ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
ĐOÀN VIỆT DŨNG
ĐƠN PHƯƠNG CHẤM DỨT THỰC HIỆN HỢP ĐỒNG
THEO QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT DÂN SỰ NĂM 2005
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC HÀ NỘI - 2011 MỤC LỤC
Trang
Trang phụ bìa Lời cam đoan Mục lục Danh mục các từ viết tắt Danh mục các bảng MỞ ĐẦU
15
1.3.3.
Hợp đồng dân sự bị chấm dứt có thời hạn thực hiện nhất định
16
1.3.4.
Mục đích, nguyện vọng ban đầu của một hoặc các bên khi
giao kết thường chưa đáp ứng được trọn vẹn khi hợp đồng
chấm dứt
16
1.3.5.
Nhằm bảo vệ quyền lợi cho bên có quyền đơn phương chấm
dứt thực hiện hợp đồng dân sự
17
1.4.
Phân loại đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng dân sự
18
1.5.
So sánh đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng dân sự
với hủy bỏ hợp đồng dân sự
20
1.5.1.
Giống nhau
21
1.5.2.
Khác nhau
22
1.6.
So sánh đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng dân sự
với đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng lao động
23
Vi phạm đạo đức xã hội, an ninh trật tự khi thực hiện hợp đồng
29
1.7.1.6.
Vi phạm sự thiện chí, hợp tác, trung thực khi thực hiện hợp đồng
29
1.7.2.
Đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng dân sự khi không
có sự vi phạm của bên đối tác
29
1.8.
Hậu quả pháp lý của đơn phương chấm dứt thực hiện hợp
đồng dân sự
31
1.8.1.
Với đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng dân sự khi có
sự vi phạm của bên đối tác
31
1.8.1.1.
Các bên không phải tiếp tục thực hiện nghĩa vụ của hợp đồng
31
1.8.1.2.
Các bên thanh toán cho nhau phần nghĩa vụ đã được thực hiện
32
1.8.1.3.
Bên vi phạm hợp đồng hay bên bị yêu cầu chấm dứt hợp
đồng phải bồi thường thiệt hại cho bên bị vi phạm hay bên
đưa ra yêu cầu chấm dứt hợp đồng
32
1.8.2.
Hậu quả pháp lý của đơn phương chấm dứt thực hiện hợp
Quy định về các trường hợp đơn phương chấm dứt thực
hiện hợp đồng dân sự
40
2.1.3.1.
Đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng dân sự do có vi
phạm của bên đối tác
40
2.1.3.2.
Quy định về đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng khi
không có sự vi phạm của bên đối tác
53
2.1.4.
Quy định về thông báo trong đơn phương chấm dứt thực
hiện hợp đồng dân sự
66
2.1.5.
Quy định về hậu quả pháp lý của đơn phương chấm dứt
thực hiện hợp đồng dân sự
70
2.1.6.
Quy định về trình tự đơn phương chấm dứt thực hiện hợp
đồng dân sự
73
2.2.
Thực tiễn áp dụng Bộ luật Dân sự năm 2005 về đơn phương
chấm dứt thực hiện hợp đồng
74
Chương 3: PHƯƠNG HƯỚNG HOÀN THIỆN CÁC QUY ĐỊNH
CỦA BỘ LUẬT DÂN SỰ VỀ ĐƠN PHƯƠNG CHẤM
3.2.
Phương hướng hoàn thiện các quy định của Bộ luật Dân sự
về đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng
97
KẾT LUẬN
103
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
105
PHỤ LỤC
108
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
BLDS
: Bộ luật Dân sự
BLLĐ
: Bộ luật Lao động
BTTH
: Bồi thường thiệt hại
HĐDS
: Hợp đồng dân sự
ĐPCDHĐ
: Đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng
ĐPCDHĐDS
cá nhân, hộ gia đình, pháp nhân… giao kết HĐDS nhằm đáp ứng những nhu
cầu thiết yếu của mình như: ăn, mặc, ở, đi lại, kinh doanh, giải trí… HĐDS là
sự thỏa thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền,
nghĩa vụ dân sự (NVDS). Trong quan hệ hợp đồng, nguyên tắc bình đẳng
thỏa thuận là nguyên tắc cơ bản, sự tự do ý chí luôn được đề cao.
Khi giao kết HĐDS, các bên giao kết đều có nguyện vọng thực hiện
xong hợp đồng. Thông thường, HĐDS chấm dứt theo ý chí của các bên giao
kết. Hợp đồng thông thường chấm dứt khi các bên đã thực hiện xong công
việc, xong nghĩa vụ hợp đồng trong thời hạn đã thỏa thuận tại hợp đồng, khi
các bên đều đã đạt được mong muốn, mục đích của mình, các nghĩa vụ đã
được thực hiện toàn bộ, các quyền tương ứng đã được đáp ứng. Các bên kết
thúc hợp đồng trong "vui vẻ" khi các bên đều đáp ứng được mục đích của nhau.
HĐDS cũng có thể chấm dứt "giữa chừng" theo thỏa thuận của các bên khi
nghĩa vụ trong hợp đồng chưa hoàn thành hay thời hạn của hợp đồng chưa hết.
Tuy nhiên, còn có những HĐDS kết thúc do ý chí của một bên. Trong
nền kinh tế thị trường, đối tượng của hợp đồng, thời hạn, chủ thể, quyền và
nghĩa vụ, cách thức thực hiện hợp đồng, sự kiện khách quan tác động tới hợp
đồng rất đa dạng và phức tạp nên việc thực hiện hợp đồng không phải lúc nào
cũng dễ dàng, suôn sẻ. Do đó, khi hợp đồng đang thực hiện, xảy ra việc một
bên trong hợp đồng muốn (và cần) chấm dứt hợp đồng ngay để bảo vệ quyền
lợi cho mình khi họ có quyền thì dù bên kia vẫn muốn tiếp tục thực hiện hợp
dồng cũng không duy trì hợp đồng được, đó là đơn phương chấm dứt thực
hiện hợp đồng (ĐPCDHĐ).
2
ĐPCDHĐ là cần thiết vì trong hợp đồng được giao kết, các bên đã xác
lập quyền và nghĩa vụ với nhau, nghĩa vụ của bên này tương ứng với quyền
của bên kia. Để đảm bảo quyền lợi của bên có quyền thì cần đề cao trách
nhiệm của bên có nghĩa vụ. Khi hợp đồng đã giao kết, đang trong quá trình
thực hiện mà vì lý do nào đó như: bên đối tác vi phạm hợp đồng hoặc vì lý do
tích khá kỹ lưỡng về huỷ bỏ HĐDS, trong đó cũng nói sơ qua về đơn phương đình
chỉ thực hiện hợp đồng, tuy nhiên tác giả không đi sâu phân tích về vấn đề này.
- "Pháp luật về hợp đồng" của Nguyễn Mạnh Bách, Nxb Chính trị
quốc gia, Hà Nội, 1995, đã đề cập đến vấn đề đình chỉ, chấm dứt hợp đồng,
trong đó tác giả đã phân tích sơ lược hai hình thức của ĐPCDHĐ, đó là: các
đương sự thoả thuận với nhau và theo quy định của pháp luật.
- "Bình luận khoa học một số vấn đề cơ bản của Bộ luật Dân sự",
Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1997, công trình của Viện Nghiên cứu khoa
học pháp lý, Bộ Tư pháp, trong đó có đề cập đến "đơn phương đình chỉ hợp
đồng" với việc trích dẫn Điều 420 BLDS năm 1995 và có bình luận rất ngắn
gọn về vấn đề này.
- "Vấn đề huỷ bỏ, đình chỉ hợp đồng do bị vi phạm", của Đỗ Văn Đại,
đăng trên Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, số 9 năm 2004, đã phân tích huỷ bỏ,
đình chỉ hợp đồng sau và trước khi hết thời hạn thực hiện hợp đồng thông qua
việc phân tích một số HĐDS thông dụng và có sự so sánh với pháp luật của
một số nước.
- "Những điểm mới cơ bản về hợp đồng trong Bộ luật Dân sự năm
2005", của Nguyễn Ngọc Khánh, đăng trên Tạp chí Kiểm sát, số 01 năm
2006; "Một số điểm mới về hợp đồng trong Bộ luật Dân sự 2005", của
Nguyễn Thị Thục, đăng trên Tạp chí Nhà nước và pháp luật, số 03 năm 2006,
các bài viết tuy cũng đề cập tới vấn đề này nhưng chưa phân tích hay bình
luận về ĐPCDHĐDS.
4
- "Đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng theo pháp luật dân sự Việt
Nam", Luận văn thạc sĩ luật học, của Nguyễn Ngọc Oanh, 2010. Luận văn đã
làm sáng tỏ những vấn đề lý luận cơ bản về ĐPCDHĐDS, phân tích sâu về
ĐPCDHĐDS có sự vi phạm của bên đối tác và ĐPCDHĐDS không có sự vi
phạm của bên đối tác theo quy định của BLDS năm 2005. Tuy nhiên, luận
văn chưa tập trung đi sâu phân tích và đánh giá thực trạng quy định của
Với mục đích nghiên cứu như vậy, nhiệm vụ nghiên cứu được xác
định trên những khía cạnh sau:
- Làm rõ một số vấn đề lý luận về ĐPCDHĐ như khái niệm, đặc điểm,
phân loại, hậu quả của ĐPCDHĐDS; so sánh ĐPCDHĐDS với hủy bỏ
HĐDS, so sánh ĐPCDHĐDS với ĐPCD hợp đồng khác.
- Phân tích, đánh giá thực trạng quy định của BLDS năm 2005 về ĐPCDHĐ.
- Đánh giá thực trạng áp dụng pháp luật của các bên chủ thể HĐDS và
Tòa án nhân dân (TAND) để giải quyết vấn đề ĐPCDHĐDS.
- Đưa ra phương hướng nhằm hoàn thiện các quy định của BLDS
về ĐPCDHĐ.
7. Những điểm mới của luận văn
Luận văn là công trình nghiên cứu có tính hệ thống những vấn đề liên
quan đến ĐPCDHĐDS. Trong luận văn có những điểm mới sau đây:
- So sánh ĐPCDHĐDS với ĐPCDHĐ khác;
- Tập trung phân tích, đánh giá thực trạng quy định của BLDS năm
2005 về ĐPCDHĐ, so sánh với quy định của pháp luật dân sự nước ta trước
đó và quy định của pháp luật một số nước về vấn đề này;
6
- Đề xuất một số ý kiến nhằm hoàn thiện các quy định của BLDS về
ĐPCDHĐ.
8. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục,
nội dung của luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Những vấn đề lý luận cơ bản về đơn phương chấm dứt
thực hiện hợp đồng dân sự.
Chương 2: Thực trạng quy định của Bộ luật Dân sự năm 2005 về đơn
phương chấm dứt thực hiện hợp đồng và thực tiễn áp dụng pháp luật về đơn
phương chấm dứt thực hiện hợp đồng dân sự ở nước ta hiện nay.
Chương 3: Phương hướng hoàn thiện các quy định của Bộ luật Dân sự
8
tức là hợp đồng có tính chất là "luật" giữa các bên. Các bên phải thực hiện
nghĩa vụ đã thỏa thuận theo đúng hợp đồng.
Việc thực hiện HĐDS phải tuân theo những nguyên tắc sau: Thực
hiện đúng hợp đồng, đúng đối tượng, chất lượng, số lượng, chủng loại, thời hạn,
phương thức và các thoả thuận khác; thực hiện một cách trung thực, theo tinh
thần hợp tác và có lợi nhất cho các bên, bảo đảm tin cậy lẫn nhau; không được
xâm phạm đến lợi ích công cộng, lợi ích hợp pháp của người khác (Điều 412
BLDS năm 2005).
Khi thực hiện HĐDS ngoài việc tuân thủ các quy tắc đã được quy định
thì việc thực hiện hợp đồng còn phải tuân thủ theo những quy tắc nhất định
đối với từng loại hợp đồng cụ thể như sau:
- Với hợp đồng đơn vụ (chỉ một bên có nghĩa vụ còn một bên có
quyền), bên có nghĩa vụ phải thực hiện nghĩa vụ đúng như đã thoả thuận; chỉ
được thực hiện trước hoặc sau thời hạn nếu được bên có quyền đồng ý.
- Với hợp đồng song vụ (mỗi bên đều có nghĩa vụ đối với nhau, nghĩa
vụ của bên này là quyền của bên kia): Trong hợp đồng song vụ, khi các bên
đã thoả thuận thời hạn thực hiện nghĩa vụ thì mỗi bên phải thực hiện nghĩa vụ
của mình khi đến hạn; không được hoãn thực hiện với lý do bên kia chưa thực
hiện nghĩa vụ đối với mình. Trong trường hợp các bên không thoả thuận bên
nào thực hiện nghĩa vụ trước thì các bên phải đồng thời thực hiện nghĩa vụ
đối với nhau; nếu nghĩa vụ không thể thực hiện đồng thời thì nghĩa vụ nào khi
thực hiện mất nhiều thời gian hơn thì nghĩa vụ đó phải được thực hiện trước.
Trong hợp đồng song vụ, khi một bên không thực hiện được nghĩa vụ
của mình do lỗi của bên kia thì có quyền yêu cầu bên kia vẫn phải thực hiện
nghĩa vụ đối với mình hoặc huỷ bỏ hợp đồng và yêu cầu bồi thường thiệt hại
(Điều 417 BLDS năm 2005). Nếu một bên không thực hiện được nghĩa vụ mà
các bên đều không có lỗi thì bên không thực hiện được nghĩa vụ không có
quyền yêu cầu bên kia thực hiện nghĩa vụ đối với mình. Trường hợp một bên
thể thỏa thuận thay thế đối tượng khác, thực chất đó là việc chấm dứt hợp
đồng trước và giao kết hợp đồng mới.
Thứ sáu: Các trường hợp khác do pháp luật quy định (Điều 424
BLDS năm 2005).
1.2. Khái niệm đơn phƣơng chấm dứt thực hiện hợp đồng dân sự
Khi đề cập đến từ "Đơn phương", chúng ta thường hiểu là sự biểu lộ,
sự mong muốn từ một phía. Những cụm từ có "đơn phương" chúng ta hay gặp
trong văn chương và cuộc sống là: "Mối tình đơn phương", "Tình yêu đơn
phương" để nói về việc tình yêu mà chỉ một phía yêu và muốn được yêu còn
bên kia thì không yêu và không muốn đáp lại. Để tìm hiểu về "đơn phương",
tác giả xin trích dẫn một số định nghĩa tại một số cuốn "Từ điển Tiếng Việt".
Theo Từ điển Tiếng Việt của Nxb Khoa học xã hội, năm 1997: Đơn phương
là phó từ có nghĩa "từ một bên, không có sự thỏa thuận hoặc tham gia của bên
đối địch" [34, tr. 185]. Việc giải thích từ "đơn phương" như vậy không thuyết
phục vì bên kia chưa chắc đã là "bên đối địch". Theo Từ điển Tiếng Việt, Nxb
Thống kê năm 2004: "đơn phương" là một tính từ có nghĩa "có tính chất của
một bên, phân biệt với song phương" [35, tr. 227]. Việc giải thích của Từ điển
này hợp lý hơn nhưng vẫn có hạn chế như chưa chỉ rõ ý chí (mong muốn,
nguyện vọng) của một bên về việc gì đó và "đơn phương" không chỉ để phân
biệt với "song phương" mà còn phân biệt với "đa phương".
Theo Từ điển Bách khoa toàn thư thì "đơn phương" là "sự thể hiện ý
chí của riêng một bên, không có sự thỏa thuận hoặc sự tham gia của bên kia;
phân biệt với đa phương hoặc song phương" [33]. Định nghĩa này hợp lý hơn
cả trong số ba định nghĩa về "đơn phương" tại các Từ điển Tiếng Việt nói trên
vì đã khẳng định "đơn phương" có tính ý chí, thể hiện ý chí của một bên, khi
thể hiện ý chí đó không có sự thỏa thuận hoặc tham gia của bên kia và dùng
để phân biệt với "đa phương" (nhiều bên) hoặc "song phương" (hai bên).
11
Vậy ĐPCDHĐDS là gì? Căn cứ vào định nghĩa về từ "đơn phương"
đồng theo điều kiện mà các bên đã thỏa thuận trong hợp đồng hoặc do pháp luật
quy định" [12], Sau đó BLDS năm 1995 quy định tại khoản 1 Điều 420: "Một
bên có quyền đơn phương đình chỉ thực hiện hợp đồng và không phải bồi thường
thiệt hại khi bên kia vi phạm hợp đồng là điều kiện đình chỉ mà các bên đã thỏa
thuận hoặc pháp luật có quy định" [24]. BLDS năm 2005 quy định quyền này
tại khoản 1 Điều 426: "Một bên có quyền đơn phương chấm dứt thực hiện hợp
đồng nếu các bên có thỏa thuận hoặc pháp luật có quy định" [27]. Như vậy,
quyền ĐPCDHĐDS đã được ghi nhận trong cả ba văn bản quy phạm pháp luật
chủ yếu của ngành luật dân sự trong ba thời kỳ khác nhau, đều khẳng định
quyền này có được do thỏa thuận trong hợp đồng hoặc pháp luật quy định.
Trên cơ sở đó, nếu ở vào điều kiện, hoàn cảnh đã thỏa thuận hoặc pháp luật
quy định một bên có quyền ĐPCDHĐDS thì bên đó có quyền này, ý chí của
bên đó là "đúng" và bên kia buộc phải chấp nhận, nghĩa là sự đồng ý của bên
kia là không cần thiết, mọi thỏa thuận trong hợp đồng đều không còn ràng
buộc, các bên không phải tiếp tục thực hiện hợp đồng. Một trong hai cơ sở
của quyền này là sự thỏa thuận từ trước (khi giao kết) xuất phát từ sự tự do ý
chí của các bên tham gia hợp đồng. Quan điểm xuyên suốt của BLDS Việt
Nam năm 2005 là "tăng cường quyền tự do hợp đồng thông qua việc các bên
được quyết định đối tác tham gia ký kết hợp đồng, hình thức, nội dung của
hợp đồng, trách nhiệm của các bên đối tác khi có sự vi phạm, chấm dứt hợp
đồng" [36, tr. 175]. Khi giao kết HĐDS, các bên đã thống nhất ý chí là trong
những trường hợp nhất định thì một bên có quyền ĐPCDHĐ, vì "hợp đồng dân
sự là sự thỏa thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền,
nghĩa vụ dân sự" nên việc thỏa thuận chấm dứt HĐDS luôn được tôn trọng.
"Pháp luật của các quóc gia trên thế giới đều khẳng định sự thỏa thuận là yếu tố
cốt lõi của hợp đồng" [40, tr. 194]. Bất kỳ hệ thống pháp luật nào người ta cũng
đều thừa nhận nền tảng của luật hợp đồng là tự do ý chí, có nghĩa tự do ý chí là
vấn đề trọng yếu của hợp đồng. Do đó quyền ĐPCDHĐ xuất phát từ sự thỏa
thuận khi giao kết được ghi nhận. Ngoài sự thỏa thuận, Quyền ĐPCDHĐ còn
14
2005 sử dụng thuật ngữ "đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng dân sự",
xét về bản chất việc sử dụng từ ngữ của cả ba văn bản này đều nói về sự chấm
dứt "nửa chừng" việc thực hiện quyền và nghĩa vụ theo hợp đồng mà các bên
đã giao kết theo ý chí của một bên. Khác biệt giữa hai thuật ngữ chính là từ
"đình chỉ" được thay bằng từ "chấm dứt". Hai từ này đều là động từ dùng để
chỉ việc kết thúc việc làm, hành vi, hoạt động nhưng từ "đình chỉ" dùng với
những hành vi, hoạt động, việc làm vi phạm pháp luật, vi phạm nội quy, quy
chế gắn với lỗi của người thực hiện và gắn với mệnh lệnh hành chính của một
bên (bên có quyền được Nhà nước trao). Với quan điểm thể hiện trong BLDS
năm 2005 thì ĐPCDHĐ không chỉ áp dụng trong trường hợp bên đối tác vi
phạm hợp đồng mà còn áp dụng với cả những trường hợp không có vi phạm
của bên đối tác nhưng vì lý do khách quan ảnh hưởng đến quyền lợi của bên
có quyền nếu tiếp tục thực hiện hợp đồng. Từ "chấm dứt" có thể dùng với tất
cả các trường hợp kết thúc hoạt động, hành vi, việc làm; dùng từ "chấm dứt"
đem lại cảm giác bình đẳng, mềm dẻo hơn, phù hợp với tính chất của quan hệ
dân sự. Do vậy, dùng từ "chấm dứt" phù hợp hơn từ "đình chỉ" trong thuật
ngữ nói về việc một bên thể hiện ý chí chấm dứt hợp đồng "nửa chừng".
Vì chấm dứt "nửa chừng" mà phần hợp đồng được thực hiện trước khi
nó bị tuyên bố là chấm dứt thì vẫn có hiệu lực với các bên, các bên phải thanh
toán cho nhau phần hợp đồng đã được thực hiện còn nghĩa vụ chưa thực hiện
thì các bên không phải tiếp tục thực hiện.
Qua sự phân tích như trên, tác giả đưa ra khái niệm ĐPCDHĐDS
như sau:
Đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng dân sự là sự thể hiện ý chí
chấm dứt hợp đồng dân sự của một bên chủ thể trên cơ sở sự thỏa thuận hoặc
quy định của pháp luật do quyền và lợi ích hợp pháp của họ không được thực
hiện hoặc không được đảm bảo thực hiện.
15
Thời hạn thực hiện HĐDS là khoảng thời gian được các bên thỏa thuận
HĐDS có hiệu lực, trong khoảng thời gian đó bên có nghĩa vụ phải thực hiện
nghĩa vụ đúng như đã thỏa thuận. Với khoảng thời gian đó, một bên định
lượng được mức độ ảnh hưởng của việc tiếp tục thực hiện HĐDS với mình
nên có ý chí ĐPCDHĐ. Vì nguy cơ quyền lợi của mình bị ảnh hưởng so với
mục đích ban đầu khi giao kết hợp đồng mà bên ĐPCDHĐDS muốn việc thực
hiện "dừng lại" càng sớm càng tốt, đó không chỉ là mốc về hoạt động (thực
hiện nghĩa vụ đến đâu) mà còn là mốc về thời gian. Vì thế ĐPCDHĐDS là
chấm dứt "nửa chừng" HĐDS. Đối với những hợp đồng được các bên thực
hiện ngay sau khi hợp đồng có hiệu lực, thời hạn thực hiện quá ngắn thì hợp
đồng được hoàn thành ngay, nhanh chóng và chấm dứt. Do đó, chỉ với những
hợp đồng có thời hạn thực hiện nhất định thì vấn đề ĐPCDHĐ mới được đặt ra.
Việc đặt ra ĐPCDHĐDS trước khi hết thời hạn thực hiện hợp đồng khi thấy
rõ một bên sẽ vi phạm hợp đồng hoặc có thể dự báo thiệt hại xảy ra trong
tương lai nếu tiếp tục thực hiện hợp đồng hoặc sau khi hết thời hạn thực hiện
hợp đồng mà quyền và lợi ích hợp pháp của các bên không đạt được vì hợp
đồng không được thực hiện như dự tính.
1.3.4. Mục đích, nguyện vọng ban đầu của một hoặc các bên khi
giao kết thường chưa đáp ứng được trọn vẹn khi hợp đồng chấm dứt
HĐDS là sự thỏa thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi hoặc
chấm dứt quyền, NVDS. Do đó, khi giao kết hợp đồng, các bên đều hướng tới
một lợi ích nhất định, đều muốn đạt được mục đích nào đó như: trong hợp
đồng mua bán tài sản, một bên muốn bán tài sản lấy tiền còn một bên muốn
mua tài sản bằng tiền… Lợi ích đó chỉ đạt được khi hợp đồng được thực hiện
đúng như dự kiến ban đầu của các bên (thực hiện đầy đủ về nghĩa vụ, thời
gian…) khi giao kết.
Nhưng nhiều hợp đồng đã giao kết mà một hoặc các bên có sự vi
phạm hợp đồng như vi phạm về thực hiện nghĩa vụ với nhau, nghĩa vụ với
17