1
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT NGUYỄN LAN HƢƠNG
QUẢN LÝ CÁN BỘ, CÔNG CHỨC CẤP QUẬN
QUA THỰC TIỄN TẠI ĐỊA BÀN QUẬN HAI BÀ TRƢNG LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Mã số : 60 38 01 LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: GS.TS Phạm Hồng Thái
Hà nội - 2013 3
Lời cam đoan Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên
cứu khoa học của riêng tôi. Các số liệu, ví dụ và
trích dẫn trong luận văn đảm bảo độ tin cậy, chính
xác và trung thực. Những kết luận khoa học của
Mục lục Danh mục các bảng Danh mục các từ viết tắt MỞ ĐẦU
1
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC ĐỐI VỚI
CÁN BỘ, CÔNG CHỨC CẤP QUẬN
8
1.1.
Khái niệm, đặc điểm, yêu cầu quản lý nhà nước đối với cán
bộ, công chức cấp quận
8
1.1.1.
Một số khái niệm cơ bản
8
1.1.1.1.
Quan niệm về cán bộ, công chức
8
1.1.1.2.
Quan niệm về quản lý, quản lý nhà nước, quản lý nhà nước
đối với cán bộ, công chức
29
1.2.2.
Nguyên tắc quản lý cán bộ, công chức
30
1.2.3.
Nội dung cơ bản của quản lý cán bộ, công chức
31
Chương 2: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC ĐỐI VỚI CÁN
BỘ, CÔNG CHỨC CẤP QUẬN TẠI QUẬN HAI BÀ
TRƢNG, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
35
2.1.
Khái quát tình hình kinh tế - xã hội tác động đến quản lý
nhà nước đối với cán bộ, công chức quận Hai Bà Trưng
35
2.1.1.
Điều kiện về tự nhiên
35
2.1.2.
Lịch sử hình thành
35
2.1.3.
Các đơn vị hành chính
36
2.1.4.
Tình hình kinh tế - xã hội
36
2.1.5.
Tình hình an ninh - chính trị 6
2.3.2.
Hạn chế về tổ chức thực hiện và xử lý vi phạm trong quản
lý nhà nước đối với cán bộ, công chức của quận Hai Bà Trưng
61
2.3.3.
Nguyên nhân của hạn chế
64
Chương 3: QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP BẢO ĐẢM QUẢN LÝ
NHÀ NƢỚC ĐỐI VỚI CÁN BỘ, CÔNG CHỨC CẤP QUẬN
TẠI QUẬN HAI BÀ TRƢNG, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
67
3.1.
Quan điểm quản lý nhà nước đối với cán bộ, công chức
67
3.1.1.
Những yếu tố tác động đến đội ngũ cán bộ, công chức và
quản lý nhà nước đối với cán bộ, công chức
67
3.1.2.
Quan điểm quản lý nhà nước đối với cán bộ, công chức
70
3.2.
Giải pháp bảo đảm sự quản lý nhà nước đối với cán bộ,
công chức cấp quận thuộc địa bàn Hai Bà Trưng, thành phố
7
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
CBCC
: Cán bộ, công chức
CCHC
: Cải cách hành chính
CNH, HĐH
: Công nghiệp hóa, hiện đại hóa
HĐND
: Hội đồng nhân dân
QLNN
: Quản lý nhà nước
UBND
: Ủy ban nhân dân
XHCN
: Xã hội chủ nghĩa
8
chiến lược cán bộ thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước"
đã khẳng định: "Cán bộ là nhân tố quyết định sự thành bại của cách mạng,
gắn liền với vận mệnh của Đảng, của đất nước và chế độ, là khâu then chốt
trong công tác xây dựng Đảng" [8, tr. 34].
Trong giai đoạn cách mạng mới, toàn Đảng, toàn dân ta đang ra sức,
nỗ lực đẩy mạnh sự nghiệp đổi mới đi lên chủ nghĩa xã hội, thực hiện mục
tiêu "Dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh". Mục tiêu
đưa đất nước ta thoát khỏi tình trạng kém phát triển, cơ bản trở thành một
nước công nghiệp theo hướng hiện đại vào năm 2020, đòi hỏi phát huy cao
nhất mọi nguồn lực, tiềm năng, trí tuệ của dân tộc, đặc biệt là năng lực tổ
chức thực hiện của đội ngũ cán bộ các cấp. Mặt khác, trong bối cảnh tình hình
thế giới, khu vực, trong nước diễn biến phức tạp, chứa đựng nhiều nhân tố
tiềm ẩn gây gây mất ổn định; chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch tăng
cường đẩy mạnh chiến lược "Diễn biến hòa bình", chống phá cách mạng Việt
Nam, nhằm xóa bỏ sự lãnh đạo của Đảng, làm tê liệt hệ thống chính trị, thủ
tiêu chế độ chủ nghĩa xã hội ở nước ta, tập trung mũi nhọn tấn công chủ yếu
vào đội ngũ cán bộ, đảng viên. Bên cạnh đó, tình trạng suy thoái về phẩm chất
đạo đức, lối sống trong một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, tệ tham
10
nhũng, lãng phí, quan liêu; sự yếu kém trong quản lý, điều hành của nhiều
cấp, nhiều ngành làm giảm lòng tin của nhân dân đối với Đảng Nhà nước, đe
dọa sự ổn định, phát triển đất nước. Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI) "Một
số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng trong tình hình hiện nay" đã xác định
ba vấn đề đang thực sự cấp bách, cần làm ngay đó là:
(1) Ngăn chặn, đẩy lùi tình trạng suy thoái về tư tưởng
chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ,
trong thực hiện công tác tổ chức, quản lý CBCC chưa nhịp nhàng và chặt chẽ.
Việc kiểm tra, giám sát, phát hiện các vi phạm của CBCC chưa được tiến
hành thường xuyên. Đội ngũ cán bộ làm công tác QLNN đối với CBCC chưa
đào tạo cơ bản về nghiệp vụ. Hiệu quả quản lý và sử dụng đội ngũ CBCC còn
nhiều yếu kém, hạn chế, bất cập.
Với những lý do trên, tác giả chọn đề tài "Quản lý cán bộ, công
chức cấp quận qua thực tiễn tại địa bàn quận Hai Bà Trưng" làm luận văn
Thạc sĩ, chuyên ngành Lý luận và lịch sử nhà nước và pháp luật.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Chủ đề về xây dựng và quản lý CBCC là chủ đề được nhiều nhà khoa
học quan tâm, nghiên cứu ở Việt Nam. Đã có nhiều công trình nghiên cứu, từ
các bài khoa học, luận văn, luận án, đề tài nghiên cứu các cấp, sách chuyên
khảo, trong đó có nhiều công trình có giá trị như:
+ Đề tài khoa học cấp nhà nước, "Luận cứ khoa học việc nâng cao
chất lượng đội ngũ cán bộ trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại
hóa đất nước", năm 2001. Đề tài này dựa trên quan điểm lý luận và tổng kết
thực tiễn, đã được phân tích, lý giải, hệ thống hóa các căn cứ khoa học của
việc nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, đặc biệt là đội ngũ cán bộ lãnh đạo
chủ chốt các cấp.
+ Đề tài khoa học cấp Bộ Nội vụ: "Cải cách công vụ, công chức đúng
quy trình tiến độ tạo động lực phát triển kinh tế- xã hội ", 2008. Đề tài này chỉ
đề cập đến công tác xây dựng đội ngũ CBCC nói chung theo yêu cầu cải cách
công vụ, công chức nhà nước.
12
+ Luận án tiến sĩ Luật học của Mạc Minh Sản: "Hoàn thiện pháp luật
về cán bộ, công chức chính quyền cấp xã đáp ứng yêu cầu xây dựng Nhà
13
công trình nghiên cứu đó hoặc mới dừng lại ở mặt phương pháp luận là chủ
yếu, hoặc chỉ tập trung vào mô tả thực trạng, cũng như đề cập đến một số giải
pháp trước mắt về CBCC và công tác CBCC. Đây là công trình nghiên cứu
một cách cơ bản và hệ thống cơ sở lý luận và thực tiễn về QLNN đối với
CBCC chính quyền cấp quận
3. Mục đích, nhiệm vụ, đối tƣợng, phạm vi nghiên cứu
* Mục đích nghiên cứu
Luận giải góp phần làm rõ những vấn đề lý luận và thực tiễn về
QLNN đối với CBCC chính quyền cấp quận qua thực tiễn địa bàn quận Hai
Bà Trưng. Trên cơ sở đó đề xuất một số giải pháp bảo đảm QLNN đối với
CBCC chính quyền cấp quận, ở quận Hai Bà Trưng hiện nay.
* Nhiệm vụ của luận văn:
- Phân tích làm rõ cơ sở lý luận về quản lý CBCC chính quyền cấp quận.
- Đánh giá thực trạng và chỉ ra được những nguyên nhân, kết quả và
hạn chế trong quản lý CBCC chính quyền cấp quận ở quận Hai Bà Trưng,
thành phố Hà Nội.
- Đề xuất các giải pháp và những kiến nghị bảo đảm quản lý CBCC
chính quyền quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội hiện nay.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
- Về đối tượng nghiên cứu
Là những vấn đề lý luận và thực tiễn về quản lý CBCC chính quyền
cấp quận thuộc địa bàn quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội.
- Phạm vi nghiên cứu
Là đội ngũ CBCC chính quyền cấp quận thuộc địa bàn quận Hai Bà
Trưng, thành phố Hà Nội. Các số liệu, tư liệu phục vụ cho luận văn giới hạn
chủ yếu từ năm 2006 đến nay.
15
Luận văn có thể dùng làm tài liệu tham khảo trong nghiên cứu và
giảng dạy tại các cơ sở đào tạo, bồi dưỡng công chức hành chính nhà nước,
đào tạo chuyên gia pháp luật ngành luật học.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội
dung của luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý nhà nước đối với cán bộ, công
chức cấp quận.
Chương 2: Thực trạng quản lý nhà nước đối với cán bộ, công chức cấp
quận tại quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội.
Chương 3: Quan điểm và giải pháp bảo đảm quản lý nhà nước đối với
cán bộ, công chức cấp quận tại quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội.
16
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC
ĐỐI VỚI CÁN BỘ, CÔNG CHỨC CẤP QUẬN
1.1. KHÁI NIỆM, ĐẶC ĐIỂM, YÊU CẦU QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC ĐỐI VỚI
CÁN BỘ, CÔNG CHỨC CẤP QUẬN
Cán bộ, công chức là những bộ phận cấu thành bộ máy nhà nước, là
công chức và (Đảng, đoàn thể) được gọi là cán bộ. Năm 1991, Hội đồng Bộ
trưởng (nay là Chính phủ) ban hành Nghị định 169/HĐBT quy định đối tượng
công chức; đến ngày 9 tháng 3 năm 1998 Ủy ban Thường vụ Quốc hội ban
hành Pháp lệnh CBCC. Theo Điều 1 pháp lệnh CBCC thì: "Công chức là
những người làm việc trong các cơ quan nhà nước, được tuyển dụng, bổ
nhiệm làm nhiệm vụ thường xuyên trong biên chế, được hưởng lương từ ngân
sách Nhà nước theo ngạch, bậc lương được Pháp luật quy định" [2, tr. 7].
Năm 2008, Quốc hội ban hành Luật CBCC trong đó quy định:
Cán bộ là công dân Việt Nam, được bầu cử, phê chuẩn, bổ
nhiệm giữ chức vụ, chức danh theo nhiệm kỳ trong cơ quan của
Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở
trung ương, ở tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, ở quận, huyện,
thị xã, thành phố trực thuộc tỉnh trong biên chế và hưởng lương từ
ngân sách nhà nước [22, tr. 1];
Công chức là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ
nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh trong cơ quan của Đảng
Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở trung
ương, cấp tỉnh, cấp huyện; trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội
nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công
nhân viên quốc phòng; trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân
dân mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp và trong bộ
máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập của Đảng
Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị- xã hội, trong biên
18
chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước; đối với công chức
trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập thì
19
Khi bàn về quản lý, các nhà khoa học đã đưa ra nhiều khái niệm khác
nhau về quản lý:
- Quản lý là quá trình hoàn thành công việc thông qua con người và
làm việc với con người.
- Quản lý là hoạch định, tổ chức, bố trí nhân sự, lãnh đạo và kiểm soát
công việc thông qua con người và làm việc với con người.
- Quản lý là vận dụng khai thác các nguồn nhân lực (hiện hữu và tiềm
năng) kể cả nguồn vật lực để đạt đến những kết quả mong muốn.
- Quản lý là sự tác động của chủ thể quản lý đến đối tượng quản lý
(con người và tập thể người) nhằm làm cho hệ thống quản lý hoạt động có
hiệu quả, giải quyết được những nhiệm vụ đề ra, là sự trông coi, gìn giữ, tổ
chức và điều khiển hoạt động theo những yêu cầu, nhiệm vụ nhất định.
- Quản lý là sự tác động chỉ huy, điều khiển, hướng dẫn hành vi, quá
trình xã hội để chúng phát triển hợp qui luật, đạt mục đích đề ra và đúng ý
định của người quản lý…
Như vậy, quản lý là một quá trình xã hội, là một thuộc tính nội tại của
mọi quá trình lao động xã hội. Bất cứ lao động xã hội nào cũng cần có ở một
chừng mực quản lý nhất định, để xác lập sự tương tác giữa công việc cá thể
và hoàn thành những chức năng chung xuất hiện trong vận động của toàn bộ
cơ chế sản xuất; qui mô lao động xã hội càng rộng lớn thì đòi hỏi càng cao về
chất lượng của quản lý. Cho nên, có thể coi quản lý như là lao động để "điều
khiển lao động" là điều kiện quan trọng làm cho xã hội loài người vận hành
và phát triển. Bởi tính đặc thù của loại lao động này mà sự phân công lao
động xã hội dẫn tới việc tách quản lý thành một chức năng độc lập.
Bản chất quản lý của xã hội là quản lý con người và các mối quan hệ
của họ, nó bảo đảm sự phù hợp tối đa giữa nhân tố chủ quan tức hoạt động tự
giác của con người với tính tất yếu khách quan, sự vận động hợp qui luật của
các chức năng đối nội và đối ngoại của nhà nước" [25, tr. 258]. Và như vậy,
21
tất cả các cơ quan nhà nước đều làm chức năng QLNN, "Pháp luật trở thành
phương tiện chủ yếu để quản lý nhà nước. Đồng thời bằng pháp luật Nhà
nước có thể trao quyền cho các tổ chức hoặc cá nhân để họ thay mặt Nhà
nước tiến hành các hoạt động quản lý" [23, tr. 12].
Theo Từ điển Luật học, quản lý nhà nước được hiểu theo hai nghĩa.
Theo nghĩa rộng, QLNN được hiểu là tác động của nhà nước với các hình
thức hoạt động của bộ máy nhà nước lên các quan hệ xã hội để bảo đảm cho
các quan hệ xã hội phát triển theo đúng mục tiêu đã định, ngăn ngừa các
khuynh hướng phát triển sai lệch, ngăn chặn kịp thời các biểu hiện phát triển
sai trái. Theo nghĩa hẹp, QLNN là tác động của nhà nước bằng hình thức
hoạt động của một loại cơ quan trong bộ máy nhà nước gọi là cơ quan
QLNN (cũng thường gọi là cơ quan hành chính hay hành pháp) mà nhiệm
vụ là chấp hành Hiến pháp, luật, các văn bản dưới luật của cơ quan quyền
lực nhà nước.
Cũng có quan điểm cho rằng, QLNN là thực hiện quyền lực nhà nước
về chính trị, kinh tế và hành chính để quản lý công việc chung của quốc gia.
Nói cách khác, QLNN là việc tổ chức, thực thi quyền lực của nhà nước trong
việc quản lý các nguồn lực xã hội và kinh tế, phục vụ cho phát triển đất nước.
Như vậy, các quan niệm về QLNN có thể khác nhau về cách diễn đạt,
song đều thể hiện nội dung cơ bản của QLNN là: Sự tác động mang tính
quyền lực nhà nước của chủ thể QLNN lên các đối tượng QLNN nhằm thực
hiện chức năng, nhiệm vụ của nhà nước.
1.1.1.4. Quản lý nhà nước đối với cán bộ, công chức chính quyền
cấp quận
cao. QLNN đối với CBCC bao hàm từ quản lý hệ thống đến quản lý các phân
hệ của nó và đặc biệt là quản lý từng người và cả đội ngũ CBCC; theo hệ
thống thống nhất từ Trung ương đến địa phương. Trên thực tế quản lý CBCC
ở các cấp phải nhằm mục tiêu tạo điều kiện tối ưu để xây dựng đội ngũ CBCC
vững mạnh, phục vụ cho sự phát triển của đất nước. Quản lý CBCC có thể coi
là một chuỗi tác động hợp lý (có mục đích, có kế hoạch, có hệ thống) mang
23
tính tổ chức, của chủ thể quản lý đến đội ngũ CBCC để làm cho qui trình này
vận hành tốt, hoàn thành những mục tiêu dự kiến.
Từ những phân tích trên, có thể hiểu QLNN với CBCC chính quyền
cấp quận là một dạng của QLNN, có đầy đủ các đặc điểm chung của QLNN,
đồng thời có những đặc điểm riêng xuất phát từ mục đích, yêu cầu quản lý và
đặc thù của đối tượng quản lý là CBCC chính quyền cấp quận. QLNN đối với
CBCC chính quyền cấp quận trong tiến trình đổi mới ở nước ta hiện nay phải
thể hiện được cơ chế tác động mang tính quyền lực trong hoạt động quản lý
của nhà nước, thông qua các cơ quan hành chính trong bộ máy nhà nước
nhằm đạt mục đích quan trọng là vừa bảo đảm cho CBCC phát huy được vai
trò, trách nhiệm và quyền hạn trong thực hành công vụ, vừa nâng cao hiệu
lực, hiệu quả trong QLNN đối với CBCC.
Tóm lại, QLNN đối với CBCC chính quyền cấp quận được hiểu là
hoạt động của nhà nước trong việc tổ chức thực hiện pháp luật về CBCC và
xử lý các vi phạm pháp luật nhằm tác động lên hoạt động của CBCC theo
những phương thức nhất định để thực hiện các chức năng, nhiệm vụ quản lý
của nhà nước nhằm xây dựng đội ngũ cán bộ ngày một chính quy, chuyên
nghiệp, có tinh thần, thái độ phục vụ trong công vụ.
1.1.2. Đặc điểm và yêu cầu quản lý nhà nƣớc đối với cán bộ, công
hợp với sự vận động của xã hội, qua đó chủ thể quản lý và đối tượng được
quản lý mới phát huy được vai trò, chức năng, nhiệm vụ của mình trong quản
lý và thực hành công vụ
Thực tế ở nước ta, Ngày 26/02/1998, Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã
thông qua Pháp lệnh CBCC, để đáp ứng yêu cầu phát triển của xã hội ngày
13/11/2008 Quốc hội ban hành Luật CBCC. Đây là sự kiện pháp lý, đánh dấu
bước phát triển hết sức quan trọng trong quá trình xây dựng và hoàn thiện
pháp luật về CBCC ở nước ta. Cùng với sự ra đời của Pháp lệnh, Luật CBCC
Chính phủ đã ban hành các nghị định, thông, tư hướng dẫn thi hành; Bộ
Chính trị, cấp ủy đảng, các tổ chức đoàn thể chính trị xã hội ban hành quy chế
quản lý CBCC, qua đó đã trở thành một hệ thống văn bản quy phạm pháp luật
25
về CBCC nhà nước rõ ràng hơn, có hiệu lực pháp lý cao. Từ Pháp lệnh CBCC
đến Luật CBCC hệ thống pháp luật về CBCC đã có những thay đổi đáng kể,
điều này đã góp phần tạo cơ sở pháp lý cho hoàn thiện và nâng cao chất lượng
đội ngũ CBCC nhà nước, nâng cao chất lượng hoạt động công vụ, từng bước
đáp ứng yêu cầu của cơ chế QLNN trong giai đoạn mới
Thứ hai, đặc điểm về chủ thể quản lý.
Chủ thể quản lý xã hội nói chung là bộ máy điều khiển, quản lý công
việc hành chính nhà nước với các phương pháp quản lý và hoạt động mang
tính chất quyền lực nhà nước. Đó là cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền
được pháp luật quy định để nhân danh nhà nước sử dụng quyền lực được giao
nhằm điều hành, chỉ đạo một hệ thống hay một quá trình vận động theo ý chí
của mình nhằm đạt được mục đích đã được định trước. Chủ thể quản lý có
quyền hạn và trách nhiệm thực hiện hành vi quản lý được giao, tác động lên
đối tượng quản lý nhằm phối hợp hoạt động riêng lẻ của từng cá nhân, tạo