ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
ĐỖ THỊ HOA BÁN ĐẤU GIÁ TÀI SẢN
THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM HIỆN NAY
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
HÀ NỘI - 2010
1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong tình hình thực tế hiện nay, tài sản vừa có giá trị sử dụng vừa có
giá trị kinh tế, trong điều kiện kinh tế thị trường nó trở thành yếu tố quan
trọng trong giao lưu dân sự. Với vai trò và ý nghĩa to lớn đó, theo quy định
của Bộ luật dân sự, để phát huy quyền chủ động của các cơ quan nhà nước và
cá nhân trong quá trình xử lý tài sản, để quản lý tài sản được chặt chẽ, hạn chế
những tiêu cực phát sinh trong quá trình quản lý và sử dụng tài sản cần thiết
phải có những quy đinh chặt chẽ hơn trong quá trình bán đấu giá tài sản. Hơn
nữa, Nghị quyết 08 NQ/TW ngày 02/01/2002 của Bộ Chính trị về cải cách tư
pháp, cùng với tiến trình hội nhập quốc tế yêu cầu nghiệp vụ bán đấu giá tăng
cả về số lượng và chất lượng.
Tuy nhiên, trong khoa học pháp lý Việt Nam, nội dung bán đấu giá tài
sản vẫn chưa được quan tâm, nghiên cứu một cách sâu sắc, đầy đủ, có hệ thống
và toàn diện. Chẳng hạn, dưới góc độ khoa học, hàng loạt vấn đề cần được làm
sáng tỏ để có quan điểm thống nhất và đầy đủ như lịch sử, khái niệm, bản chất
pháp lý và các loại tài sản bán đấu giá, lịch sử phát triển của các quy phạm về
lĩnh vực này, tìm hiểu pháp luật các nước có quy định về bán đấu giá tài sản hay
việc tổng kết và đánh giá thực tiễn áp dụng những quy định về bán đấu giá tài
sản, các giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng Mặc dù, Chính phủ đã ban hành
Nghị định số 05/2005/NĐ-CP ngày 18/01/2005 về bán đấu giá tài sản (sau đây
gọi tắt là Nghị định 05/2005/NĐ-CP) và Thông tư số 03/2005/TT-BTP ngày
học; Bộ Tư pháp - Vụ Bổ trợ Tư pháp: Các quy định nước ngoài về bán đấu
giá tài sản, Luật về bán đấu giá tài sản của Cộng hòa nhân dân Trung Hoa,
(Tài liệu dịch tham khảo) tháng 7, 2004.
Như vậy, bán đấu giá tài sản đang được thực hiện khá phổ biến, tuy
nhiên những vấn đề pháp lý về bán đấu giá tài sản vẫn chưa được luận giải
một cách có hệ thống, sâu sắc và đầy đủ của khoa học pháp lý.
3
3. Mục đích, nhiệm vụ, đối tượng nghiên cứu của luận văn
3.1. Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở phân tích, đánh giá, tổng kết các quan hệ về bán đấu giá tài
sản để làm sáng tỏ một cách có hệ thống về mặt lý luận và thực tiễn về những
nội dung cơ bản của nghiệp vụ bán đấu giá tài sản theo luật dân sự Việt Nam
và việc áp dụng những quy định này trong thực tiễn, từ đó xác định những bất
cập để đề xuất kiến giải lập pháp.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Từ mục đích nghiên cứu nêu trên, tác giả luận văn đặt cho mình các
nhiệm vụ nghiên cứu chủ yếu sau:
Về mặt lý luận: Trên cơ sở nghiên cứu lịch sử phát triển của nghiệp vụ
bán đấu giá tài sản cho đến nay, phân tích khái niệm, các loại tài sản bán đấu
giá, chủ thể tham gia bán đấu giá, các đơn vị được tiến hành bán đấu giá, trình
tự và thủ tục bán đấu giá trong các quy định hiện hành để làm sáng tỏ bản
chất pháp lý và những nội dung cơ bản của nghiệp vụ bán đấu giá theo quy
định của pháp luật Việt Nam.
Về mặt thực tiễn: Nghiên cứu, đánh giá việc áp dụng các quy phạm
pháp luật về nghiệp vụ bán đấu giá trong thực tiễn nước ta, đồng thời phân
tích những tồn tại xung quanh việc quy định nghiệp vụ bán đấu giá và thực
tiễn áp dụng nhằm đề xuất và luận chứng sự cần thiết phải hoàn thiện và đưa
ra các giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng các quy phạm về nghiệp vụ này
trong pháp luật Việt Nam.
5
Chương 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ BÁN ĐẤU GIÁ TÀI SẢN
1.1. KHÁI NIỆM VÀ ĐẶC ĐIỂM VỀ BÁN ĐẤU GIÁ TÀI SẢN
1.1.1. Sơ lược lịch sử đấu giá tài sản trên thế giới
Hiện nay, đấu giá là đã trở thành một hiện tượng phổ biến trong xã
hội. Thậm chí, đấu giá có thể ảnh hưởng gián tiếp tới cuộc sống của chúng ta.
Giá trị của con đường, giá vé máy bay, hay nhà ở đều chịu sự tác động rất lớn
của vấn đề bán đấu giá.
Đấu giá có một lịch sử lâu dài, đã được ghi nhận sớm nhất là năm 500
TCN theo Herodotus, ở Babylon đấu giá phụ nữ để đạt mục đích hôn nhân
được tổ chức hàng năm. Nếu phụ nữ được bán ngoài hình thức bán đấu giá sẽ
bị coi là bất hợp pháp.
Trong suốt thời Đế chế La Mã, sau chiến thắng quân sự, binh sĩ La Mã
thường thu lượm chiến lợi phẩm được để lại để bán đấu giá. Sau đó nô lệ
thường bị bắt như là chiến lợi phẩm "của" chiến tranh, đã được bán đấu giá tại
các đấu trường, với số tiền thu được sẽ hướng tới dự trữ cho chiến tranh.
Người La Mã cũng sử dụng đấu giá để thanh lý tài sản của người phải thi
hành án mà tài sản đã bị tịch thu.Ví dụ, Marcus Aurelius bán đồ nội thất gia
đình để trả hết nợ, bán hàng kéo dài trong nhiều tháng. Một trong những cuộc
đấu giá lịch sử quan trọng diễn ra vào năm 193 sau công nguyên, khi toàn bộ
Đế chế La Mã đã được đưa vào khối bán đấu giá của Praetorian Guard. Ngày
23/3, Bộ đội Praetorian giết hoàng đế đầu tiên Pertinax, sau đó đưa ra đế chế
cho người trả giá cao nhất. Didius Julianus chào bán mọi người khác cho giá
6.250 drachmas (tiền Hy Lạp), một hành động có ý nghĩa khởi xướng cho một
cuộc chiến không bom đạn. Didius sau đó bị xử tử hai tháng sau khi
Septimius Severus đã chinh phục La Mã. Thời kỳ cuối của đế quốc La Mã
7
còn biết đến bức tượng cổ Artemis ở Hy Lạp được điêu khắc bằng đá cẩm
thạch. Trong năm 2007, một đồng La Mã có điêu khắc "Artemis và Stag" đã
được bán tại Sotheby tại New York ở Hoa Kỳ với giá 28.600.000 $, vượt xa
so với ước tính của nó và thiết lập kỷ lục mới là tác phẩm điêu khắc đắt giá
nhất cũng như được giao bán trong một cuộc bán đấu giá.
Mặc dù những cuộc bán đấu giá ra đời từ rất lâu và lần đầu tiên chúng
đã được phân tích có hệ thống vào năm 1961 bằng cách sử dụng các phương
tiện của cuộc bán đấu giá. Vickrey chứng minh cân bằng đối với những cuộc
bán đấu giá và cũng đã chứng minh làm thế nào để những cuộc bán đấu giá
khác nhau được tính toán và có thể tạo ra doanh thu bán tương đương.
Vickrey đoạt giải Nobel Kinh tế năm 1996.
Thời kỳ hiện đại của học thuyết có thể được xác định là năm 1993-
1994 với cách mạng đấu giá rộng rãi phổ tần số ở Mỹ, theo Paul Milgrom
trong "học thuyết đấu giá để làm việc". Việc thay đổi đã lôi cuốn được sự
chú ý của công chúng đối với học thuyết bán đấu giá, và nhiều phiên đấu
giá đã diễn ra kể từ đó, kể cả bán đấu giá gỗ, đấu giá khí thải, và bán đấu giá
tài sản.
Đấu giá là một thị trường đặc biệt mà tài sản được bán cho người trả
giá cao nhất. Nhìn chung, có ba thành phần chính để tạo nên một cuộc bán
đấu giá:
Người mua là người có nhu cầu mua sản phẩm
Người bán là người cung cấp một sản phẩm
Tổ chức bán đấu giá đóng vai trò giám sát thị trường
Như vậy, có thể nhận thấy, sẽ tồn tại các kiểu trả giá, các hình thức
của người bán, và các quy tắc bán đấu giá có thể dẫn đến những kết quả cực
kỳ khác nhau, sẽ có một số phiên đấu giá có thể thuận lợi cho người mua,
người bán và tổ chức bán đấu giá. Những cuộc đấu giá khác nhau mang
8
không có quy định pháp lý, nhưng nó sẽ làm ảnh hưởng nghiêm trọng tới uy
tín của một tổ chức bán đấu giá.
Mỗi hình thức bán đấu giá có đặc tính riêng như độ chính xác giá cả
và thời gian cần thiết để chuẩn bị và tiến hành đấu giá. Tầm quan trọng của số
lượng những người tham gia. Mở phiên đấu giá trong một khoảng thời gian
dài với nhiều người tham gia thì giá cuối cùng đưa ra sẽ sát với giá trị thị
trường. Trường hợp có vài người tham gia và họ chỉ được cho phép đưa ra
một giá, thời gian được lưu, nhưng giá trúng có thể không phản ánh đúng giá
trị thị trường với bất kỳ mức độ chính xác. Giá trị đặc biệt và tầm quan trọng
trong quá trình bán đấu giá thực tế là thời gian trôi qua kể từ thời điểm đó giá
đầu tiên được tiết lộ vào thời điểm kết thúc giá thầu đã trở thành một thỏa
thuận ràng buộc.
Mặc dù hình thức mua bán đấu giá ở nước ngoài đã và đang hết sức
phổ biến như đấu giá nông trại ở Úc, giấy phép sử dụng các phần của quang
phổ điện cho truyền thông (ví dụ như mạng điện thoại di động). Thị trường
điện tử tư nhân sử dụng các kỹ thuật bán đấu giá tổ hợp để liên tục bán hàng
hóa (than, quặng sắt, ngũ cốc, nước ) cho một nhóm người mua (dựa trên giá
cả và giá các yếu tố phi giá cả); đấu giá gỗ, trong đó các công ty mua giấy
phép để kết nối với đất đai của chính phủ; những cuộc đấu giá phân phát gỗ,
trong đó các công ty mua gỗ trực tiếp từ đấu giá rừng của chính phủ; đấu giá
điện, trong đó quy mô lớn máy phát điện và người tiêu dùng điện vào việc tạo
ra giá thầu hợp đồng; đấu giá môi trường, trong đó công ty dự thầu mua các
giấy phép để tránh bị yêu cầu giảm tác động môi trường; hay công việc kinh
doanh đồ cổ, ngoài việc đóng vai trò là một cơ hội cho hoạt động thương mại,
chúng cũng phục vụ như là sự kiện xã hội và giải trí với các tài sản như: tem,
tiền xu, xe hơi cổ điển, mỹ thuật…; đấu giá bất động sản bao gồm cả bất động
sản khu dân cư và thương mại, trang trại, lô đất bỏ trống và đất đai; bán đấu
giá các loại hàng cũ, đặc biệt là đối với các thiết bị nông nghiệp hoặc bán máy
10
địa điểm thuận lợi khác. Nếu bán đấu giá tại trụ sở Tòa án thì không để ảnh
hưởng đến sự hoạt động của cơ quan" [31].
Quy định trên cho thấy chưa có được một địa điểm bán đấu giá ổn
định, chuyên về bán đấu giá mà được tiến hành một cách ngẫu nhiên tùy theo
tài sản và sự lựa chọn của chấp hành viên thậm chí có thể được tiến hành tại
trụ sở của Tòa án.
Để thực thi việc thi hành án dân sự có hiệu quả, ngày 26-4-1993, Pháp
lệnh Thi hành án dân sự ra đời quy định trình tự, thủ tục thi hành án dân sự,
trong đó quy định cụ thể trình tự bán đấu giá tài sản để thi hành án dân sự,
còn việc bán đấu giá tài sản trong giao lưu dân sự chưa được điều chỉnh. Điều
đó phần nào cho thấy cơ chế thị trường vào thời kỳ này chưa phát triển, nhu
cầu bán đấu giá tài sản của nhân dân ta chưa nhiều. Hơn nữa, việc bán đấu giá
tài sản và quản lý bán đấu giá tài sản trong thời kỳ này chưa đạt hiệu quả cao.
Nguyên nhân cơ bản tập trung vào sự thiếu một thể chế hoàn chỉnh, một đội
ngũ Chấp hành viên bán đấu giá đủ năng lực và cơ sở vật chất tương đối đầy
đủ để phục vụ cho việc tiến hành bán đấu giá.
Khi Bộ luật Dân sự Việt Nam năm 1995 ra đời tạo đã tạo cơ sở pháp
lý cho hoạt động bán đấu giá tài sản tại Việt Nam phát triển (từ Điều 452 -
Điều 455 Bộ luật Dân sự Việt Nam). Để cụ thể hóa luật về quy chế và tổ chức
bán đấu giá, ngày 19/12/1996 Chính phủ ban hành Nghị định số 86/CP ban
hành Quy chế bán đấu giá tài sản (sau đây gọi tắt là Nghị định 86/CP).
Nghị định 86/CP của Chính phủ bước đầu đã xây dựng khung pháp lý
cụ thể cho hoạt động bán đấu giá tài sản. Do đây là lĩnh vực còn mới mẻ nên
Quy chế chưa xác định rõ nội dung công tác quản lý nhà nước đối với hoạt
động bán đấu giá tài sản. Đối với địa vị pháp lý của người bán đấu giá tài sản
cụ thể là Trung tâm dịch vụ bán đấu giá tài sản được quy định chung chung là
thành lập theo quyết định của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, Sở Tư pháp
trực tiếp quản lý chung còn về chuyên môn nghiệp vụ chưa được đề cập đến.
12
việc chuyển quyền sở hữu cho người mua được tài sản đã bán đấu giá, trong
một số trường hợp còn từ chối hoặc chậm trể trong việc cấp giấy chứng nhận
quyền sở hữu, quyền sử dụng tài sản đã bán đấu giá đối với tài sản mà pháp
luật quy định phải đăng ký quyền sở hữu, quyền sử dụng.
Những trở ngại nêu trên đã làm cho quyền và lợi ích hợp pháp của
người mua được tài sản bán đấu giá không được đảm bảo, làm giảm uy tín
của các Trung tâm dịch vụ bán đấu giá tài sản. Trước tình hình và những yêu
cầu mới đó, việc ban hành Nghị định về bán đấu giá tài sản thay thế Nghị
định số 86/CP là một yêu cầu cấp thiết.
Qua thực tiễn gần 10 năm áp dụng Quy chế bán đấu giá tài sản và kinh
nghiệm học tập từ các nước có thể chế bán đấu giá phát triển, hoàn thiện,
ngày 14/6/2005 Quốc hội thông qua Bộ luật Dân sự năm 2005 (từ Điều 456
đến Điều 469 liên quan đến bán đấu giá tài sản) và Chính phủ ban hành Nghị
định số 05/2005/NĐ - CP ngày 18/01/2005 thực sự là một bước phát triển mới
trong công tác bán đấu giá tài sản, là cơ sở pháp lý quan trọng để phát triển
dịch vụ bán đấu giá tài sản trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ
nghĩa. Nghị định 05/2005/NĐ-CP đã đáp ứng yêu cầu về nâng cao hiệu quả
hoạt động và xã hội hoá công tác bán đấu giá tài sản. Nghị định 05/2005/NĐ-CP
được xây dựng trên quan điểm kế thừa và phát triển các quy định pháp luật về
bán đấu giá tài sản còn phù hợp để giải quyết các vấn đề bức xúc mà thực tế
đòi hỏi, tháo gỡ các khó khăn vướng mắc về bán đấu giá tài sản. Ngay sau khi
Nghị định 05/2005/NĐ-CP có hiệu lực thi hành, Bộ Tư pháp đã ban hành
Thông tư số 03/2005/TT-BTP hướng dẫn một số quy định của Nghị định, Bộ
Tài chính cũng ban hành Thông tư số 34/2005/TT-BTC hướng dẫn việc xác
định giá khởi điểm và chuyển giao tài sản nhà để bán đấu giá và các công văn
liên quan. Ngoài các văn bản luật, pháp lệnh, nghị định, thông tư, Công văn
hướng dẫn, các tỉnh còn có Quy chế đấu giá quyền sử dụng đất, Quy chế bán
đấu giá nhà thuộc sở hữu nhà nước.
14
hạ tầng hoặc Trung tâm phát triển quỹ đất của tỉnh thực hiện, có nơi thành lập
Hội đồng cấp tỉnh, cấp huyện để bán đấu giá, có nơi giao cho Trung tâm dịch
vụ bán đấu giá tài sản thực hiện. Có nơi, các tài sản như ô tô, nhà, xưởng dôi
dư đều do tổ chức quản lý tài sản tự tổ chức bán, không đảm bảo tính khách
quan, minh bạch.
Đối với tài sản là tang vật, phương tiện vi phạm hành chính bị tịch thu
sung quỹ nhà nước do các cơ quan có thẩm quyền ra quyết định tịch thu, thì
một số các cơ quan đó vẫn thành lập Hội đồng bán đấu giá tài sản tổ chức bán
đấu giá tài sản, mặc dù Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính quy định rất rõ
việc bán các loại tài sản đó do Trung tâm dịch vụ bán đấu giá tài sản, hoặc
Hội đồng bán đấu giá tài sản cấp huyện bán. Việc chuyển giao loại tài sản này
sang cho Trung tâm dịch vụ bán đấu giá theo quy định của Pháp lệnh Xử lý vi
phạm hành chính ở một số nơi chưa được thực hiện nghiêm túc.
Thứ hai, do sự không đồng bộ, thống nhất trong các quy định của
pháp luật nên hiện nay có nhiều loại tổ chức thực hiện việc bán đấu giá tài sản
và bán đấu giá theo các trình tự, thủ tục rất khác nhau, không chặt chẽ dẫn
đến việc khó quản lý, kiểm soát hoạt động và gây thất thoát tài sản, chủ yếu là
tài sản công. Đặc biệt là việc bán đấu giá của các Hội đồng bán đấu giá tài
sản. Hội đồng bán đấu giá tài sản được thành lập ở địa phương có nhiều bất
cập, hạn chế. Các Hội đồng này được thành lập để bán đấu giá theo vụ việc,
không mang tính thường xuyên, chuyên nghiệp. Khi kết thúc cuộc bán đấu
giá, Hội đồng tự giải thể. Do đó, khi có tranh chấp xảy ra liên quan đến quyền
và lợi ích hợp pháp của những người tham gia đấu giá, người trúng đấu giá,
các bên không có cơ sở pháp lý để khiếu nại Hội đồng. Ngoài ra, do cơ chế
hoạt động (bao gồm cả cơ chế tài chính) và trách nhiệm pháp lý của Hội đồng
bán đấu giá tài sản không rõ ràng, nên khó kiểm soát, dẫn đến thất thoát, thiệt
hại về vật chất trong việc bán đấu giá các loại tài sản của Nhà nước. Có nhiều
16
Hội đồng bán với số tiền chênh lệch rất thấp như: Hội đồng bán đấu giá tỉnh
nghiệp vụ bán đấu giá tài sản nên, cán bộ, viên chức của Trung tâm, doanh
nghiệp chưa được đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ bán đấu giá tài sản một cách
bài bản, phải vừa học vừa làm. Ngoài ra, do quy định của pháp luật không rõ
ràng nên trong thực tế nhiều cuộc bán đấu giá không do đấu giá viên điều
hành. Vì vậy, khi có tranh chấp phát sinh về quyền và nghĩa vụ của các bên
liên quan đến vụ việc bán đấu giá rất khó giải quyết.
Thứ sáu, khi bán đấu giá tài sản thi hành án, tài sản tịch thu do vi
phạm hành chính, tổ chức bán đấu giá gặp rất nhiều khó khăn. Khách hàng có
tâm lý không thích mua tài sản thi hành án, bởi lẽ nhiều trường hợp không
giao được tài sản cho người trúng đấu giá do có sự tranh chấp, khiếu kiện kéo
dài. Do đó, hiệu quả bán đấu giá tài sản thi hành án không cao, tỷ lệ bán đấu
giá thành so với hợp đồng ủy quyền thấp (khoảng 31%). Ngoài ra, trong
trường hợp bán đấu giá không thành đối với tài sản thi hành án, tài sản tịch
thu do vi phạm hành chính thì không có cơ chế rõ ràng về việc thanh toán các
chi phí thực tế.
Thứ bảy, các quy định về quản lý nhà nước trong Nghị định số
05/2005/NĐ-CP còn thiếu, lỏng lẻo dẫn đến các cơ quan chức năng chưa đủ
căn cứ để áp dụng biện pháp xử lý đối với các tổ chức bán đấu giá tài sản và
các tổ chức không có chức năng bán đấu giá tài sản mà vẫn bán đấu giá.
Trong thực tế, các doanh nghiệp đăng ký hoạt động bán đấu giá một cách tràn
lan, cơ quan quản lý nhà nước không nắm được cụ thể tình hình tổ chức, hoạt
động của các tổ chức bán đấu giá tài sản, đấu giá viên và kết quả hoạt động
bán đấu giá tài sản.
Thứ tám, nhận thức của các cơ quan nhà nước về quản lý hoạt động
bán đấu giá tài sản còn chưa thống nhất. Sự phối hợp giữa các Bộ có liên
quan, các ban, ngành ở một số địa phương trong hoạt động bán đấu giá tài sản
còn chưa được chặt chẽ và đồng bộ. Một số cơ quan nhà nước có thẩm quyền
18
đăng ký quyền sở hữu, quyền sử dụng tài sản trong một số trường hợp còn từ
Alabama). Còn đạo luật Floriada năm 2003 đưa ra khái niệm "Bán đấu giá
tuyệt đối" là cuộc bán đấu giá không yêu cầu giá khởi điểm tối thiểu mà hàng
hoá sẽ được bán cho người trả giá cao nhất.
Ở Việt Nam theo Từ điển Luật học thì "Bán đấu giá tài sản là hình
thức bán công khai một tài sản, một khối tài sản; theo đó có nhiều người
muốn mua tham gia trả giá, người trả giá cao nhất nhưng không thấp hơn giá
khởi điểm là người mua được tài sản" [39].
Theo khoản 1 Điều 2 Nghị định 17/2010/NĐ-CP thì:
Bán đấu giá tài sản là hình thức bán tài sản công khai theo
phương thức trả giá lên, có từ hai người trở lên tham gia đấu giá
theo nguyên tắc và trình tự, thủ tục được quy định tại Nghị định
này. Phương thức trả giá lên là phương thức trả giá từ thấp lên cao
cho đến khi có người trả giá cao nhất [17].
Đồng thời Nghị định 17/2010/NĐ-CP cũng xác định các loại tài sản
bán đấu giá chỉ bao gồm:
Tài sản là tang vật, phương tiện vi phạm hành chính bị tịch thu sung
quỹ nhà nước theo quy định của pháp luật về xử lý vi phạm hành chính;
Tài sản bảo đảm trong trường hợp pháp luật về giao dịch bảo đảm
quy định phải xử lý bằng bán đấu giá;
Tài sản nhà nước được xử lý bằng bán đấu giá theo quy định của
pháp luật về quản lý, sử dụng tài sản nhà nước; tài sản là quyền sử dụng đất
trong trường hợp Nhà nước giao đất có thu tiền sử dụng đất hoặc cho thuê đất
được bán đấu giá theo quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền;
Các tài sản khác phải bán đấu giá theo quy định của pháp luật.
20
Trong trường hợp cá nhân, tổ chức lựa chọn tổ chức bán đấu giá
chuyên nghiệp để bán tài sản thuộc sở hữu của mình thì áp dụng nguyên tắc,
trình tự, thủ tục bán đấu giá tài sản quy định của Nghị định.
Khác với quy định ở Việt Nam, Trung Quốc xem bán đấu giá tài sản
sở hữu và chủ sở hữu ủy quyền hoặc cơ quan nhà nước có thẩm quyền yêu
cầu tổ chức có chức năng bán đấu giá tài sản. Như vậy, tổ chức bán đấu giá
tài sản không phải là chủ sở hữu của tài sản. Pháp luật quy định những điều
kiện cần thiết để bảo đảm quyền lợi của chủ sở hữu bằng cách cho họ tham
gia định giá khởi điểm của tài sản nhưng không trực tiếp đứng ra bán tài
sản, người mua phải trả bằng hoặc cao hơn giá khởi điểm thì tài sản mới
được bán.
Theo quy định của Luật Thương mại và pháp luật dân sự thì chủ thể
trong bán đấu giá hàng hoá và đấu giá tài sản đều bao gồm có người bán tài
sản, hàng hoá, người tổ chức đấu giá, người điều hành giá và người trúng giá.
Tuy nhiên, về tổ chức, thẩm quyền của người tổ chức bán đấu giá trong hai
loại hình bán đấu giá này lại có những điểm khác nhau:
- Trong bán đấu giá tài sản, người tổ chức bán đấu giá lại chỉ có thể là:
Doanh nghiệp bán đấu giá tài sản, Trung tâm dịch vụ bán đấu giá tài sản.
- Trong bán đấu giá hàng hoá, người tổ chức đấu giá là thương nhân
có đăng kí kinh doanh dịch vụ đấu giá hoặc là người bán hàng của mình trong
trường hợp người bán hàng tự tổ chức đấu giá.
Như vậy, nếu trong đấu giá hàng hoá, người tổ chức bán đấu giá có
thể là cá nhân hoặc các chủ thể khác tự bán tài sản của mình thì trong bán đấu
giá tài sản, người tổ chức bán đấu giá chuyên nghiệp phải là một trong hai
loại hình tổ chức được pháp luật quy định. Hơn thế nữa, pháp luật dân sự còn
quy định rất chặt chẽ về điều kiện của các tổ chức này.
22
* Về phương thức đấu giá tài sản có nhiều người tham gia (từ hai
người trở lên)
Bán đấu giá tài sản được tổ chức bán công khai, có nhiều người tham
gia trả giá để cho những người có nhu cầu có thể tham gia đấu giá để mua tài
sản. Pháp luật dân sự quy định đấu giá là hình thức công khai lựa chọn người
mua nên mọi vấn đề có liên quan đến cuộc bán đấu giá và những thông tin về
* Phương thức đề nghị giao kết giao kết hợp đồng được thể hiện
bằng miệng (lời nói), hoặc bằng hành vi
- Bắt đầu phiên đấu giá, nhân viên điều hành đấu giá dùng lời nói của
mình để đưa ra giá khởi điểm. Những người mua sẽ đặt giá cũng bằng lời nói
hoặc bằng việc làm dấu hiệu để người điều hành đấu giá biết. Phương thức đề
nghị giao kết hợp đồng trong đấu giá dùng lời nói có ưu điểm là sự trả giá của
mọi người mua đều công khai, người trả giá cao nhất được xác định ngay mà
không phải mất nhiều thời giờ để so sánh, vì thế mà cuộc đấu giá nhanh
chóng kết thúc.
- Phương thức trả giá (đề nghị) bằng văn bản của người mua được viết
ra giấy. Nhân viên điều hành sẽ thông báo mức giá cao nhất qua mỗi lần trả
giá trên cơ sở so sánh các mức giá chấp nhận mà họ được thông báo. Việc đấu
giá kéo dài cho tới lần trả giá liền trước đó. Tuy thủ tục có phức tạp và làm
mất nhiều thời gian hơn nhưng hình thức này hạn chế được tình trạng chạy
đua của những người mua nâng giá lên một cách quá cao so với giá trị. Sau
khi người trả giá cao nhất được mua tài sản sẽ ký hợp đồng với tổ chức bán
đầu giá bằng văn bản. Nếu tài sản phải đăng ký quyền sở hữu, sử dụng thì văn
bản bán đấu giá phải công chứng.
Tài sản trong đấu giá rất đa dạng tuỳ theo nhu cầu của chủ sở hữu và
theo quy định của pháp luật. Mọi tài sản đều có thể bán đấu giá như: Đồ cổ,
tác phẩm nghệ thuật, đồ sưu tầm, phương tiện giải trí, bất động sản, đồ dùng
gia đình, hàng tiêu dùng, đồ văn phòng, máy tính, tài sản công… Các tài sản