1
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
TRẦN THANH THANH
XỬ LÝ TÀI SẢN BẢO ĐẢM TIỀN VAY
CỦA CÁC TỔ CHỨC TÍN DỤNG
THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM
Chuyên ngành : Luật dân sự
Mã số : 60 38 30 LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: TS. Phạm Văn Tuyết
2.1. Quy định của pháp luật về xử lý tài sản bảo đảm tiền vay và thu hồi nợ
vay 42
2.1.1. Căn cứ xử lý tài sản bảo đảm tiền vay 42
2.1.2. Phƣơng thức xử lý tài sản bảo đảm tiền vay và việc thu nợ từ xử lý tài sản
bảo đảm tiền vay 43
2.1.3. Xử lý tài sản bảo đảm tiền vay trong một số trƣờng hợp cụ thể 56
2.1.4. Thu hồi vốn vay thông qua phƣơng thức mua, bán nợ 58
2.2. Thực tiễn xử lý tài sản bảo đảm tiền vay của các tổ chức tín dụng 61
3
2.2.1. Sơ lƣợc quá trình xử lý tài sản bảo đảm tiền vay của các tổ chức tín
dụng…… 61
2.2.2. Các yếu tố ảnh hƣởng đến hoạt động xử lý tài sản bảo đảm tiền vay của
các tổ chức tín dụng 63
CHƢƠNG 3
67
NHỮNG HẠN CHẾ TRONG HOẠT ĐỘNG XỬ LÝ TÀI SẢN BẢO ĐẢM TIỀN
VAY CỦA CÁC TỔ CHỨC TÍN DỤNG VÀ PHƢƠNG HƢỚNG HOÀN THIỆN
67
3.1. Những hạn chế trong hoạt động xử lý tài sản bảo đảm tiền vay của các tổ
chức tín dụng 67
3.1.1. Một số bất cập trong quy định của pháp luật về xử lý tài sản bảo đảm tiền
vay của các tổ chức tín dụng 67
3.1.2. Khó khăn, vƣớng mắc trong hoạt động xử lý tài sản bảo đảm tiền vay của
các tổ chức tín dụng 73
3.2. Phƣơng hƣớng hoàn thiện 78
3.1.3. Về giải pháp 78
3.1.4. Một số kiến nghị cụ thể 79
KẾT LUẬN 83
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 84
5
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Hoạt động của các TCTD đƣợc coi là huyết mạch của nền kinh tế đối với
mọi quốc gia. Ở Việt Nam, vốn tín dụng từ các TCTD đóng vai trò vô cùng
quan trọng đối với phát triển kinh tế- xã hội. Đồng thời, hoạt động cho vay luôn
là một trong những hoạt động cơ bản, có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với sự
tồn tại và phát triển của mỗi TCTD. Với hệ thống các TCTD trong và ngoài
nƣớc đang hoạt động tại Việt Nam nhƣ hiện nay, các doanh nghiệp, chủ thể kinh
doanh có nhu cầu đều có thể tiếp cận với vốn tín dụng để mở rộng sản xuất kinh
doanh. Để cạnh tranh, các TCTD cũng không ngừng hoàn thiện, đơn giản hóa
thủ tục, tạo điều kiện để tổ chức, cá nhân, doanh nghiệp dễ dàng, nhanh chóng
tiếp cận vốn tín dụng, đƣa nguồn vốn vào hoạt động. Tổng dƣ nợ cho vay cao và
tăng trƣởng nhìn chung phản ánh một phần hiệu quả hoạt động tín dụng tốt và
ngƣợc lại tổng dƣ nợ tín dụng thấp, TCTD không có khả năng mở rộng hoạt
động cho vay hay mở rộng thị phần, khả năng tiếp thị có thể đƣợc cho là kém.
Tuy nhiên tổng dƣ nợ cao chƣa hẳn đã phản ánh hiệu quả tín dụng của TCTD
cao vì đôi khi nó là biểu hiện cho sự tăng trƣởng nóng của hoạt động tín dụng,
vƣợt quá khả năng về vốn cũng nhƣ khả năng kiểm soát rủi ro của TCTD, hoặc
mức dƣ nợ cao, hoặc tốc độ tăng trƣởng nhanh do mức lãi suất cho vay của
TCTD thấp hơn so với thị trƣờng dẫn đến tỷ suất lợi nhuận giảm.
Một khoản vay dù đƣợc đánh giá tốt nhƣng vẫn tiềm ẩn một mức độ rủi
ro nhất định, nằm ngoài khả năng phân tích và giám sát của các TCTD. Do vậy,
tình trạng khó khăn về tài chính của một TCTD có thể phát sinh do nhiều
nguyên nhân khác nhau nhƣng đa phần đều bắt nguồn từ nguyên nhân chủ yếu
là do các khoản cho vay khó đòi. Với vai trò là trung gian tài chính tiền tệ của
nền kinh tế, mục tiêu hoạt động của các TCTD là đảm bảo an toàn vốn và sử
dụng vốn có hiệu quả, vì thế trong hoạt động cho vay, biện pháp bảo đảm vốn
vay có vai trò quan trọng trong hoạt động cấp tín dụng của các TCTD. Mặc dù
không phải là mục đích của các TCTD khi ra quyết định cho vay nhƣng TSBĐ
Chẳng hạn, bài viết: “Bàn về biện pháp bảo lãnh” của tác giả Phạm Văn Tuyết
chỉ bàn riêng về tính liên đới về thực hiện nghĩa vụ đƣợc bảo đảm bằng biện
pháp bảo lãnh; bài viết: “Về các biện pháp bảo đảm hợp đồng tín dụng” của tác
7
giả Lê Hồng Hạnh chỉ bàn về các biện pháp Thế chấp, Cầm cố, Bảo lãnh trong
hoạt động tín dụng; bài viết: “Bản chất các biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa
vụ dân sự” của tác giả Phạm Công Lạc chỉ bàn về các dấu hiệu đặc trƣng của
các biện pháp bảo đảm.
Các công trình nghiên cứu ở cấp độ luận văn Thạc sĩ, Luận án tiến sĩ hoặc
các sách chuyên khảo, tham khảo đều nghiên cứu về các biện pháp bảo đảm cụ
thể hoặc nghiên cứu chung về bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự. Chẳng hạn,
luận văn Thạc sĩ luật học với đề tài “Chế định bảo đảm thực hiện hợp đồng tín
dụng- Thực trạng và giải pháp” của học viên Trần Thu Thủy; luận văn Thạc sĩ
luật học với đề tài: “Bảo đảm tiền vay ngân hàng- Thực trạng và giải pháp” của
học viên Lê Thu Hiền; luận văn Thạc sĩ luật học với đề tài: “Những vấn đề pháp
lý về bảo lãnh ngân hàng” của Nguyễn Thành Long…
Sách chuyên khảo: Giao dịch thƣơng mại của ngân hàng thƣơng mại
trong điều kiện kinh tế thị trƣờng ở Việt Nam- Nhà xuất bản Tƣ pháp của tác giả
Nguyễn Văn Tuyến chỉ có mục nhỏ viết về bảo lãnh ngân hàng dƣới góc độ hoạt
động cấp tín dụng. Sách tham khảo: Một số suy nghĩ về đảm bảo thực hiện
nghĩa vụ trong Luật Dân sự Việt Nam Nhà xuất bản Trẻ TP. Hồ Chí Minh của
tác giả Nguyễn Ngọc Điện nghiên cứu chung về các biện pháp đảm bảo…
Nhƣ vậy, dù có rất nhiều công trình khoa học liên quan đến đề tài mà tác
giả đang nghiên cứu nhƣng vào thời điểm hiện tại, chƣa có một đề tài khoa học
nào nghiên cứu riêng về vấn đề xử lý TSBĐ nói chung cũng nhƣ xử lý TSBĐ tại
các tổ chức tín dụng nói riêng. Vì thế, có thể nói rằng, đề tài mà tác giả chọn
làm luận văn Thạc sĩ luật học là một đề tài mới và độc lập.
3. Nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu của đề tài
Trong khuôn khổ của bản luận văn, tác giả chỉ khái quát về các biện pháp
- Trên cơ sở tìm hiểu thực tiễn về hoạt động xử lý TSBĐ của các TCTD,
tác giả đã đƣa ra một số bất cập trong quy định của pháp luật về xử lý TSBĐ,
những khó khăn vƣớng mắc mà TCTD đang gặp phải trong quá trình xử lý
TSBĐ để thu hồi nợ.
- Đƣa ra một số kiến nghị nhằm hoàn thiện quy định của pháp luật và tháo
gỡ các vƣớng mắc từ thực tiễn xử lý TSBĐ. 9
6. Bố cục của luận văn
Ngoài phần Mở đầu và phần Kết luận, luận văn đƣợc kết cấu theo ba
chƣơng sau đây:
Chƣơng 1: Những vấn đề chung về bảo đảm tiền vay, tài sản bảo đảm tiền
vay và xử lý tài sản bảo đảm tiền vay của các tổ chức tín dụng
Chƣơng 2: Pháp luật về xử lý tài sản bảo đảm tiền vay và thực tiễn xử lý
tài sản bảo đảm tiền vay của các tổ chức tín dụng
Chƣơng 3: Những hạn chế trong hoạt động xử lý tài sản bảo đảm tiền vay
của các tổ chức tín dụng và phƣơng hƣớng hoàn thiện
10
CHƢƠNG 1
NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ BẢO ĐẢM TIỀN VAY, TÀI SẢN BẢO
ĐẢM TIỀN VAY VÀ XỬ LÝ TÀI SẢN BẢO ĐẢM TIỀN VAY CỦA
CÁC TỔ CHỨC TÍN DỤNG
1.1. Giao dịch bảo đảm tiền vay của các tổ chức tín dụng
Trong các giao dịch cho vay tài sản nói chung cũng nhƣ cho vay tiền nói
nói riêng, điều mà bên cho vay luôn quan tâm tới là sau khi cho vay, bên vay có
trả khoản vay cùng với lãi suất đúng thời hạn hay không. Trong trƣờng hợp đã
đến thời hạn trả nợ mà bên vay không trả thì bằng cách nào để có thể buộc bên
vay phải trả nợ để bảo đảm quyền thu hồi nợ của mình một cách đúng pháp luật.
nghĩa vụ dân sự (Điều 326 Bộ luật dân sự) [6].
Nhƣ vậy, cầm cố tài sản là một giao dịch dân sự, theo đó bên cầm cố là
bên có nghĩa vụ hoặc là ngƣời thứ ba, phải giao cho bên nhận cầm cố là bên có
quyền một hoặc một số tài sản để bảo đảm việc thực hiện nghĩa vụ của bên có
nghĩa vụ đối với bên có quyền.
Theo khái niệm trên, chúng ta cần xem xét một số yếu tố sau đây trong
quan hệ cầm cố để bảo đảm vốn vay của các TCTD.
- Về chủ thể của quan hệ cầm cố
Cầm cố tài sản trong hoạt động cho vay vốn của các TCTD là giao dịch
dân sự đƣợc giao kết giữa các bên chủ thể sau đây:
Bên nhận cầm cố:
Bao giờ cũng là TCTD cho vay vốn. Tuy nhiên trong thực tế, các TCTD
thƣờng có cơ cấu theo mô hình TCTD mẹ (Trụ sở chính) - TCTD con (Chi
nhánh) nên trên thực tế, giao kết hợp đồng cho vay (Hợp đồng tín dụng) và Hợp
đồng cầm cố thƣờng là các Chi nhánh, vì vậy, bên nhận cầm cố là các Chi
nhánh trên cơ sở uỷ quyền của TCTD mẹ. Chẳng hạn, TCTD cho vay vốn là
VIB nhƣng thực tế bên cho vay vốn là Chi nhánh Hà Nội (một trong các chi
nhánh của VIB) thì trong Hợp đồng cầm cố tài sản để bảo đảm cho Hợp đồng
tín dụng, Bên Nhận cầm cố phải là: VIB - Chi nhánh Hà Nội, do ông chức
vụ làm đại diện, theo Giấy uỷ quyền số của Tổng Giám đốc VIB.
Bên cầm cố:
12
Trong hợp đồng cầm cố để bảo đảm thực hiện hợp đồng tín dụng thì bên
cầm cố thông thƣờng là bên vay (Bên có nghĩa vụ trả nợ). Trong trƣờng hợp này
thì bên cầm cố đồng thời là bên có nghĩa vụ. Ví dụ: Hợp đồng tín dụng đƣợc ký
kết giữa Bên cho vay là VIB - Chi nhánh Hà Nội với Bên vay là Công ty Cổ
phần B thì bên cầm cố để bảo đảm thực hiện hợp đồng tín dụng đó là Công ty
Cổ phần B.
Tuy nhiên, có rất nhiều trƣờng hợp, bên cầm cố là ngƣời thứ ba (không
nhƣng Bên nhận cầm cố vẫn phải chịu trách nhiệm trƣớc Bên cầm cố về việc
thực hiện các nghĩa vụ theo quy định tại Điều 332 Bộ luật dân sự và theo thỏa
thuận với Bên cầm cố, đồng thời phải thực hiện nghĩa vụ với bên giữ tài sản
theo thoả thuận trong hợp đồng gửi giữ tài sản.
- Về hình thức và thời điểm có hiệu lực của cầm cố tài sản
Trong Điều 327 của Bộ luật dân sự có quy định về hình thức của cầm cố
tài sản nhƣ sau: Việc cầm cố tài sản phải đƣợc lập thành văn bản, có thể lập
thành văn bản riêng hoặc ghi trong hợp đồng chính [6].
Nhƣ vậy, trong mọi trƣờng hợp, việc cầm cố tài sản đều phải đƣợc xác lập
theo hình thức văn bản, việc cầm cố có thể lập thành một văn bản riêng (bên
cạnh Hợp đồng đƣợc bảo đảm bằng biện pháp cầm cố đó), có thể đƣợc xác định
trực tiếp trong nội dung của hợp đồng đƣợc bảo đảm bằng biện pháp cầm cố.
Tuy nhiên, trong thực tiễn hoạt động cho vay vốn của các TCTD thì các bên
thƣờng ký kết với nhau một hợp đồng cầm cố tài sản bên cạnh một hợp đồng tín
dụng. Trong trƣờng hợp này thì hợp đồng tín dụng là hợp đồng chính còn hợp
đồng cầm cố tài sản là một hợp đồng phụ có chức năng bảo đảm cho việc thực
hiện hợp đồng chính.
Cầm cố tài sản có hiệu lực kể từ thời điểm chuyển giao tài sản cho bên
nhận cầm cố.
- Về thời hạn cầm cố tài sản
Thời hạn cầm cố tài sản do các bên thoả thuận. Trong trƣờng hợp không
có thoả thuận thì thời hạn cầm cố đƣợc tính kể từ thời điểm tài sản cầm cố đƣợc
chuyển giao cho bên nhận cầm cố cho đến khi nghĩa vụ đƣợc bảo đảm bằng cầm
cố hoàn thành hoặc đƣợc chấm dứt theo các căn cứ khác.
- Về quyền và nghĩa vụ của các bên trong cầm cố tài sản
14
Bên cầm cố tài sản có các nghĩa vụ sau đây:
i) Giao tài sản cầm cố cho bên nhận cầm cố theo đúng thoả thuận;
ii) Báo cho bên nhận cầm cố về quyền của ngƣời thứ ba đối với tài sản cầm
quy định của pháp luật để thực hiện nghĩa vụ;
iii) Đƣợc khai thác công dụng tài sản cầm cố và hƣởng hoa lợi, lợi tức từ tài
sản cầm cố, nếu có thoả thuận;
iv) Đƣợc thanh toán chi phí hợp lý bảo quản tài sản cầm cố khi trả lại tài sản
cho bên cầm cố.
1.1.2. Thế chấp tài sản
Tại Điều 342, Bộ luật dân sự đã định nghĩa về thế chấp tài sản nhƣ sau:
Thế chấp tài sản là việc một bên (sau đây gọi là bên thế chấp) dùng tài sản
thuộc sở hữu của mình để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự đối với bên
kia (sau đây gọi là bên nhận thế chấp) và không chuyển giao tài sản đó
cho bên nhận thế chấp [6].
Tài sản thế chấp là tài sản đƣợc ngƣời đi vay dùng để bảo đảm cho khoản
vay của mình tại TCTD bằng cách trao cho TCTD các giấy tờ chứng nhận
quyền sở hữu (hoặc sử dụng) các tài sản đó trong thời gian cam kết và cho
TCTD quyền xử lý tài sản khi khách hàng không trả đƣợc nợ khi đến hạn.
Nhiều tài sản của khách hàng trở thành đảm bảo cho các khoản tài trợ của
TCTD song vẫn phải tham gia vào quá trình hoạt động. Những tài sản này
TCTD không thể cầm cố. Vì vậy, đảm bảo bằng thế chấp rất phổ biến, đặc biệt
đối với doanh nghiệp và ngƣời tiêu dùng.
Các tài sản dùng làm tài sản thế chấp bao gồm:
- Nhà ở, công trình xây dựng gắn liền với đất, kể cả các tài sản gắn liền với
nhà ở, công trình xây dựng và các tài sản khác gắn liền với đất.
- Giá trị quyền sử dụng đất mà pháp luật về đất đai quy định đƣợc thế chấp.
- Tàu biển theo quy định của Bộ luật Hàng hải Việt Nam, tàu bay theo quy
định của Luật hàng không dân dụng Việt Nam trong trƣờng hợp đƣợc thế chấp.
- Tài sản hình thành trong tƣơng lai là bất động sản hình thành sau thời
điểm ký kết giao dịch thế chấp và sẽ thuộc quyền sở hữu của bên thế chấp nhƣ
hoa lợi, lợi tức, tài sản hình thành từ vốn vay, công trình xây dựng và các bất
động sản khác mà bên thế chấp có quyền nhận.
17
Là bên (có thể là cá nhân, có thể là tổ chức, pháp nhân) phải dùng tài sản
thuộc quyền sở hữu của mình để bảo đảm việc trả nợ của bên vay đối với TCTD
cho vay vốn.
Bên thế chấp có thể đồng thời là bên vay vốn của các TCTD nếu họ thế
chấp tài sản thuộc sở hữu của mình để bảo đảm việc trả nợ của chính mình đối
với khoản vay tại TCTD là bên cho vay trong hợp đồng tín dụng đƣợc bảo đảm
bằng biện pháp thế chấp này.
Bên thế chấp có thể là ngƣời khác (không phải là bên vay vốn) dùng tài
sản thuộc sở hữu của họ để bảo đảm việc trả nợ của ngƣời vay đối với khoản
vay tại TCTD theo hợp đồng tín dụng đƣợc bảo đảm bằng biện pháp thế chấp tài
sản này. Trong thực tế, khi xác lập hợp đồng thế chấp tài sản trong những
trƣờng hợp này, các TCTD đều xác định cả ba chủ thể là:
i) Bên nhận thế chấp (là TCTD cho vay);
ii) Bên thế chấp (là ngƣời đã dùng tài sản để bảo đảm cho việc thực hiện
nghĩa vụ trả nợ vay);
iii) Bên đƣợc bảo đảm (là Bên vay vốn) nên vẫn thƣờng bị hiểu là quan hệ
thế chấp này có ba bên chủ thể. Tuy nhiên, cũng giống nhƣ trƣờng hợp cầm cố
bằng tài sản của ngƣời không có nghĩa vụ trả nợ, Hợp đồng thế chấp này cũng
chỉ có hai bên chủ thể là bên nhận thế chấp (TCTD cho vay) và bên cầm cố (là
bên bằng tài sản của mình để bảo đảm cho việc trả nợ vay).
- Về người giữ tài sản thế chấp
Theo nghĩa của từ “Thế chấp” thì đó là việc một ngƣời dùng một hoặc
nhiều tài sản thay thế chấp hành một nghĩa vụ có trƣớc nếu đến thời hạn mà
nghĩa vụ đó không đƣợc thực hiện hoặc thực hiện không đúng. Vì thế, không có
việc chuyển giao tài sản trong thế chấp (nếu có chuyển giao tài sản thì biện pháp
bảo đảm đó lại trở thành biện pháp cầm cố) và vì vậy, tài sản thế chấp luôn do
bên thế chấp giữ. Bên thế chấp chỉ giao cho bên nhận thế chấp các giấy tờ liên
quan đến tài sản thế chấp nhƣ Giấy chứng nhận quyền sở hữu tài sản, Giấy
- Về quyền và nghĩa vụ của các bên trong thế chấp tài sản
Bên thế chấp tài sản có các nghĩa vụ sau đây:
i) Bảo quản, giữ gìn tài sản thế chấp;
19
ii) Áp dụng các biện pháp cần thiết để khắc phục, kể cả phải ngừng việc khai
thác công dụng tài sản thế chấp nếu do việc khai thác đó mà tài sản thế chấp có
nguy cơ mất giá trị hoặc giảm sút giá trị;
iii) Thông báo cho bên nhận thế chấp về các quyền của ngƣời thứ ba đối với
tài sản thế chấp, nếu có; trong trƣờng hợp không thông báo thì bên nhận thế
chấp có quyền huỷ hợp đồng thế chấp tài sản và yêu cầu bồi thƣờng thiệt hại
hoặc duy trì hợp đồng và chấp nhận quyền của ngƣời thứ ba đối với tài sản thế
chấp;
iv) Không đƣợc bán, trao đổi, tặng cho tài sản thế chấp, trừ trƣờng hợp có sự
đồng ý của bên nhận thế chấp hoặc tài sản thế chấp là hàng hoá luân chuyển
trong quá trình sản xuất kinh doanh.
Bên thế chấp tài sản có các quyền sau đây:
i) Đƣợc khai thác công dụng, hƣởng hoa lợi, lợi tức từ tài sản, trừ trƣờng
hợp hoa lợi, lợi tức cũng thuộc tài sản thế chấp theo thoả thuận;
ii) Đƣợc đầu tƣ để làm tăng giá trị của tài sản thế chấp;
iii) Đƣợc bán, thay thế tài sản thế chấp, nếu tài sản đó là hàng hoá luân
chuyển trong quá trình sản xuất, kinh doanh.
iv) Đƣợc bán, trao đổi, tặng cho tài sản thế chấp không phải là hàng hóa luân
chuyển trong quá trình sản xuất, kinh doanh, nếu đƣợc bên nhận thế chấp đồng
ý.
v) Đƣợc cho thuê, cho mƣợn tài sản thế chấp nhƣng phải thông báo cho bên
thuê, bên mƣợn biết về việc tài sản cho thuê, cho mƣợn đang đƣợc dùng để thế
chấp và phải thông báo cho bên nhận thế chấp biết;
vi) Nhận lại tài sản thế chấp do ngƣời thứ ba giữ, khi nghĩa vụ đƣợc bảo đảm
bằng thế chấp chấm dứt hoặc đƣợc thay thế bằng biện pháp bảo đảm khác.
ii) Trong trƣờng hợp ngƣời thứ ba đƣợc khai thác công dụng của tài sản thế
chấp do thoả thuận thì không đƣợc tiếp tục khai thác công dụng tài sản thế chấp,
nếu việc tiếp tục khai thác có nguy cơ làm mất giá trị hoặc giảm sút giá trị của
tài sản thế chấp;
iii) Giao lại tài sản thế chấp cho bên nhận thế chấp hoặc bên thế chấp theo
thoả thuận.
21
Người thứ ba giữ tài sản thế chấp có các quyền sau đây:
i) Đƣợc khai thác công dụng tài sản thế chấp, hƣởng hoa lợi, lợi tức từ tài
sản thế chấp, nếu có thoả thuận;
ii) Đƣợc trả thù lao và đƣợc thanh toán chi phí bảo quản, giữ gìn tài sản thế
chấp, trừ trƣờng hợp có thoả thuận khác.
1.1.3. Bảo lãnh
Điều 361, Bộ luật dân sự đã quy định về bảo lãnh nhƣ sau:
Bảo lãnh là việc ngƣời thứ ba (sau đây gọi là bên bảo lãnh) cam kết với
bên có quyền (sau đây gọi là bên nhận bảo lãnh) sẽ thực hiện nghĩa vụ
thay cho bên có nghĩa vụ (sau đây gọi là bên đƣợc bảo lãnh), nếu khi đến
thời hạn mà bên đƣợc bảo lãnh không thực hiện hoặc thực hiện không
đúng nghĩa vụ. Các bên cũng có thể thoả thuận về việc bên bảo lãnh chỉ
phải thực hiện nghĩa vụ khi bên đƣợc bảo lãnh không có khả năng thực
hiện nghĩa vụ của mình [6].
Theo quy định trên của Bộ luật dân sự thì bảo lãnh thực chất là quan hệ
giữa ba bên chủ thể là ngƣời có quyền (bên nhận bảo lãnh), ngƣời có nghĩa vụ
(bên đƣợc bảo lãnh) và ngƣời thứ ba (bên bảo lãnh). Trong đó, quan hệ giữa
ngƣời có quyền với ngƣời có nghĩa vụ là quan hệ nghĩa vụ chính (trong bảo lãnh
vay vốn tại các TCTD thì mối quan hệ này là quan hệ giữa TCTD cho vay vốn
với khách hàng vay), quan hệ giữa ngƣời có quyền với ngƣời thứ ba là quan hệ
nghĩa vụ bổ sung, quan hệ giữa ngƣời đƣợc bảo lãnh với ngƣời bảo lãnh là quan
hệ nghĩa vụ hoàn lại.
vụ chính là tài sản thì đối tƣợng của bảo lãnh phải bằng tài sản và vì vậy, ngƣời
bảo lãnh phải bằng tài sản của mình để thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh. Chẳng hạn,
C bảo lãnh cho B vay tiền của A và nếu B không trả nợ cho A khi đến hạn thì C
phải bằng tiền của mình để trả nợ cho A thay B. Nếu đối tƣợng của nghĩa vụ
chính là việc thực hiện một công việc thì đối tƣợng của bảo lãnh là việc thực
hiện công việc đó. Chẳng hạn, C bảo lãnh cho B khi B ký hợp đồng với A để B
hoàn thành cho A một bộ bàn ghế kiểu cổ có khảm xà cừ và nếu đến thời hạn B
không hoàn thành đƣợc bộ bàn ghế đó hoặc bộ bàn ghế không đúng quy cách,
Bên nhận bảo lãnh
(TCTD )
Bên đƣợc bảo lãnh
(Ngƣời vay vốn)
Bên bảo lãnh
(Ngƣời thứ ba)
23
chất lƣợng nhƣ đã thoả thuận thì C phải thay B thực hiện toàn bộ công việc đó
nhƣ đã thoả thuận cho A.
Nhƣ vậy, đối tƣợng trong bảo lãnh để bảo đảm tiền vay của các TCTD
luôn là một khoản tiền nên ngƣời bảo lãnh luôn phải bằng tài sản của mình để
thực hiện việc trả nợ trƣớc TCTD thay cho ngƣời đƣợc bảo lãnh nếu đến thời
hạn trả nợ mà ngƣời vay không trả nợ hoặc trả không đầy đủ.
- Về hình thức bảo lãnh
Điều 362, Bộ luật dân sự đã quy định về hình thức của bảo lãnh nhƣ sau:
Việc bảo lãnh phải đƣợc lập thành văn bản, có thể lập thành văn bản riêng hoặc
ghi trong hợp đồng chính. Trong trƣờng hợp pháp luật có quy định thì văn bản
bảo lãnh phải đƣợc công chứng hoặc chứng thực [6].
Nhƣ vậy, theo quy định của Bộ luật dân sự thì yêu cầu của pháp luật về
hình thức của bảo lãnh gần giống với hình thức của thế chấp tài sản. Tuy nhiên,
ngoài quy định trên của Bộ luật dân sự, Nghị định 163/2006 của Chính phủ về
hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ đối với bên nhận bảo lãnh;
ii) Bên đƣợc bảo lãnh phải thực hiện nghĩa vụ đối với bên nhận bảo lãnh
trƣớc thời hạn do vi phạm nghĩa vụ đó, nhƣng không thực hiện hoặc thực hiện
không đúng nghĩa vụ;
iii) Bên đƣợc bảo lãnh không có khả năng thực hiện nghĩa vụ của mình trong
trƣờng hợp các bên có thoả thuận về việc bên bảo lãnh chỉ phải thực hiện nghĩa
vụ bảo lãnh khi bên đƣợc bảo lãnh không có khả năng thực hiện nghĩa vụ;
- Về quyền và nghĩa vụ của các bên trong bảo lãnh
Bên nhận bảo lãnh có các nghĩa vụ sau:
i) Thực hiện các nghĩa vụ của bên nhận cầm cố nếu việc bảo lãnh có bảo
đảm bằng biện pháp cầm cố tài sản;
ii) Thực hiện các nghĩa vụ của bên nhận thế chấp nếu việc bảo lãnh có bảo
đảm bằng biện pháp thế chấp tài sản;
iii) Thông báo cho bên bảo lãnh về việc thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh khi phát
sinh căn cứ thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh do các bên đã thoả thuận hoặc theo quy
định của pháp luật; nếu bên đƣợc bảo lãnh phải thực hiện nghĩa vụ trƣớc thời
hạn do vi phạm nghĩa vụ, nhƣng không thực hiện hoặc thực hiện không đúng
25
nghĩa vụ đó thì bên nhận bảo lãnh phải nêu rõ lý do trong thông báo về việc bên
đƣợc bảo lãnh phải thực hiện nghĩa vụ trƣớc thời hạn;
iv) Bên nhận bảo lãnh không đƣợc yêu cầu bên bảo lãnh thực hiện nghĩa vụ
thay cho bên đƣợc bảo lãnh khi nghĩa vụ chƣa đến hạn.
Bên nhận bảo lãnh có các quyền sau:
i) Thông báo để yêu cầu bên bảo lãnh thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh;
ii) Yêu cầu Tòa án áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời đối với tài sản của
bên bảo lãnh theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự (sau khi đã thông báo
cho bên bảo lãnh về việc thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh);
iii) Có quyền yêu cầu bất cứ ai trong số những ngƣời bảo lãnh liên đới phải
thực hiện toàn bộ nghĩa vụ;