã chuẩn pH sau 2 ngày chế tạo
vii Hình 3.5: Ảnh TEM của dung dịch bạc mầm
Hình 3.6: Ảnh Tem của mẫu pH=2 và pH=4
Hình 3.7: Sơ đồ phát triển của nano bạc dạng phiến với sự tham gia của ion citrate
Hình 3.8: Quang phổ hấp thụ UV-vis của các mẫu
Hình 3.9: Ảnh dung dịch của các mẫu
Hình 3.10: Ảnh TEM và biểu đồ phân bố hình dạng hạt của các mẫu.
Hình 3.11: Quang phổ hấp thụ UV-vis của các mẫu ứng với K=0, K=240, K=1440,
K=1920, K=2880, K=3360, K=3840, K=4320
Hình 3.12: Biểu đồ thể hiện vị trí đỉnh có vị trí bước sóng dài nhất tương ứng với các
chỉ số K của các mẫu
rằng khoa học đã đi vào chiều sâu của cấu trúc vật chất đến từng phân tử, nguyên tử.
Tuy nhiên, thuật ngữ “công nghệ nano” mới bắt đầu được sử dụng vào năm 1974 do
Nario Taniguchi một nhà nghiên cứu tại trường đại học Tokyo sử dụng khi đề cập khả
năng chế tạo cấu trúc vi hình của vi mạch điện tử [1].
Vật liệu ở thang đo nano bao gồm lá nano, sợi, ống nano và hạt nano có những tính
chất đặc biệt do sự thu nhỏ kích thuớc và tăng diện tích bề mặt. Một trong số đó, bạc
kim loại kích thước nano thu hút nhiều sự quan tâm nghiên cứu. Nano bạc (Ag) có vai
trò quan trọng trong quy trình sản xuất thủy tinh, gốm sứ, xúc tác, diệt khuẩn và đặc
biệt là dùng để chế tạo mực in dẫn điện [2].
Có nhiều phương pháp chế tạo thành công hạt nano bạc như khử hóa học, khử quang
học, sol-gel, chiếu xạ…[5, 6]. Trong đó, phương pháp khử hóa học được sử dụng rất
phổ biến do có thể kiểm soát tốt về hình dạng, kích thước và độ ổn định của hạt. Trong
phương pháp này, chất khử đóng vai trò là tác nhân cho điện tử để khử ion kim loại
bạc Ag
+
thành nguyên tử bạc Ag
0
. Ngoài ra, để điều khiển hình dạng, kích thước và
bảo vệ hạt nano bạc không bị kết tụ cần sử dụng các chất hoạt động bề mặt như là các
polyme: Polyvinylpyrrolidone (PVP), Polyethylene glycol (PEG), Chitosan…[6].
Để mở rộng khả năng ứng dụng của hạt nano bạc bằng phương pháp khử hóa học, các
nhà nghiên cứu đã chế tạo hạt nano bạc với nhiều hình dạng và kích thước khác nhau
như dạng lập phương, dạng que, dạng sợi, dạng khối lục giác, dạng hình ngôi sao,
dạng phiến dẹp…. Trong đề tài Luận văn này, chúng tôi nghiên cứu hạt nano bạc dạng
phiến (Ag nanoplate) bằng phương pháp khử hóa học, sử dụng các chất hoạt động bề
mặt và chất kiểm soát hình dạng là: Cetyltrimethylammonium bromide (CTAB),
Trisodium citrate (TSC), Polyvinylpyrrolidone (PVP), Hydrogen peroxide (H
2
O
2
B. Nội dung nghiên cứu của đề tài:
Nội dung của đề tài bao gồm Lời mở đầu, 3 Chương và Kết luận:
- Trong Lời mở đầu: Mục đích nghiên cứu và hướng ứng dụng của nano bạc
dạng phiến được giới thiệu.
- Chương 1: Giới thiệu về công nghệ nano, hạt nano bạc, hạt nano bạc dạng
phiến (Ag nanoplate), các phương pháp chế tạo hạt nano bạc. Ngoài ra
chúng tôi cũng trình bày một số nghiên cứu thành công về hạt nano bạc
dạng hình cầu và hạt nano bạc dạng phiến của một số nhóm nghiên cứu trên
thế giới.
- Chương 2: Trình bày hai quy trình chế tạo nano bạc dạng phiến được sử
dụng trong đề tài này là: Phương pháp khử hóa học sử dụng chất kiểm soát
hình dạng là CTAB và phương pháp khử hóa học sử dụng chất chất kiểm
3
soát hình dạng là TSC và H
2
O
2
. Trong phần này cũng giới thiệu các thiết bị
dùng để chế tạo và phân tích nano bạc dạng phiến.
- Chương 3: Trình bày kết quả nghiên cứu và đánh giá kết quả của các mẫu
thí nghiệm được chế tạo bằng hai phương pháp trên. So sánh kết quả phân
tích quang phổ hấp thụ UV-vis và kính hiển vi điện tử truyền qua (TEM)
của các mẫu thí nghiệm, chúng tôi kết luận rằng nano bạc dạng phiến được
chế tạo bằng phương pháp sử dụng chất kiểm soát hình dạng là TSC và
H
2
phân tử với nhau mà thành. Tức là cũng ở trong công nghệ nano.
Khoa học nano nghiên cứu những vấn đề cơ bản của vật lý học, hóa học, sinh
học của các cấu trúc nano. Dựa trên các kết quả của khoa học nano đi đến nghiên cứu
ứng dụng cấu trúc nano. Công nghệ nano dựa trên những cơ sở khoa học chủ yếu sau:
A. Hiệu ứng bề mặt:
Khi vật liệu có kích thước nhỏ thì tỉ số giữa số nguyên tử trên bề mặt và tổng số
nguyên tử (gọi là tỉ số f) của vật liệu gia tăng. Do nguyên tử trên bề mặt có nhiều tính
chất khác biệt so với tính chất của các nguyên tử ở bên trong lòng vật liệu nên khi kích
thước vật liệu giảm đi thì hiệu ứng có liên quan đến các nguyên tử bề mặt, hay còn gọi
là hiệu ứng bề mặt tăng lên do tỉ số f tăng. Khi kích thước của vật liệu giảm đến nm thì
giá trị f này tăng lên đáng kể. Hiệu ứng bề mặt luôn có tác dụng với tất cả các giá trị
của kích thước, hạt càng bé thì hiệu ứng càng lớn và ngược lại. Ở đây không có giới
hạn nào cả, ngay cả vật liệu khối truyền thống cũng có hiệu ứng bề mặt, chỉ có điều
hiệu ứng này nhỏ thường bị bỏ qua. Vì vậy, việc ứng dụng hiệu ứng bề mặt của vật
liệu nano tương đối dễ dàng [8]. Bảng 1.1 cho thấy tương quan giữa đường kính hạt,
số nguyên tử và năng lượng bề mặt của hạt nano hình cầu.
5 Bảng 1.1: Số nguyên tử và năng lượng bề mặt của hạt nano hình cầu
Đường kính hạt
nano (nm)
Số nguyên tử
Tỉ số nguyên tử
trên bề mặt (%)
Năng lượng bề
mặt (erg/mol)
1.1 cho thấy sự thay đổi độ rộng của khe dải và mức năng lượng khi có sự thay đổi
kích thước của vật liệu). Hiện tượng này được gọi là hiệu ứng chuyển tiếp cổ điển-
lượng tử trong các vật liệu nano do việc giam hãm các vật thể trong một không gian
hẹp mang lại (giam hãm lượng tử) [8]. Hình 1.1: Sự mở rộng khe dải và mức năng lượng của các nguyên tử với sự gia tăng
kích thước
Mức năng lượng Fermi (E
F
) là mức năng lượng đầy cao nhất của hệ thống trong
trạng thái đáy. Khe dải (E
g
) của hệ thống này là khe năng lượng giữa trạng thái năng
lượng cao nhất và thấp nhất. Trong hệ thống này, từ những nguyên tử cho tới vật liệu
khối, sự dàn trải năng lượng được quyết định bởi mức độ choàng lên nhau giữa các
quỹ đạo (orbital) điện tử. Điều này có thể kết hợp ở trong phân tử để hình thành orbital
phân tử, và xa hơn để mở rộng cấu trúc dải, như trong kim loại hay bán dẫn. Giá trị
của E
g
tương ứng với E
F
được tách bởi số electron tự do trong cấu trúc dải mở rộng.
Với vật liệu khối, số electron tự do trong cấu trúc dải bằng số nguyên tử trong khối vật
liệu. Điều này dẫn đến E
g
rất nhỏ, và vì thế chỉ quan sát được tại nhiệt độ thấp. Dưới
quanh là các yếu tố ảnh hưởng nhiều nhất. Ngoài ra, mật độ hạt nano cũng ảnh hưởng
đến tính chất quang. Nếu mật độ loãng thì có thể coi như gần đúng hạt tự do, nếu nồng
độ cao thì phải tính đến ảnh hưởng của quá trình tương tác giữa các hạt [18].
B. Tính chất điện
Tính dẫn điện của kim loại rất tốt, hay điện trở của kim loại nhỏ nhờ vào mật độ
điện tử tự do cao trong đó. Đối với vật liệu khối, các lí luận về độ dẫn dựa trên cấu
trúc vùng năng lượng của chất rắn. Điện trở của kim loại đến từ sự tán xạ của điện tử
lên các sai hỏng trong mạng tinh thể và tán xạ với dao động nhiệt của nút mạng
(phonon). Tập thể các điện tử chuyển động trong kim loại (dòng điện I) dưới tác dụng
của điện trường (U) có liên hệ với nhau thông qua định luật Ohm: U = IR, trong đó R
là điện trở của kim loại. Định luật Ohm cho thấy đường I-U là một đường tuyến tính.
Khi kích thước của vật liệu giảm dần, hiệu ứng lượng tử do giam hãm làm rời rạc hóa
cấu trúc vùng năng lượng. Hệ quả của quá trình lượng tử hóa này đối với hạt nano là I-
8
U không còn tuyến tính nữa mà xuất hiện một hiệu ứng gọi là hiệu ứng chắn Coulomb
(Coulomb blockade) làm cho đường I-U bị nhảy bậc với giá trị mỗi bậc sai khác nhau
một lượng e/2C cho U và e/RC cho I, với e là điện tích của điện tử, C và R là điện
dung và điện trở khoảng nối hạt nano với điện cực [30].
C. Tính chất nhiệt
Nhiệt độ nóng chảy T
m
của vật liệu phụ thuộc vào mức độ liên kết giữa các
nguyên tử trong mạng tinh thể. Trong tinh thể, mỗi một nguyên tử có một số các
nguyên tử lân cận có liên kết mạnh gọi là số phối vị. Các nguyên tử trên bề mặt vật
liệu sẽ có số phối vị nhỏ hơn số phối vị của các nguyên tử ở bên trong nên chúng có
thể dễ dàng tái sắp xếp để có thể ở trạng thái khác hơn. Như vậy, nếu kích thước của
Sự phân bố của các hạt trong chất nền.
Hình 1.2: Sự dao động plasmon của các hạt hình cầu dưới tác động của điện trường
ánh sáng.
Do ảnh hưởng của các tác yếu tố trên nên một số tính chất mong muốn của vật
liệu có thể được điều khiển. Các kim loại khác nhau sẽ có sự tương tác tương ứng vì
thế mầu sắc sẽ khác nhau. Sự triệt tiêu của ánh sáng bởi hạt nano kim loại xảy ra theo
cả cơ chế phân tán và hấp thụ nhưng cơ chế hấp thụ xảy ra rõ hơn nhiều với hạt có
kích thước nhỏ hơn 20nm. Các hạt nano thường được biết đến với sự tạo hỗn hợp với
thủy tinh hay cao su, thể hiện ra như màu đỏ của Au hay vàng của Ag.
1.1.1.3 Phân loại vật liệu nano
Có rất nhiều cách phân loại vật liệu nano, mỗi cách phân loại cho ra rất nhiều loại
nhỏ nên thường hay làm lẫn lộn các khái niệm. Sau đây là một vài cách phân loại
thường dùng [8, 30].
Phân loại theo hình dáng của vật liệu
• Vật liệu nano không chiều ( cả ba chiều đều có kích thước nano ), ví dụ đám
nano, hạt nano.
• Vật liệu nano một chiều là vật liệu trong đó một chiều tự do, hai chiều có kích
thước nano, ví dụ dây nano, ống nano.
• Vật liệu nano hai chiều là vật liệu trong đó hai chiều tự do, một chiều có kích
thước nano, ví dụ màng mỏng (có chiều dày kích thước nano).
Ngoài ra còn có vật liệu có cấu trúc nano hay nanocomposite trong đó chỉ có một phần
của vật liệu có kích thước nm, hoặc cấu trúc của nó có nano không chiều, một chiều,
hai chiều đan xen lẫn nhau. Cũng theo cách phân loại theo hình dáng của vật liệu, một
số người đặt tên số chiều bị giới hạn ở kích thước nano. Nếu như thế thì hạt nano là vật
liệu nano 3 chiều, dây nano là vật liệu nano 2 chiều và màng mỏng là vật liệu nano 1
chiều.
10
2
4p
6
4d
10
5s
1
Bán kính nguyên tử Ag: 0,288 nm
Bán kính ion bạc: 0,23 nm
Giới thiệu về hạt nano bạc
Hạt nano bạc là các hạt bạc có kích thước từ 1 nm đến 100 nm. Sự tương quan giữa số
nguyên tử và kích thước của hạt nano bạc được trình bày theo Bảng 1.2. Nano bạc là
vật liệu có diện tích bề mặt riêng rất lớn, có những đặc tính độc đáo sau [30]:
Dẫn điện tốt nhất trong tất cả các kim loại
Tính khử khuẩn, chống nấm, khử mùi, có khả năng phát xạ tia hồng ngoại đi
xa, chống tĩnh.
Không có hại cho sức khỏe con người với liều lượng tương đối cao, không
có phụ gia hóa chất.
Có khả năng phân tán ổn định trong các loại dung môi khác nhau (trong các
dung môi phân cực như nước và trong các dung môi không phân cực như
benzene, toluene).
11
Độ bền hóa học cao, không bị biến đổi dưới tác dụng của ánh sáng và các
tác nhân oxy hóa khử thông thường.
Chi phí cho quá trình sản xuất thấp.
Ổn định ở nhiệt độ cao.
triển vật liệu mới của Ấn Độ [12]. Các tác giả đã sử dụng glucose với vai trò là chất
hoạt động bề mặt, sau khi có sự thay đổi nồng độ của glucose thì kích thước hạt nano
bạc dạng cầu cũng thay đổi theo (Hình 1.3). Hình 1.4: Kết quả ảnh TEM (A) và quang phổ hấp thụ UV-vis (B) của hạt nano bạc
thuộc nhóm nghiên cứu người Iran.
Hình 1.4 là kết quả ảnh TEM và quang phổ hấp thụ UV-vis của hạt nano bạc
thuộc Viện nghiên cứu khoa học và công nghệ hạt nhân Iran [5]. Theo tác giả hạt nano
bạc dạng cầu được chế tạo bằng phương pháp chiếu xạ gamma. Phương pháp này
không sử dụng chất khử thông thường mà dùng tia gamma để khử ion bạc thành
nguyên tử bạc. Bằng phương pháp này nhóm nghiên cứu đã chế tạo được hạt nano bạc
A
B
13
dạng cầu có kích thước vào khoảng 15-17 nm và bước sóng hấp thụ tại 400 nm (Hình
1.4).
1.1.2.2 Hạt nano bạc dạng phiến
Tùy theo các điều kiện chế tạo mà hạt nano bạc có nhiều hình dạng khác nhau
như: dạng cầu, dạng phiến, dạng lập phương, dạng hoa, dạng dây, dạng que…Hạt nano
bạc dạng phiến có dạng dẹp và thường được chế tạo bằng phương pháp khử hóa học.
Hai hình dạng chủ yếu của hạt nano bạc dạng phiến là: phiến tam giác và phiến lục
giác (Hình 1.5)
Hình 1.5: Hình dạng của phiến nano bạc
15
thụ của phiến nano bạc xuất hiện 3 đỉnh và có sự thay đổi theo thời gian phản ứng. Tác
giả cũng đưa ra rằng, khi tăng thời gian phản ứng thì hình dạng và kích thước của
phiến nano bạc thay đổi và điều này có liên quan tới sự thay đổi của đỉnh tại vị trí
bước sóng dài nhất.
Hạt nano bạc dạng phiến đang đươc quan tâm nghiên cứu hướng tới những ứng
dụng của nó đăc biệt là ứng dụng về tính dẫn điện. Tuy nhiên việc điều khiển về sự
đồng đều về hình dạng và thời gian tồn tại của phiến nano bạc trong dung dịch là vấn
đề đang được các nhà khoa học quan tâm nghiên cứu cải thiện.
1.2 Một số phương pháp tổng hợp hạt nano kim loại
Xét một cách tổng thể có hai phương pháp chung để chế tạo hạt nano kim loại:
Phương pháp từ trên xuống (top-down) và phương pháp từ dưới lên (bottom-up).
Phương pháp từ trên xuống (top-down): Trong phương pháp này sử dụng kỹ
thuật nghiền và biến dạng để biến khối vật liệu có kích thước lớn tạo ra các vật liệu có
kích thước nano mét. Ưu điểm của phương pháp này đơn giản, khá hiệu quả, có thể
chế một lượng lớn nano khi cần. Tuy nhiên phương pháp này tạo ra vật liệu có tính
đồng nhất không cao, cũng như tốn nhiều năng lượng, trang thiết bị phức tạp. Chính vì
thế, phương pháp này ít được sử dụng trong thực tế.
Phương pháp từ dưới lên (bottom-up): Đây là phương pháp phổ biến hiện nay
để chế tạo hạt nano kim loại. Nguyên lý phương pháp này dựa trên việc hình thành các
hạt nano kim loại từ các nguyên tử hay ion. Các nguyên tử hay ion được xử lý bằng
các tác nhân vật lý, hóa học sẽ kết hợp với nhau tạo thành các hạt kim loại có kích
thước nano mét. Ưu điểm của phương pháp này: tiện lợi, các hạt tạo ra có kích thước
nhỏ và đồng đều. Đồng thời, trang thiết bị phục vụ cho phương pháp này rất đơn giản.
Tuy vậy, phương này khi có yêu cầu điều chế một lượng lớn vật liệu nano sẽ rất khó