LỜI MỞ ĐẦU
Trong quá trình sản xuất, kinh doanh, cũng như trong cuộc sống hàng ngày một
yếu tố không thể thiếu được là phải có giao lưu dân sự, đó là sự chuyển giao tài
sản, quyền tài sản hoặc thực hiện một dịch vụ nào đó giữa người này với người
khác, giữa tổ chức này với tổ chức khác, giữa pháp nhân này với pháp nhân
khác. Sự giao lưu dân sự đó thường được hình thành thông qua sự thỏa thuận
giữa các bên, trên cơ sở đó pháp luật buộc các bên phải thực hiện quyền và
nghĩa vụ đó. Sự thỏa thuận đó gọi là hợp đồng.
Điều 385 Bộ luật dân sự 2015 quy định “Hợp đồng là sự thỏa thuận giữa các bên
về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt các quyền, nghĩa vụ dân sự”. Như vậy,
cơ sở đầu tiên để hình thành một hợp đồng là việc thỏa thuận bằng ý chí tự
nguyện của các bên. Tuy nhiên hợp đồng chỉ được pháp luật công nhận và bảo
vệ khi ý chí các bên phù hợp với quy định của nhà nước, trong đó có các quy
định về hình thức và nội dung của hợp đồng. Với mục đích đi sâu tìm hiểu về
các quy định của pháp luật về hình thức và nội dung của hợp đồng , em xin lựa
chọn đề tài: “ Hình thức của hợp đồng theo quy định của pháp luật dân sự
Việt Nam hiện hành – Những vấn đề lý luận và thực tiễn”.
Trong quá trình làm bài em đã cố gắng nhiều, song với trình độ hiểu biết vấn đề
còn hạn chế nên bài viết khó thể tránh khỏi những thiếu sót. Bởi vậy, em rất
mong có thể nhận được sự đóng góp ý kiến từ phía thầy cô để bài làm của em
được hoàn thiện hơn.
NỘI DUNG
I. KHÁI NIỆM, ĐẶC ĐIỂM HỢP ĐỒNG
1.1. Khái niệm hợp đồng
Để tồn tại và phát triển, mỗi cá nhân cũng như mỗi tổ chức phải tham gia nhiều
mối quan hệ xã hội khác nhau. Trong đó, việc các bên thiết lập với nhau những
quan hệ, để qua đó chuyển giao cho nhau các lợi ích vật chất nhằm đáp ứng nhu
cầu sinh hoạt, tiêu dùng, đóng một vai trò quan trọng, là một tất yếu đối với mọi
của bất cứ một bộ phận nào trong số các bên liên quan đối với những vấn đề
quan trọng và thể hiện thông qua một quá trình mà mọi quan điểm của các bên
liên quan đều phải được xem xét và dung hoà được tất cả các tranh chấp; là việc
các bên (cá nhân hay tổ chức) có ý định chung tự nguyện cùng nhau thực hiện
những nghĩa vụ mà họ đã cùng nhau chấp nhận vì lợi ích của các bên. Sự đồng
tình tự nguyện này có thể chỉ được tuyên bố miệng và được gọi là thoả thuận
quân tử (hợp đồng quân tử) hay được viết thành văn bản gọi là hợp đồng viết
hay hợp đồng thành văn. Tuỳ theo từng trường hợp được gọi là hợp đồng hay
hiệp định; vd. hiệp định mua bán, hợp đồng đại lí.
Yếu tố thỏa thuận đã bao hàm trong nó yếu tố tự nguyện, tự định đoạt và sự
thống nhất về mặt ý chí. Đây là yếu tố quan trọng nhất tạo nên sự đặc trưng của
hợp đồng so với các giao dịch dân sự khác, đây cũng là yếu tố làm nên bản chất
của luật dân sự so với các ngành luật khác.
Về chủ thể tham gia hợp đồng : Chủ thể giao kết, thực hiện hợp đồng phải có ít
nhất từ hai bên trở lên, vì hợp đồng là một giao dịch pháp lý song phương hay
đa phương. Các chủ thể khi giao kết, thực hiện hợp đồng đều phải có tư cách
chủ thể tức là phải đáp ứng các điều kiện theo quy định của pháp luật đối với
một chủ thể của quan hệ dân sự (ví dụ: nếu chủ thể là cá nhân thì phải đáp ứng
được các yêu cầu về năng lực pháp luật, năng lực hành vi dân sự…).
Mục đích hướng tới của các bên khi tham gia hợp đồng là để xác lập thay đổi
hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự. Quyền và nghĩa vụ trong phạm vi hợp
đồng có phạm vi rất rộng, trước đây trong Pháp lệnh hợp đồng ngày 29-4-1991
(Điều 1) quy định hợp đồng là sự thỏa thuận của các bên về việc xác lập, thay
đổi hay chấm dứt các quyền và nghĩa vụ của các bên trong mua bán, thuê, vay,
mượn, tặng, cho tài sản, làm một hoặc không làm công việc, dịch vụ hoặc các
thỏa thuận khác mà trong đó một hoặc các bên nhằm đáp ứng nhu cầu sinh hoạt,
tiêu dùng.
Theo quy định của pháp luật hiện hành thì không liệt kê cụ thể các quyền và
hợp đồng, có hiệu lực điều chỉnh đối với tất cả các quan hệ hợp đồng trong mọi
lĩnh vực. Về hình thức hợp đồng, luật dân sự 2015 không quy định cụ thể tại
điều riêng như luật dân sự 2005 quy định về hình thức của hợp đồng tại điều 401
Bộ luật Dân sự 2005 mà coi đó là hoạt động giao dịch dân sự nên nó cũng phải
thỏa mãn hình thức của giao dịch dân sự được quy định tại điều 119 luật dân sự
2015:
“1. Giao dịch dân sự được thể hiện bằng lời nói, bằng văn bản hoặc bằng hành
vi cụ thể.
Giao dịch dân sự thông qua phương tiện điện tử dưới hình thức thông điệp dữ
liệu theo quy định của pháp luật về giao dịch điện tử được coi là giao dịch bằng
văn bản.
2. Trường hợp luật quy định giao dịch dân sự phải được thể hiện bằng văn bản
có công chứng, chứng thực, đăng ký thì phải tuân theo quy định đó’’.
Vì hợp đồng cũng là một loại giao dịch dân sự, nên theo các quy định nêu trên
có thể thấy, hình thức của hợp đồng bao gồm các loại sau: bằng lời nói, bằng văn
bản, bằng hành vi cụ thể và bằng thông điệp dữ liệu (hợp đồng điện tử).
Như vậy, hình thức của hợp đồng tương đối đa dạng tạo điều kiện cho các chủ
thể ký kết thuận tiện. Đối với những hợp đồng mà pháp luật đã quy định buộc
phải giao kết theo một hình thức nhất định, thì các bên phải tuân theo các hình
thức đó.
-
Hình thức miệng:
Thông qua hình thức bằng lời nói, các bên chỉ cần thỏa thuận miệng với nhau về
nội dung cơ bản của hợp đồng. Hình thức miệng được coi là có độ xác thực thấp
nhất. Khi có tranh chấp giữa các bên về một hợp đồng đã được giao kết miệng
với nhau, bất cứ bên nào cũng có thể phủ nhận tất cả những cam kết trước đây
Các bên có thể ký kết hợp đồng dưới hình thức cùng nhau lập một văn bản viết.
Hình thức hợp đồng bằng văn bản mang tính xác thực hơn so với hình thức hợp
đồng miệng. Trong văn bản đó các bên ghi đầy đủ những nội dung đã thỏa
thuận, cùng ký tên xác nhận vào văn bản. Văn bản hợp đồng thường được soạn
thành hai hay nhiều bản gốc giông nhau, đều phải có chữ ký của các bên, mỗi
bên được giữ một bản. Căn cứ vào văn bản của hợp đồng, các bên dễ dàng thực
hiện quyền yêu cầu của mình đối với bên kia. Các trường hợp cơ bản áp dụng
hình thức văn bản này là :
+) Đối với những hợp đồng có giá trị lớn.
+) Đối với những hợp đồng mà việc thực hiện các quyền và nghĩa vụ hợp đồng
có thể diễn ra trong một thời gian dài không cùng lúc với việc giao kết (ví dụ :
hợp đồng gia công xây dựng nhà…)
+) Khi giữa các bên chưa đật được sự tin cậy nhất định.
Đối với riêng dạng hợp đồng bằng văn bản thì Điều 119 khoản 2 Bộ luật dân sự
quy định: “ Trường hợp pháp luật quy định giao dịch dân sự phải được thể hiện
bằng văn bản có công chứng, chứng thực, đăng ký thì phải tuân theo các quy
định đó”. Thông qua chỉ dẫn này ta thấy rằng hợp đồng bằng văn bản được chia
tiếp ra làm hai loại là : hợp đồng bằng văn bản thông thường và hợp đồng bằng
văn bản có chứng nhận của công chứng Nhà nước hoặc chứng thực của Ủy ban
nhân dân cấp có thẩm quyền. Hợp đồng bằng văn bản có chứng nhận, chứng
thực được coi là hình thức mang tính xác thực cao nhất và thường được pháp
luật quy định đối với các trường hợp như đối với các hợp đồng có tính chất phức
tạp, dễ xảy ra tranh chấp hoặc với hợp đồng có đối tượng là những tài sản mà
nhà nước cần phải quản lý, kiểm soát. Những trường hợp đó được quy định cụ
thể cho từng loại hợp đồng. Tuy nhiên, trong trường hợp pháp luật không có quy
định thì các bên vẫn có thể thỏa thuận với nhau áp dụng hình thức văn bản có
chứng nhận, chứng thực đó để giao kết hợp đồng. Tuy nhiên nếu có vi phạm về
2.2. Nội dung của hợp đồng
Nội dung của hợp đồng là tổng hợp các điều khoản mà các bên tham gia giao kết
hợp đồng đã thỏa thuận. Các điều khoản đó xác định những quyền và nghĩa vụ
dân sự cụ thể của các bên trong hợp đồng.
Để nhận biết được một hợp đồng và để pháp luật công nhận hợp đồng đó thì các
bên phải thoải thuận được với nhau về một số nội dung quan trọng nhất định.
Vấn đề đặt ra là: Liệu các bên thỏa thuận đến đâu thì hợp đồng coi như được
hình thành (được coi là giao kết) ? Pháp luật không thể quy định cứng nhắc rằng
mỗi hợp đồng có bao nhiêu điều khoản. Điều đó phụ thuộc vào tính chất của
từng hợp đồng cụ thể. Tuy nhiên, các điều khoản trong nội dung hợp đồng được
chia làm ba loại đó là : Điều khoản cơ bản; Điều khoản thông thường; Điều
khoản tùy nghi.
-
Điều khoản cơ bản
Các điều khoản cơ bản là những điều khoản mà nếu thiếu chúng thì hợp đồng
không thể được coi là đã giao kết. Điều khoản cơ bản có thể do tính chất của
từng hợp đồng quyết định, ngoài ra còn bao gồm cả những điều khoản mà các
bên tự cảm thấy cần thiết quy định với nhau là là các điều khoản cơ bản. Tính
chất “cơ bản” thể hiện rằng chúng nêu lên bản chất của loại hợp đồng đó, không
có chúng thì hợp đồng không được sếp vào loại này hay loại khác. Ví dụ: Đa số
các tài liệu pháp lý đều cho rằng đối với hợp đồng mua bán thì điều khoản cơ
bản bao gồm đối tượng và giá cả (Mua gì? Giá bao nhiêu?). Tuy nhiên, cũng có
quan điểm cho rằng trong thực tế nếu như các bên không thỏa thuận về giá cả thì
có thể áp dụng giá trung bình của thị trường tại thời đó. Chỉ đối với tài sản
không có giá cả chung trên thị trường (cổ vật, tranh vẽ, bất động sản,…) thì giá
Ngoài những điều khoản phải thỏa thuận về tính chất của hợp đồng và những
điều khoản mà pháp luật đã quy định trước, khi giao kết hợp đồng các bên còn
có thế thỏa thuận để xác định thêm một số điều khoản khác nhằm làm cho nội
dung của hợp đồng được cụ thể hoặc tạo điều kiện thuận lợi cho các bên trong
quá trình thực hiện hợp đồng. các điều khoản này được gọi là điều khoản tùy
nghi.
Điều khoản tùy nghi là những điều khoản mà các bên tham gia giao kết hợp
đồng tự ý lựa chọn và thỏa thuận vơi nhau để xác định quyền và nghĩa vụ dân sự
của các bên. Thông qua điều khoản tùy nghi, bên có nghĩa vụ được phép lựa
chọn một trong những cách thức nhất định để thực hiện hợp đồng, sao cho thuận
lợi mà vẫn bảo đảm được quyền yêu cầu của bên kia.
Như vậy, một điều khoản trong nội dung của hợp đồng có thể là điều khoản cơ
bản, có thể là điều khoản thông thường nhưng cũng có thể là điều khoản tùy
nghi. Chẳng hạn địa điểm giao vật trong hợp đồng mua bán tài sản sẽ là điều
khoản cơ bản, nếu khi giao kết, các bên đã thỏa thuận cụ thể về nơi giao vật.
Ngược lại, nó sẽ là điều khoản thông thường nếu các bên không thỏa thuận mà
mặc nhiên thừa nhận và thực hiện theo quy định của pháp luật. Mặt khác, địa
điểm trong hợp đồng mua bán sẽ là điều khoản tùy nghi nếu các bên đã thỏa
thuận cho phép bên có nghĩa vụ được lựa chọn một trong nhiều nơi để thực hiện
nghĩa vụ giao vật.
Dựa vào tính chất của các điều khoản tùy nghi, người ta có thể phân chúng
thành hai loại khác nhau: tùy nghi ngoài pháp luật và tùy nghi khác pháp luật.
Điều 398 Bộ luật dân sự 2015 quy định :
“1. Các bên trong hợp đồng có quyền thỏa thuận về nội dung trong hợp đồng.
2. Hợp đồng có thể có các nội dung sau đây:
a.
b.
c.
chỉ số đó bao gồm: tên gọi, chất lượng, số lượng, các chỉ số phân loại hoặc chỉ
số kỹ thuật (nếu có)… Quan điểm đó cho rằng cùng một sản phẩm, nhưng với
hai nhóm chất lượng khác nhau, thì đó là hai đối tượng khác nhau. Ví dụ: Gạo
loại 1 phân biệt với gạo loại 2, xe ôtô mới xuất xưởng phân biệt với xe ôtô đã
qua sử dụng.
Số lượng đóng vai trò rất quan trọng trong việc xác định đối tượng của hợp
đồng. Ngay bản thân khái niệm đối tượng thường được hiểu theo nghĩa “cái gì
và bao nhiêu”. Trong một số hợp đồng điều khoản về số lượng tưởng như không
được nhắc tới, ví dụ như hợp đồng cung cấp năng lượng điện cho người tiêu
dùng, người tiêu dùng có quyền tiêu thụ lượng điện cần thiết cho riêng mình.
Nhưng xét kỹ về thực chất thì không phải như vậy, vì giá thành trong hợp đồng
được dự liệu trước cho từng khoảng số lượng điện năng tiêu thụ, sau đó khoản
tiền điện năng thanh toán sẽ được cụ thể hóa theo chỉ số tiêu thụ thực tế. Nếu
bên tiêu thụ điện dự trù sẽ tiêu thụ một lượng điện gấp nhiều lần so với mức
bình quân của người tiêu dùng, để nhằm mục đích sản xuất, thì các bên sẽ ký kết
với nhau hợp đồng với mục đích sử dụng khác đi và cũng với giá thành khác
hẳn.
Yêu cầu về chất lượng thường do các bên thỏa thuận. Trong một số loại hợp
đồng, chất lượng được các cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định và giám
sát. Ví dụ như để đảm bảo quyền lợi của người tiêu dùng thì các mặt hàng sinh
hoạt dân dụng như thực phẩm, thuốc men, đồ dùng điện,…phải được đăng ký
chất lượng, đảm bảo mọi yêu cầu về độ an toàn, yêu cầu vệ sinh.
Thời hạn của hợp đồng thường được coi là yếu tố quan trọng của hợp đồng.
Thời hạn xác định khoảng thời gian tồn tại của chính hợp đồng, khoảng thời
gian mà các bên phải thực hiện cho nhau các nghĩa vụ đã cam kết trong hợp
đồng. Thời hạn được xác định bằng hai cách chính: bằng thời điểm cụ thể theo
lịch (thứ mấy, ngày nào của tháng nào năm nào, vào lúc mấy giờ…) và bằng
phương pháp tính khoảng độ dài thời gian (bao nhiêu ngày, bao nhiêu tháng,
khung giá nhằm trợ giúp cho các chủ thể dễ dàng định hướng khi ký kết hợp
đồng. Ví dụ như giá quy đổi ngoại tệ, giá trung bình của các mặt hàng nhu cầu
yếu phẩm trong tháng do kết quả điều tra.
Các bên hoặc thỏa thuận với nhau hoặc giá cả cụ thể, hoặc thỏa thuận phương
pháp để tính giá cho đối tượng của hợp đồng trong thời hạn thực hiện hợp đồng
(như giá có thể xác định theo theo tỷ lệ đối với giá của một mặt hàng chiến lược
nào đó theo quy định tại thời điểm thanh toán).
III. THỰC TIỄN VÀ KIẾN NGHỊ
1.
Hình thức hợp đồng
Hợp đồng là sự thoả thuận nhằm xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền và
nghĩa vụ dân sự giữa các bên. Trong quá trình đàm phán, thương thảo để ký kết
hợp đồng, mỗi chủ thể đều có ý chí của mình. Khi ý chí của các bên có sự trùng
hợp thì coi là có sự thoả thuận và hợp đồng được ký kết. Sự trùng hợp ý chí, hay
nói cách khác sự thoả thuận của các bên được thể hiện bằng những hình thức
khác nhau tuỳ thuộc vào ý chí của họ: có thể bằng lời nói, có thể bằng hành vi
và có thể bằng văn bản. Các hình thức thể hiện ý chí đó được gọi là hình thức
của hợp đồng. Theo nguyên tắc thì các bên có quyền lựa chọn hình thức thể hiện
ý chí của họ và đó được coi là một trong những nội dung của tự do hợp đồng –
tự do lựa chọn hình thức của hợp đồng. Tuy nhiên, trên thực tế khi giao kết hợp
đồng thì hình thức hợp đồng phần nào đó bị tác động bởi yếu tố về đặc điểm hợp
đồng giao kết như thế nào? Và quy định của pháp luật về loại hợp đồng đó ra
làm sao? chẳng hạn như nếu chúng ta ra chợ mua một mớ rau thì không ai lại đi
lập hợp đồng bằng văn bản, rồi công chứng hay chứng thực và chúng ta không
thể thỏa thuận bằng lời nói để mua, bán đi một căn nhà, hay chuyển quyền sử
thức là điều kiện có hiệu lực của giao dịch, thậm chí nên bỏ hẳn các quy định về
hình thức. Các quan điểm này có vẻ như coi nhẹ hình thức của hợp đồng là điều
kiện có hiệu lực của hợp đồng. Việc coi nhẹ tới mức bỏ hẳn yếu tố hình thức là
điều kiện có hiệu lực của hợp trong nhiều trường hợp có thể dẫn đến việc thiếu
cơ chế để bảo vệ quyền lợi của bên yếu hơn trong quan hệ hợp đồng, thiếu
chứng cứ chứng minh tồn tại của hợp đồng, khó có thể bảo đảm trật tự công
cộng cũng như an toàn pháp lý cho các bên và cả người thứ ba.
Về mối quan hệ giữa hình thức với hiệu lực của hợp đồng được quy định tại
khoản 2 Điều 117 BLDS 2015: “hình thức của giao dịch dân sự là điều kiện có
hiệu lực của giao dịch dân sự trong trường hợp luật có quy định”, và theo điều
điều 129 BLDS 2015.
Các quy định nói trên cho thấy, mặc dù pháp luật có quy định một loại hợp đồng
nào đó phải được ký kết bằng văn bản, văn bản có chứng thực, tuy nhiên hợp
đồng sẽ không bị coi là vô hiệu nếu các bên không tuân thủ hình thức, trừ trường
hợp pháp luật có quy định. Pháp luật quy định như vậy, tuy nhiên khi nghiên cứu
các quy định của Bộ luật Dân sự và các văn bản pháp luật khác thì không thể tìm
thấy bất kỳ quy định nào, theo đó hợp đồng không tuân thủ hình thức văn bản,
văn bản có chứng thực thì vô hiệu, mà trong nhiều trường hợp pháp luật chỉ quy
định hợp đồng phải được ký kết bằng văn bản. Với cách quy định về hình thức
của hợp đồng là điều kiện có hiệu lực của hợp đồng trong pháp luật Việt Nam
nói chung và BLDS nói riêng là không rõ ràng. Thứ nhất, như đã phân tích ở
trên, hợp đồng là sự thoả thuận và hình thức của hợp đồng chỉ là hình thức thể
hiện ý chí của các bên ra bên ngoài; thứ hai, rõ ràng hợp đồng không được công
chứng, chứng thực là do một trong các bên không muốn, vậy thì Quyết định của
Toà án cũng không thể thay đổi được ý chí của họ. Mặt khác, theo quy định của
điều 121 BLDS 2015, khi hợp đồng có điều khoản không rõ ràng thì không chỉ
dựa vào ngôn từ của hợp đồng mà còn phải căn cứ vào ý chí chung của các bên
để giải thích điều khoản đó. Rõ ràng, ý chí chung của các bên được đánh giá cao
nghĩa vụ trong giao dịch sau đó xem số lượng nghĩa vụ đã thực hiện là bao nhiêu
sẽ không khả thi nếu như trong số các nghĩa vụ đó có những nghĩa vụ không
phân chia được theo phần hoặc danh sách các nghĩa vụ mà hợp đồng nêu chỉ
mang tính chất liệt kê và là danh sách mở.
Từ những phân tích trên, ta thấy rằng các quy định của pháp luật Việt Nam liên
quan đến hình thức là điều kiện để hợp đồng có hiệu lực cần phải được quy định
rõ ràng hơn, cụ thể hơn. Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao cần có sự
giải thích việc áp dụng các quy định về hình thức là điều kiện có hiệu lực của
hợp đồng tương tự án lệ và thực tiễn giải quyết tranh chấp của các nước trên cơ
sở nguyên tắc trung thực thiện chí.
Thứ hai, hình thức bằng thông điệp dữ liệu, ngoài 3 hình thức hợp đồng truyền
thống: bằng lời nói, bằng văn bản, bằng hành vi cụ thể, Bộ luật Dân sự 2015 có
một hình thức hợp đồng nữa là hình thức bằng thông điệp dữ liệu (hợp đồng
điện tử).
Ở nước ta, nhiều ngành kinh tế quan trọng, nhiều doanh nghiệp đã thực hiện
giao dịch điện tử trong các hoạt động của mình. Tuy nhiên, hoạt động giao dịch
điện tử ở nước ta về cơ bản mới ở giai đoạn xây dựng các dịch vụ ứng dụng,
chưa có dịch vụ nào được thực hiện trực tuyến hoàn toàn. Tình hình đó do nhiều
nguyên nhân, trong đó có nguyên nhân quan trọng về môi trường pháp lý: nước
ta còn thiếu một khung pháp lý cần thiết, một văn bản pháp luật có giá trị pháp
lý cao để điều chỉnh các quan hệ trong giao dịch điện tử.
Trước thực tế trên, để tạo cơ sở pháp lý cho giao dịch điện tử phát triển, Bộ luật
Dân sự năm 2015 có sửa đổi trên cơ sở của luật dân sự 2005 về giao dịch dân sự
thông qua phương tiện điện tử dưới hình thức: “Giao dịch dân sự thông qua
phương tiện điện tử dưới hình thức thông điệp dữ liệu theo quy định của pháp
luật về giao dịch điện tử được coi là giao dịch bằng văn bản” (khoản 1 Điều
119). Tại kỳ họp thứ 7 Quốc hội Khoá XI, Luật Thương mại năm 2005 được
thông qua, trong đó Điều 15 ghi nhận nguyên tắc thừa nhận giá trị pháp lý của
III. KẾT LUẬN
Hình thức và nội dung có mối quan hệ biện chứng với nhau. Hình thức hợp đồng
là cách thức thể hiện ý chí ra bên ngoài của các bên giao kết hợp đồng. Thông
qua cách thức biểu hiện này, người ta có thể biết được nội dung của giao dịch đã
xác lập. Hình thức của hợp đồng có ý nghĩa rất quan trọng trong tố tụng. Nó là
chứng cứ xác nhận các quan hệ đã, đang tồn tại giữa các bên, từ đó xác định
trách nhiệm dân sự khi có vi hợp đồng phạm xảy ra. Bởi vậy, việc quy định hình
thức, nội dung hợp đồng như thế nào để bảo đảm được quyền lợi của các bên khi
giao kết hợp đồng và không xâm phạm tới nguyên tắc “tự do thỏa thuận” khi
giao kết hợp đồng là một bài toán khó. Tuy nhiên, với các quy định về hinh thức
và nội dung hợp đồng trong Bộ luật dân sự thì đã phần nào giải quyết được vấn
đề đó, có thể đánh giá các quy định về hình thức và nội hợp đồng trong Bộ luật
Dân sự 2015 là khá tiến bộ, đầy đủ và phù hợp với thực tiễn Việt Nam hiện nay.
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
1
Trương Anh Tuấn, Bình luận khoa học bộ luật dân sự (phần nghĩa vụ
dân sự và hợp đồng). Nxb Lao động.
2
Bộ luật dân sự năm 2015.
3