Bảo đảm tiền vay bằng quyền đòi nợ tại các tổ chức tín dụng theo pháp luật Việt Nam - Pdf 25

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
NGÔ THỊ NHƢ HUẾ
BẢO ĐẢM TIỀN VAY BẰNG QUYỀN ĐÒI NỢ
TẠI CÁC TỔ CHỨC TÍN DỤNG THEO
PHÁP LUẬT VIỆT NAM

Chuyên ngành : Luật dân sự
Mã số : 60 38 30 LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC Người hướng dẫn khoa học: TS Nguyễn Minh Tuấn Hà Nội - 2014
LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi.
Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình

1.1.1. Khái niệm quyền đòi nợ 6
1.1.2. Đặc điểm quyền đòi nợ 10
1.1.3. Phân biệt quyền đòi nợ với một số quyền tài sản khác 13
1.2. Khái niệm, đặc điểm bảo đảm tiền vay bằng quyền đòi nợ tại tổ chức tín
dụng 19
1.2.1. Khái niệm bảo đảm tiền vay bằng quyền đòi nợ tại tổ chức tín dụng 19
1.2.2. Đặc điểm của bảo đảm tiền vay bằng quyền đòi nợ tại tổ chức tín
dụng 20
1.3. Vai trò của bảo đảm tiền vay bằng quyền đòi nợ tại tổ chức tín dụng 26
Chƣơng 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ BẢO ĐẢM TIỀN VAY
BẰNG QUYỀN ĐÒI NỢ TẠI TỔ CHỨC TÍN DỤNG Ở VIỆT
NAM 28
2.1. Nội dung của pháp luật về bảo đảm tiền vay bằng quyền đòi nợ tại tổ
chức tín dụng 28
2.1.1. Khái quát pháp luật về bảo đảm tiền vay bằng quyền đòi nợ tại tổ chức
tín dụng 28
2.1.2. Nội dung của pháp luật về bảo đảm tiền vay bằng quyền đòi nợ tại tổ
chức tín dụng 29
2.2. Điều kiện, trình tự thủ tục nhận tài sản bảo đảm tiền vay bằng quyền đòi
nợ tại tổ chức tín dụng 37
2.2.1. Các điều kiện khi tổ chức tín dụng nhận quyền đòi nợ làm tài sản bảo
đảm tiền vay 37
2.2.2. Trình tự, thủ tục nhận tài sản bảo đảm là quyền đòi nợ tại tổ chức tín
dụng 47
2.3. Phạm vi bảo đảm tiền vay bằng quyền đòi nợ 50
2.4. Hợp đồng bảo đảm tiền vay bằng quyền đòi nợ tại tổ chức tín dụng 55
2.4.1. Loại hợp đồng bảo đảm được ký kết 55

TÀI LIỆU THAM KHẢO 86
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

BLDS
: Bộ luật Dân sự
NHNN
: Ngân hàng Nhà nước
TCTD
: Tổ chức tín dụng
1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Hoạt động cho vay của TCTD đóng vai trò vô cùng quan trọng đối với
đời sống kinh tế xã hội. Việc đảm bảo an toàn trong hoạt động cho vay của
TCTD ở Việt Nam là rất cần thiết, vì hoạt động này tiềm ẩn rủi ro cao và
mang tính hệ thống.
Làm dịch vụ trung gian tiền tệ, TCTD nhận tiền gửi của khách hàng
sau đó cho khách hàng khác vay lại bằng chính nguồn tiền đó, hoạt động của
TCTD chính vì vậy luôn tiềm ẩn rủi ro. Để hạn chế những rủi ro cho hoạt
động của mình, trong quan hệ cho vay, bên cạnh việc kiểm tra, thẩm định,
đánh giá bên vay, TCTD thường yêu cầu bên vay phải có biện pháp bảo đảm
tiền vay. Trong đó, bảo đảm tiền vay bằng quyền đòi nợ là một trong những
biện pháp bảo đảm được pháp luật công nhận, bảo hộ, được TCTD và bên vay
lựa chọn áp dụng. Tuy nhiên, biện pháp bảo đảm này hiện nay chưa được áp

bằng quyền đòi nợ được đăng tải trên một số trang web và tạp chí chuyên
ngành tài chính ngân hàng như:
- Bài viết:"Giao dịch có đối tượng là quyền đòi nợ" của ThS. Bùi Đức
Giang đăng tải trên Web Thông tin pháp luật dân sự ngày 12/11/2013;
- Bài viết: “Quyền ưu tiên thanh toán của Bên nhận thế chấp quyền
đòi nợ” của ThS. Bùi Đức Giang đăng tải trên Tạp chí Ngân hàng, số 17,
tháng 09/2012;
- Bài viết: “Pháp luật về xử lý tài sản bảo đảm là quyền đòi nợ” của
ThS. Bùi Đức Giang đăng tải trên Tạp chí Ngân hàng, số 5 (301), năm 2013;
- Bài viết: “Một số hạn chế của chế định thế chấp quyền đòi nợ theo
quy định hiện hành” của ThS. Bùi Đức Giang đăng tải trên Tạp chí Ngân
hàng, số 21, tháng 11/2011.
Ngoài ra, một số khía cạnh pháp lý liên quan đến nghiệp vụ cho vay
trên cơ sở có bảo đảm bằng thế chấp quyền đòi nợ cũng được nhiều bài báo
viết, báo điện tử đăng tải.
3
Nhưng, các bài trao đổi, bài viết trên đây chỉ mới dừng lại ở việc phân
tích quyền đòi nợ là một loại tài sản trong quan hệ pháp luật dân sự. Qua quá
trình tra cứu tài liệu cho thấy, hiện chưa có một công trình khoa học nào nghiên
cứu một cách toàn diện, đầy đủ về biện pháp bảo đảm tiền vay bằng quyền đòi
nợ. Xuất phát từ những nguyên nhân trên, tác giả đã lựa chọn đề tài nghiên cứu
để tìm hiểu một cách đầy đủ, toàn diện về lý luận và thực tiễn áp dụng bảo đảm
tiền vay bằng quyền đòi nợ tại TCTD ở Việt Nam hiện nay.
3. Mục đích nghiên cứu và nhiệm vụ của luận văn
Mục đích của luận văn là nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực
tiễn của pháp luật về bảo đảm tiền vay bằng quyền đòi nợ tại TCTD, từ đó
thấy được những kết quả cũng như những vấn đề còn tồn tại, nguyên nhân

đã vận dụng tổng hợp các phương pháp duy vật biện chứng, duy vật lịch sử và
các phương pháp cụ thể như phân tích, tổng hợp, giải thích, so sánh … để lý
giải những vấn đề đặt ra.
6. Những đóng góp mới của đề tài
Là công trình nghiên cứu pháp luật về bảo đảm tiền vay bằng quyền
đòi nợ tại TCTD ở Việt Nam và thực tiễn áp dụng pháp luật một cách cụ thể,
luận văn có những đóng góp mới là:
- Trình bày, phân tích một cách khoa học và có hệ thống các vấn đề lý
luận cơ bản của pháp luật về bảo đảm tiền vay bằng quyền đòi nợ tại TCTD.
- Nêu và phân tích nguyên nhân, đánh giá thực trạng pháp luật và
thực tiễn áp dụng pháp luật về bảo đảm tiền vay bằng quyền đòi tại
TCTD ở Việt Nam;
- Luận văn kiến nghị, đề xuất các phương hướng, giải pháp hoàn thiện
pháp luật về bảo đảm tiền vay bằng quyền đòi nợ tại TCTD ở Việt Nam nhằm
góp phần xây dựng hệ thống pháp luật hoàn chỉnh, mang tính khả thi.
5
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài Phần mở đầu, Kết luận, Danh mục các chữ viết tắt và Tài liệu
tham khảo, nội dung của luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Những vấn đề lý luận của pháp luật về bảo đảm tiền vay
bằng quyền đòi nợ tại tổ chức tín dụng.
Chương 2: Thực trạng pháp luật về bảo đảm tiền vay bằng quyền đòi
nợ tại tổ chức tín dụng ở Việt Nam.
Chương 3: Một số phương hướng và các giải pháp hoàn thiện pháp
luật về bảo đảm tiền vay bằng quyền đòi nợ tại tổ chức tín dụng ở Việt Nam. 7
các khoản: khoản phải thu từ khách hàng, khoản ứng trước cho người bán,
khoản phải thu nội bộ, khoản tạm ứng cho công nhân viên, các khoản thế
chấp, ký cược, ký quỹ, các khoản phải thu khác. Có thể nói nôm na “khoản
phải thu” là số tiền khách hàng nợ doanh nghiệp do mua chịu hàng hóa hoặc
dịch vụ. Trong lĩnh vực kế toán, có thể nói hầu hết các công ty đều phát sinh
các khoản phải thu nhưng với mức độ khác nhau, từ mức không đáng kể cho
đến mức không thể kiểm soát nổi. Kiểm soát khoản phải thu liên quan đến
việc đánh đổi giữa lợi nhuận và rủi ro. Khoản phải thu của doanh nghiệp phát
sinh nhiều hay ít phụ thuộc vào các yếu tố như tình hình nền kinh tế, giá cả
sản phẩm, chất lượng sản phẩm, và chính sách bán chịu của doanh nghiệp.
Đứng ở góc độ của pháp luật nghĩa vụ thì quyền đòi nợ là một dạng
của quyền yêu cầu quy định tại các điều từ Điều 309 đến Điều 314 của BLDS
năm 2005. Đó là quyền yêu cầu bên có nghĩa vụ phải thực hiện một công
việc, cụ thể là phải thanh toán một khoản tiền cho bên có quyền tại một thời
điểm do các bên thỏa thuận trong hợp đồng. Thời điểm thỏa thuận này có thể
là một thời điểm nhất định trong tương lai, nhưng quyền đòi nợ có thể được
thanh toán khi bên có quyền yêu cầu hay khi phát sinh một sự kiện tương lai
nhất định mà các bên đã thỏa thuận. Bên có quyền chỉ có thể yêu cầu việc
thanh toán này từ phía bên có nghĩa vụ chứ không thể yêu cầu một bên thứ ba
làm việc này bởi quyền đòi nợ chỉ thiết lập các mối quan hệ giữa bên có
quyền và bên có nghĩa vụ mà thôi. Ðiều này minh họa cho tính chất tương đối
của quyền đòi nợ.
Trong khoa học pháp lý người ta chia quyền tài sản ra ba loại: quyền
đối vật hay còn gọi là vật quyền; quyền đối nhân hay còn gọi là trái quyền;
quyền sở hữu trí tuệ. Quyền đối vật là quyền cho phép một người được hưởng
các quyền năng trực tiếp và ngay lập tức đối với một vật mà không cần vai trò
của một người khác. Quyền đối vật chỉ bao gồm hai yếu tố: chủ thể của quyền

nào: người có quyền đòi nợ thực hiện quyền của mình bằng cách yêu cầu
người mắc nợ thực hiện nghĩa vụ trả nợ và tiếp nhận việc thực hiện nghĩa vụ
đó dưới hình thức nhận một số tiền.
9
Pháp luật thực định không đưa ra một định nghĩa cụ thể về quyền đòi
nợ. Trước đây, Thông tư số 04/2007/TT-BTP ngày 17/5/2007 của Bộ Tư
pháp hướng dẫn về thẩm quyền, trình tự và thủ tục đăng ký, cung cấp thông
tin về hợp đồng mua trả chậm, trả dần, hợp đồng thuê tài sản, hợp đồng cho
thuê tài chính và hợp đồng chuyển giao quyền đòi nợ đã định nghĩa quyền đòi
nợ theo hướng liệt kê gồm quyền đòi nợ phát sinh từ hợp đồng vay, hợp đồng
mua bán, hợp đồng thuê tài sản, hợp đồng dịch vụ hoặc phát sinh từ các căn
cứ hợp pháp khác. Song, danh sách này đã bị hủy bỏ bởi Thông tư số
05/2011/TT-BTP của Bộ Tư pháp ngày 16/02/2011 hướng dẫn một số vấn đề
về đăng ký, cung cấp thông tin về giao dịch bảo đảm, hợp đồng, thông báo
việc kê biên tài sản thi hành án theo phương thức trực tiếp, bưu điện, fax, thư
điện tử tại Trung tâm Đăng ký giao dịch, tài sản của Cục Đăng ký quốc gia
giao dịch bảo đảm thuộc Bộ Tư pháp, nên hiện nay chưa có văn bản nào quy
định rõ quyền đòi nợ là gì. Vì pháp luật thực định chưa đưa ra một định
nghĩa cụ thể về quyền đòi nợ, chưa quy định cụ thể các tiêu chí, đặc điểm
để nhận biết về quyền đòi nợ, nên các TCTD gặp nhiều khó khăn trong
việc xác định quyền đòi nợ để nhận thế chấp. Liệu có phải bất kỳ quyền
đòi một khoản tiền phát sinh từ bất kỳ loại hợp đồng nào cũng được coi là
quyền đòi nợ và đều được nhận làm tài sản thế chấp, trong khi pháp luật
thực định đặt ra cho Bên nhận thế chấp nghĩa vụ chứng minh quyền được
đòi nợ đối với bên có nghĩa vụ trả nợ.
Nghị định số 163 là văn bản có các quy định riêng cho việc thế chấp
quyền đòi nợ (chủ yếu là Điều 22, Điều 59 và Điều 66). Nghị định số 163 đã

là hai đặc điểm của quyền đòi nợ. Điều 181 BLDS năm 2005 quy định:
“quyền tài sản là quyền trị giá được bằng tiền và có thể chuyển giao được
trong giao dịch dân sự, kể cả quyền sở hữu trí tuệ”. Theo đó, quyền đòi nợ có
hai đặc điểm: Thứ nhất, quyền đòi nợ phải trị giá được bằng tiền hay là phải
tương đương với một đại lượng vật chất nhất định; Thứ hai, quyền đòi nợ đó
có thể chuyển giao được trong giao dịch dân sự.
Có nhiều cách hiểu khác nhau về quyền đòi nợ nhưng cho dù được
hiểu theo cách nào thì quyền đòi nợ vẫn phải mang những đặc điểm đặc trưng,
những thuộc tính cơ bản để nhận biết đó là một quyền tài sản và để phân biệt
11
quyền đòi nợ với các loại quyền tài sản khác. Mặc dù, BLDS năm 2005 không
hề có điều khoản nào quy định về khái niệm cũng như các đặc điểm của
quyền đòi nợ để phân biệt với các loại tài sản khác. Tuy nhiên, từ việc phân
tích tại Mục 1 phần này, có thể thấy rằng quyền đòi nợ có hai đặc điểm, thuộc
tính cơ bản là: (1) Trị giá được bằng tiền; (2) Có thể chuyển giao quyền sở
hữu cho chủ thể khác trong giao dịch dân sự.
Thứ nhất, quyền đòi nợ trị giá được bằng tiền.
Một trong những đặc điểm nổi bật của quyền tài sản nói chung cũng
như quyền đòi nợ nói riêng đó là có thể trị giá được bằng tiền, nghĩa là phải
tương đương với một đại lượng vật chất nhất định. Thật vậy, qua khái niệm về
quyền đòi nợ như đã phân tích ở trên có thể thấy rằng vì bản thân quyền đòi
nợ là xác nhận quyền yêu cầu trả nợ, quyền yêu cầu thanh toán một khoản
tiền trong một thời hạn nhất định và khoản tiền đó đã được xác định rõ trên
văn bản phát sinh ra nó. Hiện nay, pháp luật dân sự Việt Nam công nhận một
số quyền tài sản là tài sản như: quyền sử dụng đất, quyền khai thác tài nguyên
thiên nhiên, quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại đối với tài sản bị xâm phạm,
quyền tài sản phát sinh từ quyền tác giả, quyền sở hữu công nghiệp, quyền đối

Đặc điểm đặc trưng khác của quyền đòi nợ đó là quyền đòi nợ có thể
được chuyển nhượng, tức là người có quyền đòi nợ có thể chuyển giao quyền
yêu cầu thanh toán (quyền được nhận khoản nợ) cho chủ thể khác trong giao
dịch dân sự. Pháp luật hiện hành xem quyền đòi nợ là một loại tài sản, vì vậy,
chủ thể của quyền đòi nợ được quyền chuyển nhượng quyền đòi nợ cho chủ
thể khác theo cách thức và thông qua các hình thức giao dịch phù hợp với quy
định của pháp luật như mua, bán, cho, tặng, trao đổi, thừa kế,
Việc chuyển nhượng quyền đòi nợ có liên hệ chặt chẽ với việc chuyển
giao quyền yêu cầu được quy định tại các Điều từ 309 đến Điều 314 của
BLDS năm 2005. Theo đó, chuyển giao quyền yêu cầu trong quan hệ nghĩa
vụ dân sự là việc bên có quyền yêu cầu thực hiện nghĩa vụ dân sự chuyển giao
quyền yêu cầu đó cho người thế quyền theo thỏa thuận. Pháp luật hạn chế một
số trường hợp bên có quyền yêu cầu thực hiện nghĩa vụ dân sự không được
chuyển giao quyền đó cho người khác [24, Điểm a, b, c khoản 1, Điều 309].
Điểm a, khoản 1 Điều 309 BLDS năm 2005 quy định những trường hợp
13
quyền yêu cầu là những quyền gắn liền với nhân thân của chủ thể có quyền
thì không được chuyển giao. Ví dụ như: quyền yêu cầu cấp dưỡng, yêu cầu
bồi thường thiệt hại do xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân
phẩm, uy tín. Vì quyền đòi nợ đã loại trừ các quyền liên quan đến nhân thân
như trên, do đó, trừ khi các bên có thỏa thuận khác, quyền đòi nợ được
chuyển giao. Đặc trưng cơ bản của luật dân sự là tôn trọng sự thỏa thuận của
các bên, vì vậy tại Điểm b, khoản 1, Điều 309 BLDS năm 2005 quy định một
trong những trường hợp bên có quyền yêu cầu thực hiện nghĩa vụ dân sự
không được chuyển giao quyền yêu cầu đó cho người khác nếu giữa Bên có
quyền và bên có nghĩa vụ có thoả thuận không được chuyển giao quyền yêu
cầu. Bên có quyền yêu cầu thực hiện nghĩa vụ dân sự không được chuyển

đồng vay, hợp đồng mua bán, hợp đồng thuê tài sản, hợp đồng dịch vụ hoặc
phát sinh từ các căn cứ hợp pháp khác [1, điểm d khoản 1.1]. Song, Ðiều 2,
khoản 2, điểm 2.4 Thông tư 05/2011/TT-BTP quy định “Hợp đồng chuyển
giao quyền đòi nợ bao gồm quyền đòi nợ hiện có hoặc quyền đòi nợ hình
thành trong tương lai”. Dường như các nhà làm luật muốn mở rộng hơn căn
cứ phát sinh quyền đòi nợ khi không giới hạn ở các hợp đồng nhất định nữa.
Tuy nhiên, không có quy định nào của BLDS năm 2005 giải thích nội hàm
của các quyền phát sinh từ hợp đồng. Có thể hiểu quyền đòi nợ là một quyền
yêu cầu mang tính chắc chắn có thể được thực thi trong khi quyền phát sinh từ
hợp đồng là quyền yêu cầu ít chắc chắn hơn, có tính chất ngẫu nhiên hơn, tức
là phụ thuộc vào các tình huống nhất định để chuyển một quyền tiềm năng
thành một quyền có thể thực thi được. Quyền phát sinh từ hợp đồng bao gồm
rất nhiều loại quyền, chẳng hạn như quyền chọn, quyền phát sinh từ một hợp
đồng cho thuê tàu biển, quyền phát sinh từ vận đơn, quyền phát sinh từ hợp
đồng bảo hiểm nhân thọ, quyền phát sinh từ hợp đồng sử dụng đối tượng sở
hữu công nghiệp hay quyền thuê phát sinh từ hợp đồng thuê: Quyền đòi nợ và
quyền phát sinh từ hợp đồng là hai loại quyền yêu cầu tiêu biểu.
1.1.3.2. Phân biệt quyền đòi nợ với quyền sở hữu trí tuệ
Quyền sở hữu trí tuệ là quyền của tổ chức, cá nhân đối với tài sản trí
tuệ, bao gồm quyền tác giả và quyền liên quan đến quyền tác giả, quyền sở
15
hữu công nghiệp và quyền đối với giống cây trồng. Khác với quyền tài sản
hữu hình có đối tượng là các vật, quyền sở hữu trí tuệ có đối tượng mang tính
chất trừu tượng – thành quả của hoạt động tư duy sáng tạo của con người. Các
quyền liên quan đến các sản phẩm của trí tuệ vừa mang tính chất nhân thân,
vừa mang tính tài sản. Quyền sở hữu trí tuệ là nhóm quyền đặc biệt, không
thuộc nhóm vật quyền và cũng không thuộc nhóm trái quyền. Nó không phải

Hơn nữa, theo quy định tại khoản 6, điều 3, Thông tư số 05/2011/TT-BTP của
Bộ Tư pháp ngày 16/02/2011 hướng dẫn một số vấn đề về đăng ký, cung cấp
thông tin về giao dịch bảo đảm, hợp đồng, thông báo việc kê biên tài sản thi
hành án theo phương thức trực tiếp, bưu điện, fax, thư điện tử tại Trung tâm
Đăng ký giao dịch, tài sản của Cục Đăng ký quốc gia giao dịch bảo đảm thuộc
Bộ Tư pháp, việc đăng ký giao dịch bảo đảm đối với quyền sở hữu trí tuệ
được thực hiện tại Trung tâm Đăng ký giao dịch, tài sản của Cục Đăng ký
quốc gia giao dịch bảo đảm thuộc Bộ Tư pháp chứ không phải tại Cục sở hữu
trí tuệ như thông lệ tại nhiều nước trên thế giới.
1.1.3.3. Phân biệt quyền đòi nợ với quyền tài sản đối với phần vốn
góp trong doanh nghiệp
Điều 322 BLDS năm 2005 quy định có thể dùng quyền tài sản đối với
phần góp vốn trong doanh nghiệp làm tài sản bảo đảm. Trong thực tế, chính
cách quy định như thế lại dẫn đến khó khăn trong việc áp dụng chế định này
bởi tính chất khá trừu tượng của khái niệm quyền tài sản đối với phần vốn
góp trong doanh nghiệp. Có thể hiểu quyền tài sản đối với phần vốn góp trong
doanh nghiệp gồm các quyền mà thành viên góp vốn có được sau khi thực
hiện việc góp vốn vào doanh nghiệp được quy định tại điều 41 của Luật
doanh nghiệp (quyền biểu quyết thông qua các quyết định của công ty, quyền
được chia lợi nhuận, quyền được ưu tiên góp thêm vốn, v.v…). Tuy nhiên khi
nhận thế chấp, ngân hàng sẽ thích nhận phần vốn góp hơn là nhận các quyền
của thành viên góp vốn vì pháp luật doanh nghiệp không quy định việc định
17
đoạt quyền của thành viên góp vốn mà chỉ quy định việc định đoạt phần vốn
góp. Điều 140 của Luật doanh nghiệp khi quy định về quyền và nghĩa vụ của
thành viên góp vốn cho phép thành viên góp vốn của công ty hợp danh được
định đoạt phần vốn góp của mình bằng cách thế chấp, cầm cố. Tức là Luật

nguyên tắc này của Luật doanh nghiệp.
1.1.3.4. Phân biệt quyền đòi nợ với quyền phát sinh từ hợp đồng bảo
hiểm nhân thọ
Như trình bày ở phần trên, điều 322 của BLDS năm 2005 quy định
quyền được nhận số tiền bảo hiểm đối với vật bảo đảm là một loại quyền tài
sản được dùng để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự. Theo điều 346 của
BLDS năm 2005, trong trường hợp tài sản thế chấp được bảo hiểm thì khoản
tiền bảo hiểm cũng thuộc tài sản thế chấp. Nếu đọc kết hợp hai điều này của
BLDS năm 2005 có thể thấy BLDS năm 2005 chỉ công nhận quyền được
nhận số tiền bảo hiểm đối với vật bảo đảm là một phần của tài sản thế chấp.
Quy định như thế rõ ràng là tương đối hẹp và đây chỉ là một ví dụ về việc
pháp luật Việt Nam công nhận việc thay thế đối vật – giá trị của tài sản thế
chấp ở vị trí của tài sản thế chấp bị phá hủy một phần hay toàn bộ. Hệ thống
pháp luật của nhiều nước trên thế giới công nhận rộng rãi giao dịch bảo đảm
có đối tượng là hợp đồng bảo hiểm nhân thọ, hay cụ thể hơn là số tiền bảo
hiểm vốn là một quyền đòi nợ của bên mua bảo hiểm hay người được thụ
hưởng. Điều 18, Luật kinh doanh bảo hiểm số 24/2000/QH10 ngày
09/12/2000 về kinh doanh bảo hiểm được sửa đổi bởi Luật sửa đổi, bổ sung
một số điều của Luật kinh doanh bảo hiểm số 61/2010/QH12 ngày
24/11/2010 khi quy định về quyền của bên mua bảo hiểm cho phép bên mua
bảo hiểm được chuyển nhượng hợp đồng bảo hiểm nhưng không đề cập tới
việc bên mua bảo hiểm có được sử dụng hợp đồng bảo hiểm làm tài sản bảo
đảm hay không. Điều 18 cũng có quy định theo hướng mở là bên mua bảo
hiểm được thực hiện các quyền khác theo quy định của pháp luật. Tuy vậy,
19
cách quy định mở đó cũng không đảm bảo cho việc xác lập giao dịch bảo đảm
đối với hợp đồng bảo hiểm nhân thọ. Phần quy định về hợp đồng bảo hiểm


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status