Quản lý nhà nước về đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức cấp xã từ thực tiễn thành phố hồ chí minh - Pdf 46

VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

PHẠM VĂN ĐIỆN

QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG
CÁN BỘ, CÔNG CHỨC CẤP XÃ TỪ THỰC TIỄN
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

HÀ NỘI - 2017


VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

PHẠM VĂN ĐIỆN

QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG
CÁN BỘ, CÔNG CHỨC CẤP XÃ TỪ THỰC TIỄN
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Chuyên ngành:

Luật Hiến pháp và Luật Hành chính

Mã số:

60 38 01 02

góp vô cùng quý báu của quý thầy cô giáo đang tham gia giảng dạy tại Học
viện Khoa học xã hội; sự tận tình cung cấp thông tin của các anh, chị là cán
bộ, công chức đang công tác tại Sở Nội vụ, các Phòng Nội vụ và Ủy ban nhân
dân phường, xã, thị trấn thuộc Thành phố Hồ Chí Minh. Tôi xin được ghi
nhận và cám ơn những sự giúp đỡ này.
Mặc dù bản thân đã rất cố gắng, nhưng luận văn không tránh khỏi
những thiếu sót. Vì vậy, rất mong được sự chỉ dẫn, góp ý của quý thầy cô giáo
và tất cả bạn bè.
Tp. Hồ Chí Minh, ngày 25 tháng 8 năm 2017
Tác giả luận văn

Phạm Văn Điện


MỤC LỤC
MỞ ĐẦU ............................................................................................................................... 1
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ ĐÀO TẠO BỒI DƯỠNG
CÁN BỘ, CÔNG CHỨC CẤP XÃ ..................................................................................... 8
1.1. Khái niệm, vị trí, vai trò, nhiệm vụ và đặc điểm cán bộ, công chức cấp xã ................... 8
1.1.1. Quan niệm về cán bộ, công chức ................................................................................. 8
1.1.2. Vị trí, vai trò, nhiệm vụ của cán bộ, công chức cấp xã ............................................. 13
1.2. Quan niệm về đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức ................................................... 16
1.3. Quản lý nhà nước về đào tạo, bồi dưỡng cán bộ công chức và cán bộ, công chức cấp
xã.......................................................................................................................................... 24
1.3.1. Khái niệm quản lý nhà nước về đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức.................... 24
1.3.2. Đặc điểm, vai trò và nội dung quản lý nhà nước về đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công
chức ...................................................................................................................................... 25
1.3.3. Cơ sở pháp lý về đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức ........................................... 31
1.3.4. Yếu tố tác động đến quản lý nhà nước về đào tạo, bồi dưỡng cán bộ công chức ..... 32
Kết luận chương 1 ................................................................................................................ 34

3.2.2. Đổi mới việc xây dựng kế hoạch và triển khai tổ chức thực hiện kế hoạch đào tạo,
bồi dưỡng cán bộ chủ chốt cấp xã ....................................................................................... 68
3.2.3. Xây dựng đội ngũ giảng viên có năng lực phục vụ cho công tác đào tạo, bồi dưỡng
cán bộ chủ chốt cấp xã ........................................................................................................ 70
3.2.4. Tăng cường cơ sở vật chất và trang thiết bị hiện đại phục vụ cho công tác đào tạo,
bồi dưỡng cán bộ chủ chốt cấp xã ....................................................................................... 71
3.2.5. Đổi mới công tác kiểm tra đánh giá học viên là cán bộ, công chức cấp xã .............. 72
3.2.6. Đánh giá hiệu quả sau đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức cấp xã ...................... 72
Kết luận chương 3 ................................................................................................................ 75
KẾT LUẬN ......................................................................................................................... 76
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO.......................................................................... 79


DANH MỤC KÝ HIỆU VÀ CHỮ VIẾT TẮT

CBCC

Cán bộ, công chức

CB,CC,VC

Cán bộ, công chức, viên chức

ĐTBD

Đào tạo, bồi dưỡng

HĐND

Hội đồng nhân dân

ngũ cán bộ, công chức chính quyền cấp xã đủ đức, đủ tài để hoàn thành tốt nhiệm
vụ của Nhà nước và Nhân dân giao luôn là vấn đề cần thiết, quan trọng ở nước ta.
Chính vì những lý do trên, trong những năm qua công tác đào tạo, bồi dưỡng cán
bộ, công chức luôn được Đảng và Nhà nước coi trọng và đặt lên hàng đầu. Trong
Nghị quyết Đại hội lần thứ XII của Đảng về đổi mới công tác tư tưởng, lý luận có
nêu: “Đổi mới mạnh mẽ công tác giáo dục lý luận chính trị, học tập nghị quyết của
Đảng. Thực hiện nền nếp việc bồi dưỡng lý luận, cập nhật kiến thức mới cho cán
bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp; Tiếp tục đổi mới hệ thống
chương trình đào tạo, bồi dưỡng lý luận chính trị theo hướng nâng cao chất lượng,
chú trọng tính hiệu quả và phù hợp với từng đối tượng” [9, tr201-202], Chú trong
1


công tác xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức: “Đảng tập trung lãnh đạo về đường
lối, chủ trương xây dựng tiêu chí, tiêu chuẩn, cơ chế, chính sách về cán bộ, công
chức. Đẩy mạnh dân chủ hóa công tác cán bộ, quy định rõ trách nhiệm, thảm quyền
của mỗi tổ chức, mỗi cấp trong xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức có bản lĩnh
chính trị vững vàng, phẩm chất đạo đức trong sáng, có trình độ, năng lực chuyên
môn phù hợp, đáp ứng yêu cầu của giai đoạn mới” “ Tiếp tục đẩy mạnh thực hiện
Chiến lược cán bộ thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước” [9–
tr.180, 205].
Với tầm quan trọng như vậy, trong giai đoạn hiện nay, việc xây dựng đội ngũ
cán bộ, công chức nói chung và đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã nói riêng có vai
trò quyết định sự thành bại của cách mạng và hiệu lực, hiệu quả hoạt động của bộ
máy nhà nước.
Xuất phát từ nhận định trên, tôi lựa chọn đề tài “Quản lý Nhà nước về đào
tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức cấp xã từ thực tiễn Thành phố Hồ Chí Minh” làm
luận văn tốt nghiệp thạc sĩ luật học. Nhằm phân tích sâu sắc hơn nữa những vấn đề
lý luận, đồng thời qua đó xem xét việc thực hiện và áp dụng các quy định pháp luật
hiện nay đối với công tác đào tạo, bồi dưỡng CB,CC trong thực tiễn tại thành phố

và trên thế giới. Từ đó xác định hệ thống các yêu cầu, tiêu chuẩn của cán bộ, công
chức đáp ứng đòi hỏi của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân,
vì dân
- Hồ Tân: “Vấn đề đào tạo, bồi dưỡng cán bộ lãnh đạo chính quyền xã trong
giai đoạn hiện nay” [23]
- Lại Đức Vượng: “Hoàn thiện hệ thống các cơ quan đào tạo, bồi dưỡng cán
bộ, công chức nhà nước” [26]
- Phạm Cao Việt Linh: “Hoàn thiện quản lý nhà nước về công tác đào tạo,
bồi dưỡng cán bộ, công chức hành chính ở TP. HCM trong giai đoạn hiện nay”
[14]
Ngoài ra, có thể kể tên các công trình nghiên cứu khác liên quan đến hoạt
động đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức như: Tác giả Lưu Kiếm Thanh với bài
”Đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức, viên chức một hình thức giáo dục – đào
tạo đặc thù và chuyên biệt” [29]; Tác giả Đinh Văn Tiến, Thái Văn Hà với bài “Đổi
mới công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức, viên chức trong tình hình mới”
[28]. Tác giả Trần Kiếm (2003), “Những vấn đề cơ bản của khoa học giáo dục” [13]
3


Với những công trình khoa học và luận án, luận văn, bài báo liên quan đến đề
tài “Quản lý nhà nước về đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức cấp xã từ thực tiển
Thành phố Hồ Chí Minh”. Từ những công trình nói trên đã góp phần làm sáng tỏ
một số vấn đề lý luận và thực trạng về hoạt động đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công
chức nói chung và Quản lý nhà nước về đào tạo cán bộ, công chức nói riêng. Tuy
nhiên, chưa có công trình nào nghiên cứu một cách cụ thể, đầy đủ vấn đề Quản lý
nhà nước về đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức cấp xã từ thực tiễn Thành phố
Hồ Chí Minh. Việc nghiên cứu đề tài này với cấp độ luận văn thạc sĩ luật , chuyên
ngành Luật Hiến pháp và luật Hành chính nhằm có những đề xuất các giải pháp
hoàn thiện quản lý nhà nước (QLNN) về đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức
(CB,CC) cấp xã từ thực tiễn Thành phố Hồ Chí Minh. Chính vì vậy, đề tài này

Học viện Cán bộ Thành phố Hồ Chí Minh, 24 Phòng Nội vụ quận, huyện và 322 xã,
phường, thị trấn trực thuộc Thành phố Hồ Chí Minh).
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
5.1. Phương pháp luận
Đề hoàn thành mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài, luận văn quán
triệt các nguyên lý cơ bản của Chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh cùng
các quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước về đào tạo,
bồi dưỡng cán bộ, công chức cấp xã từ thực tiễn Thành phố Hồ Chí Minh.
5.2. Phương pháp nghiên cứu
Để đạt được mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu, đề tài sử dụng các phương
pháp nghiên cứu cơ bản sau:
- Phân tích nội dung, chính sách: nguồn gốc, dự kiến và ý nghĩa của các
chính sách được phân tích nhằm hiểu các định hướng đối với đào tạo, bồi dưỡng
cán bộ, c6ng chức cấp xã từ thực tiễn Thành phố Hồ Chí Minh.
- Tổng quan tư liệu: Các ấn phẩm từ các nguồn khác nhau bao gồm báo cáo
và nghiên cứu của các cơ quan Sở Nội vụ, Học viện Cán bộ Thành phố, Phòng Nội
vụ và các xã, phường, thị trấn tại Thành Phố Hồ Chí Minh.
- Ngoài ra, đề tài còn sử dụng các phương pháp: hệ thống, phân tích, tổng
hợp, thống kê, so sánh, xã hội học, luật học, dự báo để chọn lọc tri thức khoa học
cũng như kinh nghiệm thực tiển quản lý nhà nước về đào, tạo bồi dưỡng cán bộ,
công chức. Tác giã hết sức cố gắng kết hợp và tận dụng các ưu điểm của các

5


phương pháp nêu trên để có cái nhìn tổng quát, nhìn nhận cốt lõi của vấn đề nghiên
cứu.
6. Ý nghĩa và thực tiễn
6.1. Ý nghĩa lý luận
Qua luận văn này, tác giả dự định đóng góp những ý kiến có tính lý luận và

Chương 3: Định hướng và giải pháp hoàn thiện quản lý nhà nước về đào tạo,
bồi dưỡng cán bộ, công chức cấp xã từ thực tiễn Thành phố Hồ Chí Minh.

7


Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ ĐÀO TẠO
BỒI DƯỠNG CÁN BỘ, CÔNG CHỨC CẤP XÃ
1.1. Khái niệm, vị trí, vai trò, nhiệm vụ và đặc điểm cán bộ, công chức
cấp xã
1.1.1. Quan niệm về cán bộ, công chức
Ở nước ta, khái niệm cán bộ, công chức được hình thành gắn liền với sự phát
triển của nền hành chính nhà nước. Trải qua các giai đoạn phát triển của nền hành
chính nhà nước thì khái niệm này được hiểu theo nhiều cách khác nhau.
Cán bộ, công chức, viên chức là những thuật ngữ cơ bản của chế độ công vụ.
Trong khoa học hành chính, theo các cách tiếp cận khác nhau, người ta đã đưa ra
các quan niệm khác nhau về các thuật ngữ "cán bộ", "công chức", "viên chức"
Khái niệm “cán bộ” được sử dụng khá lâu tại các nước xã hội chủ nghĩa và
bao hàm một diện rất rộng các loại nhân sự thuộc khu vực Nhà nước và các tổ chức
chính trị, tổ chức chính trị - xã hội. Thuật ngữ khi đó thường dùng là “cán bộ, công
nhân viên chức”, bao gồm tất cả những người làm công hưởng lương từ Nhà nước,
từ những người đứng đầu một cơ quan tới các nhân viên phục vụ như lái xe, bảo vệ
hay lao động tạp vụ. Sự đánh đồng như vậy dẫn tới việc không phân định rõ ràng về
chức năng và nhiệm vụ, không phân biệt rõ những người thực thi chức năng quản lý
nhà nước và những người cung ứng dịch vụ công trong bộ máy nhà nước, thậm chí
gây nhầm lẫn trong hoạt động cũng như hành xử công vụ. Thực tiễn cho thấy, ngay
cả nhiều quy định về kỷ luật cán bộ cũng khó thực thi bởi chính sự mơ hồ và dễ gây
lẫn lộn trong khái niệm này.
Các hoạt động thuộc chức năng công vụ do các công chức của bộ máy hành

vực hành chính nhà nước, khu vực sự nghiệp và các cơ quan của Đảng, đoàn thể.
Những người làm việc trong các tổ chức, đơn vị còn lại như doanh nghiệp nhà
nước, lực lượng vũ trang thì do các văn bản pháp luật về lao động, về sĩ quan quân
đội nhân dân Việt Nam, về công an nhân dân Việt Nam... điều chỉnh.
Pháp lệnh Cán bộ, công chức ra đời là văn bản pháp lý cao nhất của nước ta
về công chức, đánh dấu bước chuyển biến cơ bản về công tác cán bộ của Đảng và
Nhà nước. Với quy định của Pháp lệnh Cán bộ, công chức các tiêu chí: Công dân
Việt Nam, trong biên chế, hưởng lương từ ngân sách nhà nước mới chỉ là những căn
cứ để xác định một người có phải là “cán bộ, công chức” hay không.
9


Tuy nhiên, vấn đề ai là cán bộ, ai là công chức vẫn chưa được phân biệt và
giải quyết triệt để. Sau 2 năm thực hiện, Pháp lệnh đã bộc lộ những hạn chế, nên đã
được sửa đổi vào năm 2000. Tuy vậy, ngay cả Pháp lệnh sửa đổi vẫn không phân
định rõ ràng được các đối tượng là cán bộ, công chức, chẳng hạn những người làm
việc trong đơn vị sự nghiệp của nhà nước là công chức, trong khi đó những người
làm việc trong cơ quan hành chính xã, phường, thị trấn lại không phải là công chức.
Nhằm khắc phục những hạn chế đó, Pháp lệnh được sửa đổi một lần nữa vào năm
2003. [22]
Pháp lệnh Cán bộ, công chức sửa đổi năm 2003 đã phân biệt được đối tượng
làm việc trong các đơn vị sự nghiệp của Nhà nước và gọi họ là viên chức, đồng thời
Pháp lệnh sửa đổi đã quy định thêm công chức xã, phường, thị trấn. Tuy nhiên, cả
Pháp lệnh Cán bộ, công chức năm 1998 và Pháp lệnh Cán bộ, công chức sửa đổi
năm 2003 đều không đưa ra được khái niệm về cán bộ, khái niệm về công chức, chỉ
đưa ra thuật ngữ chung là cán bộ, công chức.
Nhằm khắc phục mặt hạn chế của các văn bản từ trước đến nay, chưa làm
rõ được các khái niệm về cán bộ, công chức. Luật cán bộ, công chức năm 2008
được ban hành đã làm rõ hơn khái niệm về cán bộ, công chức, tạo cơ sở pháp lý có
giá trị cao để xây dựng và quản lý đội ngũ cán bộ, công chức có đủ phẩm chất, năng

Nam, được bầu cử giữ chức vụ theo nhiệm kỳ trong Thường trực Hội đồng nhân
dân, Ủy ban nhân dân, Bí thư, Phó Bí thư Đảng ủy, người đứng đầu tổ chức chính
trị - xã hội.
Công chức xã, phường, thị trấn (sau đây gọi chung là cấp xã) làm công tác
chuyên môn thuộc biên chế của Ủy ban nhân dân cấp xã, có trách nhiệm tham mưu,
giúp Ủy ban nhân dân cấp xã thực hiện chức năng quản lý nhà nước về lĩnh vực
công tác được phân công và thực hiện các nhiệm vụ khác do Chủ tịch Ủy ban nhân
dân cấp xã giao; trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước.
Đặc điểm đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã
So với đội ngũ cán bộ, công chức chính quyền cấp trên, cán bộ, công chức
cấp xã có những đặc điểm sau đây:
Một là: cán bộ, công chức cấp xã là những người đang giữ chức danh nhất
định theo trình độ đào tạo và được xếp vào bậc lương tương ứng trong hệ thống
hành chính. Vì vậy, công chức có vị thế xã hội nhất định để thực hiện quyền lực của
Nhà nước quản lý tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội ở cơ sở.
11


Hai là, vì chính quyền cấp xã là cấp thấp nhất, là cấp cơ sở trực tiếp tiếp xúc
với nhân dân. Cán bộ, công chức cấp xã thực hiện quan hệ công tác không chỉ với
tư cách là người thực thi quyền lực nhà nước mà còn là người trong mối quan hệ họ
hàng, làng xóm. Là người trực tiếp hàng ngày giải quyết các vấn đề liên quan đến
lợi ích thiết thực đời sống của nhân dân, cán bộ, công chức cấp xã phải đạt được:
một mặt, áp dụng, thực hiện đúng chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách và
pháp luật của Nhà nước; mặt khác, phải phù hợp với truyền thống, phong tục và
điều kiện thực tế ở địa phương. Sự nghiệp đổi mới, quá trình công nghiệp hóa, hiện
đại hóa đất nước làm cho bộ mặt nông thôn thay đổi từng ngày trên các lĩnh vực đòi
hỏi công chức cấp xã phải có tư duy mới, trình độ và kiến thức mới về chính trị,
kinh tế, khoa học – công nghệ, quản lý và đặc biệt là kỹ năng hành chính.
Ba là, cán bộ, công chức cấp xã trực tiếp thực hiện các nhiệm vụ cụ thể, là

thành 3 cấp sau:
- Tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (gọi chung là cấp tỉnh).
- Quận, huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (gọi chung là cấp huyện).
- Xã, phường, thị trấn (gọi chung là cấp xã).
Theo dó, cấp xã là cấp cơ sở nhỏ nhất trong đơn vị hành chính lãnh thổ ở
nước ta. Ở cấp xã có hệ thống chính trị gồm: Đảng bộ (hoặc chi bộ), chính quyền
cấp xã (Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân); Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt
Nam, Hội liên hiệp phụ nữ, Hội Cựu Chiến binh, Hội Nông dân, Đoàn Thanh niên
Cộng sản Hồ Chí Minh.
Tại khoản 3. Điều 4 Luật cán bộ, công chức quy định: Cán bộ cơ sở (xã,
phường, thị trấn) là công dân việt Nam, được bầu cử giữ chức vụ theo nhiệm kỳ
trong Thường trực Hội đồng nhân dân (HĐND), Ủy ban nhân dân (UBND), Bí thư,
Phó Bí thư Đảng ủy, người đứng dầu tổ chức chính trị - xã hội.
- Chức danh cán bộ cơ sở:
Bí thư, Phó bí thư Đảng ủy, Thường trực Đảng ủy cấp xã (nơi không có Phó
bí thư chuyên trách công tác Đảng); Bí thư, Phó bí thư chi bộ xã (nơi chưa thành lập
Đảng ủy cấp xã); Chủ tịch, Phó chủ tịch Hội đồng nhân dânChủ tịch, Phó chủ tịch
Ủy ban nhân dân; Chủ tịch Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam; Bí thư Đoàn Thanh
niên Cộng sản Hồ Chí Minh; Chủ tịch Hội liên hiệp Phụ nữ Việt Nam; Chủ tịch Hội
Nông dân Việt Nam (áp dụng đối với những xã, phường, thị trấn có hoạt động nông.

13


Lâm, ngư, diêm nghiệp và có tổ chức Hội Nông dân Việt Nam); Chủ tịch Hội Cựu
chiến binh Việt Nam
- Chức danh công chức cơ sở:
Tại Nghị định số 06/2010/NĐ-CP ngày 25/03/2010 [4] quy định:
Trưởng Công an (nơi chưa bố trí lực lượng công an chính qui); Chỉ huy
trưởng Quân sự;Văn phòng – Thống kê;Địa chính – xây dựng – đô thị và môi

Vai trò, nhiệm vụ của cán bộ, công chức cấp xã
Cấp xã là đơn vị hành chính cuối cùng trong hệ thống chính trị ở nước ta, có
vai trò rất quan trọng. Đây là nơi nối liền Đảng, Nhà nước, các tổ chức của hệ thống
chính trị với nhân dân; là nơi thực hiện đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách,
pháp luật của Nhà nước. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói: “Cấp xã là cấp gần gũi
nhân dân nhất, là nền tảng của hành chính. Cấp xã làm được việc thì mọi việc đều
xong xuôi” [16, tr371]. Như vậy, cấp xã (đặc biệt là chính quyền cấp xã) là cấp
quan hệ trực tiếp với nhân dân, là nơi đầu tiên giải quyết các yêu cầu của dân, tạo
điều kiện cho dân thực hiện tốt quyền và nghĩa vụ của mình. Chính quyền cấp xã là
cấp trực tiếp thực hiện việc quản lý nhà nước ở địa phương trên các lĩnh vực sau:
- Bảo vệ thành quả cách mạng và thực hiện chế độ dân chủ xã hội chủ nghĩa,
bảo đảm cho mọi công dân được hưởng quyền dân chủ, bình đẳng và công bằng xã
hội về các mặt, trên cơ sở thực hiện nghiêm, đúng và đầy đủ pháp luật; đồng thời
yêu cầu mọi công dân thực hiện nghĩa vụ đối với Nhà nước, bảo đảm an ninh chính
trị, trật tự, an toàn xã hội.
- Quản lý kinh tế: Chính quyền cấp xã sử dụng quyền lực Nhà nước để đảm
bảo cho các đơn vị, các tổ chức sản xuất, kinh doanh, dịch vụ của tất cả các thành
phần kinh tế tự do hoạt động theo quy định pháp luật, tạo điều kiện để các thành
phần kinh tế làm tròn nghĩa vụ đối với Nhà nước.
- Quản lý công tác văn hóa, giáo dục, y tế.
- Quản lý các vấn đề xã hội: Vận động người dân thực hiện chính sách dân
số, kế hoạch hóa gia đình; giải quyết việc làm cho người lao động; chăm lo chính
sách xã hội cho những đối tượng có công, về hưu, người neo đơn, trẻ mồ côi…
- Chăm lo công tác quốc phòng, an ninh, góp phần xây dựng lực lượng vũ
trang nhân dân và quốc phòng toàn dân vững mạnh.

15


Thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn được quy định tại Điều 33, 34 và 35



luận ở các khía cạnh khác nhau. Chính vì vậy, khái niệm đào tạo, bồi dưỡng chưa
thống nhất về nhận thức.
Quan niệm về đào tạo
Nghị định 18/2010/NĐ-CP ngày 05/03/2010 của Chính phủ quy định: “Đào
tạo là quá trình truyền thụ, tiếp nhận có hệ thống những tri thức, kỹ năng theo quy
định của từng cấp học, bậc học” [5]
Theo tứ điển tiếng Việt do GS. Hoàng Phê chủ biên (2010), Đào tạo – đó là
“Làm cho trở thành người có năng lực theo những tiêu chuẩn nhất định” [18]
Theo Đại từ điển do GS Nguyễn Như Ý chủ biên (1998). Đào tạo, đó là “dạy
dỗ, rèn luyện để trở nên người có hiểu biết, có nghề nghiệp” [27]. Vì vậy, ta có thể
hiểu: đào tạo là đề cập đến việc dạy các kỹ năng thực hành, nghề nghiệp hay kiến
thức liên quan đến một lĩnh vực cụ thể, để người học lĩnh hội và nắm vững những
tri thức, kỹ năng, nghề nghiệp một cách có hệ thống để chuẩn bị cho người đó thích
nghi với cuộc sống và khả năng đảm nhận được công việc nhất định. Khái niệm đào
tạo thường có nghĩa hẹp hơn khái niệm giáo dục, thường đào tạo đề cập đến giai
đọn sau, khi một người đã đạt đến một độ tuổi nhất định, có một trình độ nhất định.
Có nhiều dạng đào tạo: đào tạo cơ bản và đào tạo chuyên sâu, đào tạo chuyên môn
và đào tạo nghề, đào tạo lại và đào tạo từ xa…”
Như vậy, có thể hiểu đào tạo là một hoạt động có mục đích, có tổ chức được
thực hiện theo những quy trình nhất định nhằm truyền đạt cho người học hệ thống
kiến thức, kỹ năng phù hợp nhất định. Thông thường hoạt động đào tạo được tổ
chức trong những cơ sở giáo dục đào tạo hoặc tại cơ sở sản xuất với nội dung
chương trình, thời gian khác nhau cho các bậc học khác nhau. Cuối mỗi khóa đào
tạo, học viên sẽ được cấp bằng tốt nghiệp.
Quan niệm về bồi dưỡng
Nghị định 18/2010/NĐ-CP đưa ra khái niệm: “Bồi dưỡng là hoạt động trang
bị, cập nhật, nâng cao kiến thức, kỹ năng làm việc” [5]
Theo Từ điển Tiếng Việt do GS Hoàng Phê chủ biên. Bồi dưỡng là làm cho

chuẩn nhất định”, còn bồi dưỡng được xác định là quá trình làm cho người ta “tăng
thêm năng lực hoặc phẩm chất”
Từ quan niệm trên, có thể hiểu: Đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức là quá
trình tổ chức học tập cho đội ngũ cán bộ, công chức nhằm trang bị, cập nhật, nâng
cao kiến thức, kỹ năng, thái độ làm việc giúp họ thực hiện tốt hơn nhiệm vụ được
18



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status