MỨC ĐỘ HOÀN THÀNH CÔNG VIỆC CỦA THÀNH VIÊN
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ Tp. HỒ CHÍ MINH
TIỂU LUẬN
MÔN HỌC: MARKETING QUỐC TẾ
Đề tài số 1:
PHÂN TÍCH MÔI TRƯỜNG MARKETING TẠI CHÂU
PHI – AI CẬP. PHƯƠNG THỨC THÂM NHẬP SẢN PHẨM
GẠO CỦA VIỆT NAM VÀO AI CẬP
GVHD: Th.S Quách Thị Bửu Châu
Lớp: VB16MA001
Khóa: 16
Nhóm: 02
SVTH:
Lê Đình Tú
Nguyễn Minh Thiện
Nguyễn Thái Hòa
Lê Hương Lan
STT Họ và Tên Công việc Mức độ hoàn thành
1 Lê Đình Tú Tìm tài liệu, phân tích môi
trường vi mô cho sản phẩm
gạo, tổng hợp file word.
100%
2 Nguyễn Minh Thiện Tìm tài liệu, phân tích môi
trường vĩ mô Châu Phi – Ai
Cập, làm Power Point.
100%
3 Nguyễn Thái Hòa
Tìm tài liệu, phân tích thời
cơ thách thức và phương
thức thâm nhập thị trường,
Phần mở đầu
Ngày nay trong quá trình hội nhập toàn cầu hóa mạnh mẽ của các nền kinh tế trên thế
giới, nhiều công ty, tập đoàn không chỉ kinh doanh phạm vi trong nước mà ngày càng mở rộng
ra các thị trường ngoài nước rộng lớn. Đây là một bước chuyển mình rất lớn đối với các công
ty, cả về quy mô, doanh thu, lợi nhuận và vị thế cạnh tranh của mình. Song, bên cạnh đó, con
đường này không phải là dễ dàng và đơn giản, bởi từng đất nước có những khó khăn, thử thách
nhất định, nếu công ty không biết thích nghi, phòng ngừa rủi ro thì thất bại là điều không thể
tránh khỏi khi gia nhập thị trường rộng lớn này.
Như vậy, có thể nói việc tìm hiểu về quốc gia mà công ty dự kiến xâm nhập là một điều
kiện tiên phong và quan trọng nhất. Như người xưa có câu : “Biết người biết ta, trăm trận trăm
thắng”, nếu hiểu rõ từng khía cạnh điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức thì công ty mới
có một chiến lược phù hợp và hiệu quả với từng thị trường. Trên cơ sở đó, bài tiểu luận “Phân
tích môi trường vĩ mô của Châu Phi, cụ thể là nước Ai Cập và đề xuất phương thức xâm nhập
cho gạo của Việt Nam” sẽ cho ta một cái nhìn bao quát và chi tiết về môi trường của nước Ai
Cập, đồng thời giúp ta lựa chọn ra một phương thức thâm nhập hiệu quả nhất cho gạo của Việt
Nam tại Ai Cập.
A. Môi trường vĩ mô Châu Phi – Ai Cập
1.Môi trường dân số:
- Ai Cập là nước đông dân thứ hai ở Châu Phi, với khoảng 83 triệu người. Hầu hết dân số
tập trung dọc theo hai bờ sông Nile (nhất là tại Alexandria và Cairo) và tại Châu thổ và
vùng gần Kênh đào Suez. Gần 90% dân số theo Đạo Hồi và đa số còn lại theo Thiên
chúa giáo (nhiều nhất là giáo phái Coptic Chính thống). Ngoài việc phân chia theo tôn
giáo, người Ai Cập có thể được xếp loại theo nhân khẩu thành những người sống ở vùng
thành thị và nông dân (fellahin) hay các chủ trại ở các làng nông nghiệp.
- Từ thời cổ đại, đặc biệt trước khi Thượng và Hạ Ai Cập thống nhất, những ảnh hưởng
từ Bắc Phi và Địa Trung Hải đã trở thành thống trị ở phía bắc, trong khi người Ai Cập ở
phía Nam vẫn giữ quan hệ với người Nubians và Ethiopians. Dù có những khác biệt đó,
người Ai Cập hiện đại đang ngày càng có quan hệ gần gũi hơn với nhau và đều là con
cháu của xã hội Ai Cập cổ, luôn gắn với nông nghiệp và đông đúc so với các vùng xung
quanh. Dân Ai Cập đã sử dụng nhiều loại ngôn ngữ từ hệ ngôn ngữ Afro-Asiatic trong
bùn giống như tổ tiên xưa kia của họ. Đầu thế kỷ 20, con số này còn cao hơn, trước khi
có làn sóng nhập cư của họ vào các thành thị và thị trấn. Năm 1927, nhà nhân loại học
Winifred Blackman, tác giả cuốn Người Fellahin Thượng Ai Cập, đã tiến hành một
nghiên cứu dân tộc học về cuộc sống của những người nông dân Thượng Ai Cập và kết
luận rằng có một sự tiếp nối giữa các đức tin và sự thi hành văn hóa và tôn giáo trong
những người fellahin với những thời Ai Cập cổ đại.
- Các nhóm dân tộc thiểu số ở Ai Cập gồm một lượng nhỏ bộ tộc Ả rập Bedouin sống ở
phía đông và phía tây sa mạc và Bán đảo Sinai, người Siwis ở Ốc đảo Siwa nói ngôn
ngữ Berber và các cộng đồng Nubian cổ tụ tập dọc theo sông Nile vùng cực nam Ai Cập.
Ai Cập cũng có khoảng 90.000 người tị nạn, đa số là 70.000 người tị nạn Palestine và
20.000 người tị nạn Sudan. Một cộng đồng Do Thái từng rất mạnh mẽ đã hoàn toàn biến
mất, hiện chỉ còn một số lượng nhỏ ở lại Ai Cập và những người chỉ tới đó vào các dịp
lễ hội tôn giáo. Nhiều địa điểm khảo cổ học và lịch sử quan trọng của Do Thái hiện vẫn
còn tại đó.
2.Môi trường kinh tế :
- Ai Cập là một thị trường được các công ty quốc gia xem là trọng điễm trong khu
vực Trung Đông và Bắc Phi. Kinh tế Ai Cập phụ thuộc chủ yếu vào nông nghiệp, môi
giới trung gian, xuất khẩu dầu mỏ và du lịch; cũng có hơn 5 triệu người Ai Cập đang làm
việc ở nước ngoài, đa số tại Ả rập Xê út, vùng Vịnh như UAE, và Châu Âu. Hoa
Kỳ cũng có một lượng lớn dân nhập cư Ai Cập.Ai Cập có thu nhậpGDP đầu người ở
mức 5800 USD, đứng thứ 133 trên thế giới.Ngoài ra, hiện tại Ai Cập cung cấp khoảng
55% sản lượng vải cottontrênthế giới.
- Đập Aswan được hoàn thành năm 1971 và Hồ Nasser được hình thành từ đó đã thay đổi
vị trí của dòng sông Nile lâu đời đối với nông nghiệp và sinh thái Ai Cập. Với một dân
số tăng trưởng nhanh chóng (đông nhất thế giới Ả rập), hạn chế về đất canh tác, và sự
phụ thuộc vào sông Nile khiến các nguồn tài nguyên và kinh tế nước này phải chịu nhiều
sức ép lớn.
- Chính phủ đã gắng sức đẩy mạnh phát triển kinh tế trong thiên niên kỷ mới thông qua
cải cách kinh tế và đầu tư ồ ạt vào viễn thông và hạ tầng cơ sở, đa số nguồn tài chính có
được từ viện trợ nước ngoài của Hoa Kỳ (từ 1979, khoảng $2.2 tỷ mỗi năm). Ai Cập là
địa chính trị quan trọng của Ai Cập xuất phát từ vị trí chiến lược của nó: là một quốc gia
liên lục địa ở cả châu Á và châu Phi, họ sở hữu một cầu nối lục địa (Eo đất Suez)
giữa Châu Phi và Châu Á, và một cầu nối đường thuỷ (Kênh Suez) nối giữa Biển Địa
Trung Hải và Ấn Độ Dương thông qua Biển Đỏ.
- Các thành phố và thị trấn gồm Alexandria, một trong những thành phố cổ vĩ đại
nhất, Aswan, Asyut, Cairo, thủ đô Ai Cập hiện đại, El-Mahalla El-Kubra, Giza, nơi có
Kim tự tháp Khufu, Hurghada, Luxor, Kom Ombo, Port Safaga, Port Said, Sharm el
Sheikh, Shubra-El-Khema, Suez, nơi có Kênh Suez, Zagazig, và Al-Minya.
- Các sa mạc: Ai Cập chiếm một phần Sa mạc Sahara và Sa mạc Libya. Các sa mạc này
được coi là "vùng đất đỏ" trong thời Ai Cập cổ đại, và nó bảo vệ Vương quốc của các
Pharaohs tránh khỏi các mối đe dọa từ phía tây.
- Ốc đảo gồm: Ốc đảo Bahariya, Ốc đảo Dakhleh, Ốc đảo Farafra, Ốc đảo Kharga, Ốc đảo
Siwa. Một ốc đảo là một vùng đất xanh tươi và màu mỡ ở giữa sa mạc.
Sa mạc Sahara
4.Môi trường chính trị :
- Ai Cập đã là một nước cộng hòa từ ngày 18 tháng 6, 1953. Tổng thống Mohamed Hosni
Mubarak đã làm Tổng thống nền Cộng hoà từ 14 tháng 10, 1981, sau vụ ám sát cựu
Tổng thống Mohammed Anwar El-Sadat. Ông ta là lãnh đạo đảng cầm quyền Đảng Dân
chủ Quốc gia. Mubarak giữ chức vụ cho đến nhiệm kỳ thứ năm thì bị nhân dân Cairo nổi
dậy lật đổ vào tháng 2 năm 2011. Thủ tướng Ahmed Nazif lên cầm quyền ngày 9 tháng
7, 2004, sau khi Atef Ebeid từ chức.
- Chính quyền Ai Cập bị nhiều nước coi là độc tài quân sự. Dù quyền lực trên danh nghĩa
được tổ chức theo hệ thống bán tổng thống đa đảng, theo đó quyền hành pháp trên lý
thuyết được phân chia giữa Tổng thống và Thủ tướng, trên thực tế hầu như chỉ một mình
Tổng thống được bầu ra trong những cuộc bầu cử chỉ có một ứng cử viên trong vòng
hơn năm mươi năm qua. Ai Cập cũng có những cuộc bầu cử nghị viện đa đảng thường
xuyên. Cuộc bầu cử tổng thống gần đây nhất, trong đó Mubarak thắng cử nhiệm kỳ thứ
năm liên tiếp, được tổ chức vào tháng 9 năm 2005 (xem dưới đây).
- Cuối tháng 2 năm 2005, Mubarak thông báo trên một chương trình truyền hình rằng ông
đã ra lệnh cải tổ luật bầu cử tổng thống của đất nước, dọn đường cho những cuộc bầu cử
Ai Cập cũng có những người theo đạo Thiên chúa giáo, nhưng đại bộ phận người Ai
Cập đều theo đại Hồi giáo cũng giống như các nước thuộc giới A-rập khác. Chính vì
theo đạo Hồi giáo nên việc ăn mặc của người Ai Cập rất khắt khe, đặc biệt là với phụ nữ,
mặc dù ngày nay các quy định với phụ nữ đã thông thoáng và cởi mở hơn. Bởi vậy, khi
giao dịch với các đối tác Ai Cập bạn phải nhớ ăn mặc sao cho thật kín đáo, giản dị.
Cả nam giới và nữ giới đều phải thận trọng trong ăn mặc nhưng phù hợp hơn cả vẫn là
bộ comple hay những bộ quần áo giao dịch lịch thiệp như áo sơ mi hay bộ vét nhẹ
nhàng, cũng cần hết sức hạn chế mặc áo cộc tay. Phụ nữ cần mặc những trang phục hết
sức kín đáo và đơn giản, không được mặc váy ngắn.
- Cử chỉ giao tiếp, chào hỏi
Người Ai Cập có thói quen gặp gỡ trực tiếp, giáp mặt và đứng/ngồi gần nhau để trao đổi,
nói chuyện. Khi chào hỏi, cần hết sức lưu ý trong việc gọi tên của người Ai Cập. Tên
người Ai Cập được viết bằng tiếng A-rập, không sử dụng hệ chữ latinh như tiếng Anh
nên thường khó nhớ một cách đầy đủ và chính xác. Cũng có khi cách phát âm cũng làm
bạn hiểu sai ý nghĩa về tên của họ. Vì vậy, nên chắc chắn về tên riêng của người Ai Cập
khi gọi tên họ. Phụ nữ và nam giới không bao giờ bắt tay.
-
- Ngôn ngữ
Ai Cập là nước thuộc giới A-rập và ngôn ngữ của họ là tiếng A-rập. Lối nói của họ có
phần chỉn chu, hoa mỹ, họ cũng ít khi muốn làm người nghe phật lòng vì lối nói của
mình. Khi giao dịch, bạn cần hết sức tránh sử dụng tiếng lóng và những thành ngữ
không phù hợp với văn hoá nơi đây.
- Gặp gỡ, đàm phán
Có thể nói rằng tác phong làm việc trong những cuộc gặp gỡ, đàm phán của người Ai
Cập rất dễ làm cho bạn mất kiên nhẫn vì tác phong làm việc của họ rất chậm. Việc trễ
hẹn hay không đến cuộc hẹn là thường xuyên diễn ra. Để đưa ra một quyết định, đối tác
Ai Cập có thể cần nhiều thời gian hơn bình thường. Để đạt được mục tiêu của mình khi
làm ăn với đối tác Ai Cập bạn thực sự phải là người rất kiên nhẫn và biết cách thông cảm
với lề lối, thói quen làm việc của họ.
Cũng cần phải lưu ý rằng giờ làm việc ở Ai Cập thường có sự thay đổi và khác nhau
căng thẳng với Liên Xô (cũ) nên uy tín giảm sút, các nước A-rập tẩy chay. Chính sách
của Tổng thống Mubarak khi lên thay Sadate (1981) tỏ ra thực tiễn hơn, chủ động cải
thiện quan hệ với A-rập và Liên Xô (cũ). Ai-cập đóng vai trò quan trọng trong tiến trình
hòa bình Trung Đông.
- Ai-cập là thành viên của LHQ, Liên đoàn A-rập (AL), Liên minh châu Phi (AU), Tổ
chức Hội nghị Hồi giáo (OIC), Tổ chức thương mại thế giới (WTO) Đối với Châu Phi,
Ai Cập đã thực hiện một kế hoạch quan trọng để thành lập hiệp định thương mại tự do
với nhóm COMESA và ICWAS, còn về Châu Âu, Ai Cập đã ký một nghị định thư với
liên minh Châu Âu để triển khai hiệp định liên kết Ai Câp – EU.
- Trong lĩnh vực ngoại thương, Ai Cập tham gia và thực hiện đầy đủ Hiệp định khu vực
mậu dịch tư do các quốc gia Ả rập. Hiệp định này có hiệu lực kể từ tháng 1 năm 2005
với việc dỡ bỏ hàng rào thuế quan trong 17 quốc gia Ả rập.
B. Thời cơ, thách thức và phương thức thâm nhập
1. Thời cơ :
a. Dân số :
• Trước những vấn đề thực tại nêu trên, dễ dàng nhận thấy một thực tế là Ai Cập đang
phải đối mặt với tình trạng thiếu lực lượng lao động trầm trọng. Điều này buộc Ai Cập
phải có những chính sách thu hút nhiều thật nhiều người lao động từ các nước khác
đến.
b. Kinh tế :
• GDP: 158,3 tỷ USD
• GDP bình quân đầu người: 1.937 USD
• Tăng trưởng GDP: 7%
• Cơ cấu kinh tế: nông nghiệp 13,4%, công nghiệp 37,6%, dịch vụ 48,9%
• Kim ngạch xuất khẩu: 33,36 tỷ USD
• Kim ngạch nhập khẩu: 56,43 tỷ USD
• Nhận thấy tầm quan trọng mang tính chất quyết định của những cải cách về chính
sách trong việc thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và áp dụng phương thức phối hợp nhằm
mang lại sự thay đổi to lớn, chính phủ Ai Cập với định hướng rõ ràng, chính sách mới
có mục tiêu cụ thể, đang mở cửa ở tất cả các mặt để nâng niềm tin, sự tin tưởng và thu
du lịch giáo dục.
• Khởi công xây dựng nhà bảo tàng Ai Cập và đó sẽ là một bảo tàng lớn nhất ở Trung
Đông và Châu Phi.
c. Tự nhiên :
•
Hơn 90% diện tích Ai Cập là sa mạc. Chỉ có chưa đầy 10% diện tích là đất sinh hoạt
và trồng trọt, bao gồm dải đất ven sông Nile, vùng đồng bằng sông Nile và một ít ốc
đảo. Khí hậu Ai Cập mang tính sa mạc, khô và nóng. Lượng mưa hàng năm rất thấp,
khu vực có độ ẩm cao nhất là dọc bờ biển Địa Trung Hải, với lượng mưa trung bình
khoảng 200mm/năm. Nguồn tài nguyên thiên nhiên của Ai Cập khá phong phú. Quan
trọng nhất là dầu mỏ và khí đốt, ngoài ra còn có photphat, mangan, quặng sắt, titan,
vàng
d. Công nghệ :
• Ai Cập giờ đây đóng vai trò toàn cầu trong mọi lĩnh vực công nghiệp, xi măng, sắt
thép, hoá dầu, ô tô, vật liệu xây dựng và thảm.
• Ngành công nghiệp Ai Cập đã có những mặt mạnh truyền thống về một số lĩnh vực
sản xuất như dệt may, thép, hoá dầu, ô tô, nguyên vật liệu xây dựng và thảm.
e. Quốc tế :
• Trong những năm qua, trao đổi thương mại giữa Việt Nam và Ai Cập đã có sự phát
triển tương đối khả quan. Trong đó kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang Ai Cập
tăng trưởng khá đều còn kim ngạch xuất khẩu của Ai Cập còn ở mức thấp và tăng
giảm thất thường.
• Trong hơn 40 năm qua, Việt Nam và Ai Cập đã ký hơn 20 thoả thuận và biên bản ghi
nhớ bao gồm các lĩnh vực hợp tác kinh tế khác nhau và đã thiết lập được khung pháp
lý chính thức cho các hoạt động kinh tế.
• Với dân số 80 triệu người, cơ cấu hàng nhập khẩu của Ai Cập khá đa dạng, trong đó
nông sản và hàng tiêu dùng chiếm tỷ trọng lớn với những mặt hàng mà Việt Nam có
khả năng đáp ứng cao như hạt tiêu, gạo, cơm dừa, hàng điện tử Điều đó được thể
hiện qua kim ngạch buôn bán giữa hai nước trong thời gian qua :
• Năm 2008, kim ngạch song phương đã đạt hơn 178 triệu USD, tăng 58,7% so với năm
lịch. Ai Cập là một trong những nước đứng đầu và là một trong những điểm
đến hấp dẫn nhất của du khách. Việt Nam có điều kiện tự nhiên xinh đẹp và
hấp dẫn, bờ biển trải dài và nền văn minh lâu đời có thể trở thành một trong
những đất nước dẫn đầu về du lịch quốc tế.
2. Thách thức :
a. Dân số :
• Theo thống kê mới nhất, số lượng sinh trong năm 2012 của Ai Cập tăng cao hơn
con số năm 2010 tới hơn nửa triệu người. Với đà này, quy mô dân số Ai Cập vào năm
2050 sẽ đạt 137,7 triệu người và sẽ vượt các nước như Nga và Nhật Bản. Ông Magued
Osman, Giám đốc một công ty thống kê hàng đầu của Ai Cập, đánh giá mức tăng dân số
trong hai năm qua là con số kỷ lục trong lịch sử Ai Cập.
• Sự bùng nổ về dân số nếu không kịp thời được giải quyết sẽ như một quả bom nổ
chậm đối với Ai Cập, một đất nước vốn đang cạn kiệt tài nguyên, tỷ lệ thất nghiệp cao
và do đó càng làm trầm trọng hơn các vấn đề xã hội. Tại Ai Cập hiện nay, có tới 60%
dân số ở độ tuổi dưới 30. Quy mô dân số tiếp tục tăng vọt sẽ càng làm giảm những cơ
hội vốn đã bị hạn chế đối với giới trẻ ở đất nước Kim Tự Tháp.
• Ông Osman cho rằng: “Sẽ không thể duy trì một hệ thống giáo dục tốt với quy
mô dân số như vậy. Sự gia tăng dân số đồng nghĩa với việc tăng sĩ số của mỗi lớp học.
Trong giai đoạn 2006-2012, tỷ lệ sinh đã lên tới 40%. Điều này có nghĩa là chúng tôi
cần thêm tới 91.000 lớp học để duy trì quy mô lớp học vốn đã quá tải như hiện nay.
Trung bình mỗi lớp có ít nhất 40 học sinh, thậm chí tại một vài tỉnh con số này là 60
học sinh”.
• Tại Ai Cập, mỗi năm có trên 800.000 thanh niên gia nhập thị trường lao động với
tỷ lệ thất nghiệp hiện đang ở mức 13,4%. Với tỷ lệ sinh không được kiểm soát, cộng với
tỷ lệ tử ngày một giảm, sẽ khiến tỷ lệ thất nghiệp của Ai Cập tăng mạnh trong thời gian
tới và càng khiến dư luận tức giận.
• Giáo sư Hussein Sayed của Trường Đại học Tổng hợp Cairo nhận định: “Ai Cập
hiện đang có tỷ lệ thất nghiệp rất cao, đặc biệt là đối với những sinh viên mới tốt nghiệp
và giới trẻ. Một khi không có bất kỳ hy vọng và cơ hội nào, những người này sẽ trở nên
nản chí và trở thành một nguồn gốc gây bất ổn nghiêm trọng. Đây cũng chính là một
• Trong mỗi ngày, cơ quan chính phủ làm việc vào 9 giờ sáng đến 3 giờ chiều;
trong khi các công ty thường làm việc 10 giờ sáng đến 5-6 giờ chiều. Các ngân
hàng thường mở cửa theo giờ làm việc của chính phủ, tuy nhiên một số ngân
hàng mở 6 ngày/tuần (trừ thứ sáu). Các cửa tiệm, siêu thị, quán ăn mở muộn
đến 11-12 giờ tối.
=> Các ngày nghỉ lễ cũng như thời gian làm việc khác so với văn hóa các nước
khác nên thời gian giao dịch, kinh doanh cũng phải điều chỉnh phù hợp văn hóa nơi
đây. Trong đó, nghỉ lễ thì đạo Hồi đi cầu kinh nên sẽ hạn chế việc mua sắm hay
xem các thông tin quảng bá sản phẩm.
=> Quảng cáo nên tránh đụng đến các yếu tố kiêng kị với đa sốngười theo tôn giáo
đạo Hồi. Cụ thể: trên bao bì sản phẩm nên ghi rõ không có thịt heo, không dùng
hình ảnh con heo trên bao bì sản phẩm, không dùng hình ảnh các vị Thánh hay phụ
nữ…
c. Kinh tế:
• Nền kinh tế Ai Cập được điều hành rất tồi từ nhiều thập niên nay và điều đó
cũng không được khắc phục dưới thời Morsi. Cuộc thương lượng kéo dài từ 10
năm nay với Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF) để vay 4,8 tỉ USD, tuy đã được nối lại
vào đầu tháng 4-2013 song vẫn có nguy cơ kéo dài hơn nữa vì Ai Cập lúc này
chưa có cả chính phủ hoàn chỉnh lẫn kế hoạch cải cách. Nhà phân tích Andrew
Cunningham cho rằng thậm chí nếu đạt được thỏa thuận vay vốn với IMF, Ai
Cập cũng không thể trấn an các nhà đầu tư nước ngoài và giải tỏa mọi khoản
viện trợ của Liên minh châu Âu, Ngân hàng Thế giới và Ngân hàng Phát triển
châu Phi, cũng không có nghĩa là dòng vốn đầu tư ồ ạt trở lại. Ai Cập vẫn trong
cơn hoảng loạn từ năm 2012, thêm vào đó là cuộc đảo chính quân sự vừa qua
nên khó có thể nói rằng bối cảnh có sức hấp dẫn các nhà đầu tư.
• Toàn bộ hệ thống của Ai Cập, theo chuyên gia Ahmed Galal, thuộc Diễn đàn
nghiên cứu kinh tế Ai Cập, cần phải được xem xét lại. Việc bổ nhiệm cựu Bộ
trưởng Tài chính Hazem Beblawi, người từng nhiều năm làm việc trong các thế
hệ tài chính, làm thủ tướng dường như cho thấy ý định biến việc khôi phục kinh
tế thành ưu tiên hàng đầu. Trong khi đó, việc thành lập một chính phủ liên minh
hợp, thuận tiện, để hạ giá thành sản phẩm…
• Hệ thống hạ tầng ngành điện Ai Cập được đánh giá yếu kém và quá cũ kĩ. Hơn
nữa, việc tạo ra điện cũng đi từ những phương pháp truyền thống và thô sơ, và
chưa có nhà máy năng lượng hạt nhân. Nguồn nước lại chủ yếu lấy từ sông Nin
chứ chưa thật sự chủ động trong việc khai thác nguồn nước riêng cho quốc gia.
Do đó, Ai Cập hiện là một trong những quốc gia gặp phải những vấn đề khó
khăn vì khan hiếm năng lượng trên nhiều phương diện.
=> Khó hạ giá thành sản phẩm được, hạn chế sản xuất trực tiếp tại nước này vì chi
phí cho
năng lượng là rất lớn. Việc chăm sóc sức khỏe cũng là điều không được coi trọng
tại quốc gia này. Do đó việc bảo vệ sức khỏe ở đây là điều xa xỉ. Ngoài ra, Ai Cập
thuộc 15 nước tiêu thụthuốc lá nhiều nhất thếgiới với gần 60% nam giới/ 79 triệu
dân hút thuốc lá, tỉ lệnày ởphụnữlà 2%. Tại Ai Cập, gạt tàn thuốc xuất hiện khắp
mọi nơi, từcầu thang máy đến phòng tắm, bởi hút thuốc lá trởthành một phần trong
cuộc sống hằng ngày. Tệ hút thuốc lá thậm chí còn phổ biến ở ngành y tế, nơi có
gần 1/3 người hút thuốc.
• Có ba loại nhà chính sau :
Nhà ở ba gian, vật liệu xây dựng là lau sậy và đất sét, mái bằng.
Nhà cho quan lại, tường gạchcao, mởba cửa quay ra phố.
Loại lâu đài, dinh thự có ao cá, vườn cây phía trước, vật liệu dùng cột gỗ, tường
gạch, dầm gỗ, mái bằng và trong nhà có trang trí tranh tường. Các cung điện của
nhà vua có quy mô lớn, nhấn mạnh trục dọc, bên trong các phòng có nhiều cột,
ngoài trục dọc còn có thể có trục phụ. Gỗ làm cung điện, Ai Cập không có mà
được vận chuyển từ Syrie tới.
=> Nhà ở, văn phòng vẫn mang tính chất cổ xưa nhiều, có không gian, không thích
phong cách hiện đại
g. Môi tường quốc tế:
• Sự cạnh tranh trong khu vực Châu Á nói chung và trong khu vực Đông Nam
Á nói riêng. Một số nước có trình độ khoa học kỹ thuật tiên tiến hơn nước ta,
có thể đảm bảo được các quy định và tiêu chuẩn của thị trường Nhật Bản.
đáp ứng tốt các quy định, tiêu chuẩn về hàng hóa của thị trường nhập khẩu thì các DN
Việt Nam sẽ có nhiều cơ hội nâng cao kim ngạch xuất khẩu. Hàng hóa Việt Nam đã bước
đầu tạo được uy tín đối với người tiêu dùng Châu Phi, chủ yếu vẫn là các mặt hàng nông
sản, mặt hàng tiêu dùng, hàng điện tử gia dụng, máy móc thiết bị…
b. Nhược điểm:
- Phí vận chuyển cao do kết hợp bảo quản trong quá trình vận chuyển. Đặc biệt là đối
với những mặt hàng kiểm soát bởi nhiệt độ (rau quả tươi, thủy sản đông lạnh), điều quan
trọng là doanh nghiệp cần phải lựa chọn những công ty vận tải uy tín và chuyên nghiệp để
đảm bảo container đóng hàng đủ điều kiện; hoặc đối với mặt hàng khác như gạo thì cần
lựa chọn con tàu phù hợp, với chuyên gia kiểm soát các hầm hàng để tránh ẩm ướt. Một
mặt hàng khác cũng có nguy cơ rủi ro cao là hàng điện tử, dễ bị trộm cướp và tấn công,
việc lựa chọn một công ty vận chuyển hay giao nhận phù hợp có đảm bảo các điều kiện
vận chuyển là yếu tố hàng đầu. Sau đó các doanh nghiệp nên lựa chọn các công ty bảo
hiểm cho mình để đảm bảo hàng hoá vận chuyển được an toàn và tiết kiệm được chi phí.
- Vấn đề phát sinh với đại lý ở địa phương: Hình thức Việt Nam sử dụng chủ yếu để
thâm nhập vào thị trường Ai Cập là xuất khẩu gián tiếp qua trung gian vào thị trường hay
tạm xuất vào khu thương mại tự do của Ai Cập sau đó tái xuất sang thị trường khác, chủ
yếu là Tây Phi chiếm tỉ trọng lớn. Nguyên nhân là do Việt Nam chưa thiết lập với các đối
tác Ai Cập mối quan hệ lâu dài và ổn định. Các doanh nghiệp thường gặp khó khăn trong
khâu thanh toán khi xuất hàng sang Ai Cập do Ai Cập thường chọn hình thức thanh toán là
trả chậm. Ở Nigieria vẫn còn nhiều doanh nghiệp làm ăn không chân chính, do đó phương
thức thanh toán tại Nigieria thường không rõ ràng và chứa đựng nhiều rủi ro. Các hiện
tượng lừa đảo qua mạng của nhiều đối tượng từ Châu Phi gia tăng cũng khiến nhiều doanh
nghiệp dè dặt khi đưa ra quyết định xuất khẩu.
3.2 Đầu tư:
Phương thức đầu tư ra ra nước ngoài được chia thành 2 hình thức: Thành lập công ty
mới và Mua lại công ty đang hoạt động.
a. Ưu điểm:
- Chi phí thấp
Chi phí lao động thấp: Khi đầu tư vào công ty nước ngoài, doanh nghiệp có thể tận dụng
nước đang phát triển đa số có lượng thừa vốn tương đối nên việc đầu tư ra nước ngoài
giúp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn
b. Nhược điểm:
- Công ty cần sang nhượng có thể đã lỗi thời về kỹ thuật, công nghệ hoặc đang có vấn
đề về tài chính. Như vậy, khi tiến hành thu mua thì khả năng rủi ro khá cao. Đặc biệt, đôi
khi chi phí để giải quyết vấn đề còn cao hơn vốn bỏ ra để thành lập công ty mới.
- Có khả năng doanh nghiệp sẽ bị lộ các bí quyết kinh doanh khi các nhà đầu tư hướng
dẫn, truyền đạt kinh nghiệm cho đối tác bên nước sở tại để nâng cao hiệu quả kinh doanh
cho cả hai bên.
- Dễ tạo ra đối thủ cạnh tranh trong tương lai: đối tác tại nước sở tại có cơ hội học hỏi
và hiện đại hóa chính mình từ đó làm tăng khả năng trở thành đối thủ mạnh trong tương
lai đối với nhà đầu tư
- Chịu nhiều rủi ro và có thể không thu hồi được vốn do sự khác biệt về môi trường
kinh doanh giữa nước này và nước kia và sự tác động của yếu tố ngoại cảnh.
3.3 Thoả thuận hợp đồng:
a. Chuyển nhượng:
Hiện tại doanh nghiệp Việt Nam chưa thâm nhập vào thị trường Ai Cập bằng hình
thức chuyển nhượng giấy phép.
b. Đại lý đặc quyền:
Theo nhận định của giới chuyên gia kinh tế, trong điều kiện hội nhập ngày càng sâu
rộng như hiện nay, nhất là việc gia nhập WTO, nhượng quyền thương mại sẽ trở thành
một trong những phương thức kinh doanh quan trọng. Hình thức này giúp các doanh
nghiệp Việt Nam giữ được thị phần trước sự xâm nhập của hàng loạt tập đoàn bán lẻ,
siêu thị nước ngoài.
Nhượng quyền thương mại là một hình thức hợp tác, trong đó, bên nhượng quyền
trao cho bên nhận quyền sử dụng mô hình, kỹ thuật kinh doanh, sản phẩm dịch vụ dưới
thương hiệu của mình và nhận lại một khoản phí hay phần trăm doanh thu trong thời
gian nhất định.
Đây được coi là một trong những phương thức đầu tư chắc chắn, nhất là đối với
những doanh nghiệp Việt Nam đang có kế hoạch mở rộng ra thị trường thế giới nhiều
Tạo cơ hội mở rộng hoạt động nhanh chóng
Vươn tới kỹ thuật mới, sản xuất hiệu quả hơn
Đối thủ cạnh tranh đến được công nghệ, thị trường mới
- Một vài liên minh chiến lược tiêu biểu giữa Việt Nam và Nhật Bản:
• Liên minh chiến lược giữa Ngân hàng Xuất nhập khẩu Việt Nam (Eximbank) và
Ngân hàng Sumitomo Mitsui (SMBC) – Nhật Bản:
Ông Trương Văn Phước, Tổng giám đốc Eximbank khẳng định: sự hợp tác chiến
lược này đã đạt được hiệu quả to lớn, góp phần giúp Eximbank có sự tăng trưởng vượt
bậc cả về quy mô lẫn chất lượng hoạt động.
Ông Harumitsu HIDA, Tổng lãnh sự Nhật Bản tại TP Hồ Chí Minh tin tưởng rằng với sự
hỗ trợ của SMBC – một doanh nghiệp tiêu biểu của Nhật Bản, hiện đang sở hữu 15% cổ
phần của Eximbank, trong thời gian tới Eximbank tiếp tục đẩy mạnh hiện đại hóa quản
trị ngân hàng để hướng đến mục tiêu trở thành một ngân hàng không chỉ mở rộng nghiệp
vụ ngân hàng bán lẻ trong nước mà còn cống hiến cho sự phát triển thương mại giữa hai
nước Việt Nam – Nhật Bản.
Liên minh chiến lược này đã mở ra mối quan hệ hợp tác toàn diện giữa hai tổ chức nhằm
bổ sung cho nhau những công nghệ và kinh nghiệm hữu ích, tiên tiến. SMBC đã cử các
chuyên gia biệt phái đến làm việc trực tiếp tại Eximbank, tích cực hỗ trợ Eximbank đối
với các hoạt động then chốt như: ngân hàng bán sỉ, ngân hàng bán lẻ, quản trị doanh
nghiệp.
• Liên minh BPO lớn nhất Việt Nam:
Harvey Nash Việt Nam và MOCAP Việt Nam đã ký một thỏa thuận chiến lược, xây
dựng một liên minh về BPO nhằm thúc đẩy quy trình kinh doanh gia công phần mềm
cho thị trường Nhật Bản.
Đây được coi là liên minh BPO lớn nhất Việt Nam với sự góp mặt của các doanh
nghiệp Anh, Nhật Bản và Việt Nam. Được biết, hoạt động của liên minh này nhắm tới
các khách hàng trong và ngoài nước có nhu cầu về BPO.
Ông TsudaKeigo, Tổng giám đốc MOCAP Việt Nam cho biết, thỏa thuận này sẽ tạo
ra một Call Center lớn nhất và chuyên nghiệp theo tiêu chuẩn an ninh toàn cầu.
Ông Paul Smith, Chủ tịch Harvey Nash Việt Nam chia sẻ: “Với liên minh giữa
F-AGREX được thành lập với mục đích triển khai các dịch vụ Gia công Quy trình
Doanh nghiệp toàn cầu (Global BPO). Đây là liên doanh đầu tiên trong lĩnh vực này của
AGREX tại khu vực Đông Nam Á.
Liên doanh này sẽ tận dụng thế mạnh của AGREX trong gần 50 năm triển khai dịch vụ
BPO và kinh nghiệm của FPT Software trong việc quản lý các dự án phần mềm quy mô
lớn để triển khai dịch vụ BPO chất lượng cao, giá thành cạnh tranh tại nhiều thị trường.
C. Môi trường vi mô cho sản phẩm gạo
1. Thị trường nội địa
- Thị trường trong nước giá giảm vào cuối tháng 10 khi nhu cầu từ Trung Quốc chậm lại và
một số khách hàng chuyển sang mua của Pakistan khi giá gạo Việt Nam tăng vào đầu tháng
10. Tuy nhiên, sang tháng 11, khi vụ thu hoạch lúa Thu – đông kết thúc và triển vọng nhu
cầu tăng từ Philippine kéo giá gạo tăng trở lại.
- Tính chung trong vòng 1 tháng qua (20/10 đến 20/11), giá gạo xuất khẩu của Việt Nam
giảm nhẹ 3% so với tháng trước đó, từ trung bình 435 USD/tấn xuống 422 USD/tấn. So với
cùng kỳ năm ngoái (466 USD/tấn), giá gạo xuất khẩu trung bình tháng qua giảm khoảng
9%. Hiện gạo 5% ở mức khoảng 400-405 USD/tấn, còn gạo 25% tấm ở mức 370-380
USD/tấn.
- Giá gạo trên thị trường nội địa, trái lại, tăng nhẹ khoảng 100-250 đồng, khi vụ thu hoạch kết
thúc.
- Bảng 2: Giá lúa gạo nguyên liệu tại ĐBSCL (đồng/kg)
Loại lúa, gạo Giá 21/10 Giá 21/11
- Lúa khô tại kho loại thường - 5.250 – 5.350 - 5.300-5.450
- Lúa dài - 5.400 – 5.500 - 5.600-5.700
- Gạo nguyên liệu loại 1 làm ra gạo 5% tấm
- 7.050 – 7.150 - 7.300-7.400
- Gạo nguyên liệu làm ra gạo 25% tấm
- 6.850 – 6.950 - 7.000-7.150
- Gạo thành phẩm 5% tấm không bao bì tại mạn
- 7.850 – 7.950 - 8.000-8.100
- Gạo 5% tấm - - 8000-8.100
dùng, máy móc thiết bị. Tốc độ tăng trưởng nhập khẩu gạo không cao, chỉ ở mức 2-3%/năm do phụ
thuộc vào tình hình sản xuất lúa trong nước, đặc biệt là yếu tố thời tiết.
- Các quốc gianhập khẩu gạo lớn nhất châu Phi là Nigeria, Senegal, Côte d’Ivoire, Nam Phi, Ghana,
Tanzania, Algeria, Cameroon, Guinea… Ngoại trừ hai nước nhập khẩu nhiều gạo đồ chất lượng cao
là Nam Phi và Nigeria, các nước khác trong khu vực chủ yếu nhập khẩu loại gạo tấm có phẩm cấp
và giá thành vừa phải. Riêng thị trường Nigeria đã chiếm 30% tổng lượng gạo nhập khẩu vào châu
Phi, tiếp đến là Nam Phi (5%), Bờ Biển Ngà, Senegal (5%), Ghana (4%)…
- Các nước cung cấp gạo chính cho khu vực này là Thái Lan, Ấn Độ, Pakistan, Việt Nam và Mỹ,
trong đó Thái Lan vẫn là nhà cung cấp gạo với khối lượng lớn nhất và chủng loại đa dạng.
- Do tình hình chính trị bất ổn, nhất là sau vụ lật đổ Tổng thống Morsi vào đầu tháng 7/2013,
kim ngạch xuất khẩu tất cả các mặt hàng của Việt Nam sang thị trường này đều giảm mạnh.
Hiện Ai Cập đã tụt xuống vị trí thứ tư trong số các thị trường xuất khẩu lớn nhất của Việt
Nam tại châu Phi. Kim ngạch xuất khẩu sang Ai Cập cả năm 2013 chỉ đạt 219,96 triệu USD,
giảm 26% so với năm 2012. Kim ngạch xuất khẩu mặt hàng thủy sản (chủ yếu là cá tra và
tôm) chỉ đạt 55,95 triệu USD (-29%), xơ, sợi dệt các loại 29,64 triệu USD (-21%), hạt tiêu
25,16 triệu USD (-30%), phương tiện vận tải và phụ tùng 15,21 triệu USD (-15%), máy
móc, thiết bị, dụng cụ phụ tùng đạt 14,30 triệu USD (-35%), cà phê 5,4 triệu USD (-64%),
hàng dệt may 5,2 triệu USD (-45%), sắt thép các loại 1,6 triệu USD (-23%).
- Chính phủ Ai Cập sẽ tiếp tục cấm xuất khẩu gạo để kiểm soát giá gạo, mặc dù thặng dư ước
tính khoảng 800.000 tấn và tuần trước vừa quyết định cấp giấy phép xuất khẩu đến 39 công
ty để xuất khẩu khoảng 102.000 tấn gạo trắng hạt trung bình cho đến 15/1/2014.
-
- Nguồn tin tại Ai Cập nói rằng quyết định ngừng xuất khẩu gạo đã được thực hiện bởi Thủ
tướng Chính phủ, người muốn giá gạo ở mức thấp cho đến khi chương trình trợ cấp thực
phẩm của chính phủ kết thúc. Đầu năm nay, chính phủ cấm xuất khẩu gạo để hỗ trợ các
chương trình trợ cấp của chính phủ, nhưng các thương nhân địa phương dự kiến sẽ tiếp tục
xuất khẩu do nhu cầu bán gạo với giá cao hơn của nông dân và dư thừa gạo dự trữ.
- Theo Bộ Nông nghiệp Mỹ, sản lượng gạo của Ai Cập trong niên vụ 2013-2014 dự kiến sẽ
đạt khoảng 4,85 triệu tấn, so với mức tiêu thụ khoảng 4 triệu tấn. Chính phủ yêu cầu dành
khoảng 1,2 triệu tấn gạo hàng năm cho các chương trình trợ cấp gạo và có kế hoạch mua