Hợp đồng dịch vụ theo quy định của pháp luật dân sự việt nam hiện hành – một số vấn đề lý luận và thực tiễn - Pdf 48

BỘ GIÁO DỤC ĐÀO TẠO

BỘ TƯ PHÁP

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

KIỀU THỊ THÙY LINH

HỢP ĐỒNG DỊCH VỤ THEO QUY ĐỊNH CỦA
PHÁP LUẬT DÂN SỰ VIỆT NAM HIỆN HÀNH –
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

LUẬN ÁN TIẾN SĨ LUẬT HỌC

HÀ NỘI - 2017


BỘ GIÁO DỤC ĐÀO TẠO

BỘ TƯ PHÁP

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

KIỀU THỊ THÙY LINH

HỢP ĐỒNG DỊCH VỤ THEO QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT DÂN SỰ
VIỆT NAM HIỆN HÀNH – MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

CHUYÊN NGÀNH: LUẬT DÂN SỰ VÀ LUẬT TỐ TỤNG DÂN SỰ
MÃ SỐ: 62 38 01 03


Kiều Thị Thùy Linh


DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT SỬ DỤNG TRONG LUẬN ÁN

DV

Dịch vụ

HĐDV

Hợp đồng dịch vụ

BLDS

Bộ luật dân sự

BLDS 1995

Bộ luật Dân sự được Quốc hội khóa 9 thông
qua ngày 28 tháng 10 năm 1995

BLDS 2005

Bộ luật Dân sự được Quốc hội khóa 11 thông
qua ngày 29 tháng 12 năm 2005

BLDS 2015

Bộ luật dân sự được Quốc hội khóa 13 thông


1.2. Đặc điểm hợp đồng dịch vụ

27

1.3. Phân loại hợp đồng dịch vụ

33

1.4. Phân biệt hợp đồng dịch vụ với hợp đồng thực hiện công việc phi

43

dịch vụ
1.5. Hợp đồng dịch vụ trong pháp luật một số quốc gia và khu vực trên

50

thế giới
Kết luận chương 1

58

Chương 2: Thực trạng quy định pháp luật dân sự Việt Nam về

59

hợp đồng dịch vụ
2.1. Đối tượng của hợp đồng dịch vụ



107

tranh chấp về hợp đồng dịch vụ
3.2. Kiến nghị hoàn thiện quy định pháp luật dân sự Việt Nam về hợp

122

đồng dịch vụ
Kết luận chương 3

148

KẾT LUẬN

149

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Phụ lục 1: NỘI DUNG CỤ THỂ MỘT SỐ CÔNG TRÌNH NGHIÊN
CỨU VỀ DỊCH VỤ VÀ HỢP ĐỒNG DỊCH VỤ
Phụ lục 2: CÁC BIỂU ĐỒ THỂ HIỆN VAI TRÒ DỊCH VỤ TRONG
CƠ CẤU NỀN KINH TẾ
Phụ lục 3: BẢNG SO SÁNH QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ HỢP
ĐỒNG DỊCH VỤ TRONG BLDS 2005 VÀ BLDS 2015
Phụ lục 4: HỢP ĐỒNG DỊCH VỤ TRONG NGUYÊN TẮC CHUNG
LUẬT HỢP ĐỒNG CHÂU ÂU
Phụ lục 5: QUY ĐỊNH VỀ HỢP ĐỒNG CUNG ỨNG DỊCH VỤ
TRONG LUẬT CUNG ỨNG HÀNG HÓA VÀ DỊCH VỤ 1982 CỦA
ANH

cụ pháp lý điều chỉnh, bên cạnh các quy định dành cho hợp đồng dân sự nói chung,
pháp luật dân sự của Việt Nam mà trọng tâm là BLDS đã có quy định riêng về
HĐDV. Tuy vậy, các quy định về HĐDV hiện nay vẫn chưa đủ sức bao quát để
điều chỉnh các quan hệ cung ứng, sử dụng DV phát sinh trong thực tiễn. Số lượng
các tranh chấp về xác lập, thực hiện hay chấm dứt HĐDV đang ngày càng gia tăng.
Để giải quyết thực trạng này, việc phải tiếp tục nghiên cứu, bổ sung, sửa đổi, hoàn
thiện các quy định của pháp luật dân sự Việt Nam về HĐDV là một yêu cầu cấp
thiết cả về lý luận và thực tiễn.
Để hoàn thiện pháp luật về HĐDV trước hết phải xuất phát từ các vấn đề lý
luận DV và HĐDV. Tuy nhiên, khoa học pháp lý hiện nay còn thiếu vắng nhiều
1

Tác giả tự tổng hợp theo Tình hình kinh tế - xã hội của Tổng cục thống kê tại địa chỉ www.gso.gov.vn (xem
Phụ lục 2)

1


công trình nghiên cứu sâu về hai nội dung này. Một vài công trình nghiên cứu DV
dưới góc độ kinh tế ngành, một số bài viết về HĐDV chỉ dừng lại ở mức độ phân
tích, bình luận một vài khía cạnh trong các quy định pháp luật hiện hành đối với
hợp đồng này. Chưa có công trình nào nghiên cứu HĐDV theo pháp luật dân sự
hiện hành một cách toàn diện, tổng thể để tìm ra điểm phù hợp và chưa phù hợp.
Chính từ vai trò của DV và HĐDV, định hướng phát triển DV của Đảng và
Nhà nước trong tương lai, tính thông dụng của HĐDV trong các giao dịch dân sự
cũng như quy định pháp luật hiện hành vẫn còn nhiều điểm chưa phù hợp, thực tiễn
áp dụng pháp luật về HĐDV bộc lộ nhiều điểm bất cập và các công trình nghiên
cứu làm sáng tỏ vấn đề lý luận về DV, HĐDV còn hạn chế, nghiên cứu sinh quyết
định lựa chọn đề tài: “Hợp đồng dịch vụ theo quy định của pháp luật dân sự Việt
Nam hiện hành – một số vấn đề lý luận và thực tiễn” làm đề tài nghiên cứu luận

4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Một là, luận án nghiên cứu các vấn đề lý luận liên quan đến HĐDV bao gồm:
khái niệm HĐDV, đặc điểm HĐDV, phân loại HĐDV, phân biệt HĐDV với hợp
đồng thực hiện công việc… Hai là, luận án nghiên cứu các quy định của pháp luật
về HĐDV của Việt Nam và một số quốc gia trên thế giới.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
- Về nội dung nghiên cứu: Ngành DV là một bộ phận của kinh tế - xã hội rất
đa dạng, do nhiều chủ thể thực hiện, cung cấp. Nghiên cứu về chủ thể thực hiện và
mục đích thực hiện, DV được chia thành hai loại: DV công và DV tư. DV công là
nhóm DV do cơ quan nhà nước hoặc các chủ thể được nhà nước ủy quyền cung cấp
DV cho các chủ thể trong xã hội nhằm mục tiêu đảm bảo sự ổn định phát triển kinh
tế – xã hội của một quốc gia, duy trì quản lý nhà nước… DV tư được áp dụng cho
nhóm DV mà giữa bên cung ứng DV (sau đây gọi chung là bên cung ứng) và bên
sử dụng DV (sau đây gọi chung là bên sử dụng) có sự bình đẳng về địa vị pháp lý,
xác lập quan hệ trên cơ sở thỏa thuận. Trong BLDS 2005 thì bên sử dụng được gọi
là bên thuê DV. Hoạt động cung ứng, sử dụng DV phụ thuộc vào nhu cầu và năng
lực của từng bên chủ thể. Xem xét HĐDV với tư cách là một hợp đồng dân sự, một
công cụ pháp lý hình thành nên các quan hệ pháp luật về cung ứng, sử dụng DV
trong đời sống xã hội nên phạm vi nghiên cứu của luận án chỉ giới hạn trong các
hoạt động cung ứng, sử dụng DV tư.
Bản thân các DV rất đa dạng, trong đó nhiều hoạt động DV có quy chế pháp
lý điều chỉnh riêng như DV bảo hiểm, DV vận tải (đường bộ, đường thủy nội địa,
đường biển, đường hàng không)… Trong khuôn khổ nghiên cứu của luận án, tác
giả chỉ nghiên cứu những vấn đề chung về DV, HĐDV cũng như quy chế pháp lý
3


nói chung về hợp đồng này. Việc sử dụng các HĐDV cụ thể chỉ mang tính minh
họa, làm sáng tỏ các vấn đề chung thuộc về lý luận hoặc quy định pháp luật dành

tế - xã hội. Bên cạnh đó, các vấn đề lý luận thuộc về bản chất của kinh tế hàng hóa,
4


tự do hóa các hoạt động kinh tế, DV cũng được tác giả bám sát để phân tích, bình
luận phù hợp với xu hướng, bản chất vận động của nền kinh tế thị trường.
5.2. Các phương pháp nghiên cứu cụ thể
Trên cơ sở các phương pháp luận chung tại mục 5.1, luận án sử dụng các biện
pháp nghiên cứu cụ thể sau để thực hiện đề tài này:
- Phương pháp nghiên cứu kết hợp giữa lý luận với thực tiễn: Phương pháp
này xuyên suốt ở tất cả các chương của luận án. Cụ thể, tác giả sử dụng lý luận về
DV, cung ứng DV, hợp đồng dân sự…; Từ các vấn đề lý luận đó, luận án khái quát
lên thành những vấn đề có tính lý luận về HĐDV (Chương 1); kết hợp giữa lý luận
và thực tiễn làm cơ sở đề xuất các kiến nghị hoàn thiện quy định pháp luật hiện
hành về HĐDV (Chương 3).
- Phương pháp phân tích và tổng hợp: Đây là phương pháp nghiên cứu được
sử dụng xuyên suốt từ Chương 1 cho đến Chương 3 của luận án. Luận án phân tích
các khía cạnh mang tính lý luận của kinh tế sản xuất hàng hóa, DV, các quy luật chi
phối nền sản xuất hàng hóa, các yếu tố chi phối đến xác định bản chất hợp đồng
dân sự… từ đó luận án khái quát hóa các vấn đề phản ánh bản chất của HĐDV.
Luận án cũng phân tích các quy định pháp luật hiện hành về HĐDV, quy định pháp
luật các nước khác trên thế giới từ đó tổng hợp các nội dung cần được điều chỉnh,
bổ sung, hoàn thiện.
- Phương pháp lịch sử: Quy phạm pháp luật được xây dựng gắn liền với sự
phát triển, vận động của kinh tế - văn hóa – xã hội của mỗi quốc gia nên bản thân
pháp luật cũng phản ánh lịch sử nhất định. Luận án sử dụng phương pháp lịch sử
trong quá trình phân tích về sự phát triển, biến động của nền kinh tế đối với sự ra
đời, tồn tại của DV cũng như HĐDV. Bên cạnh đó, luận án cũng sử dụng phương
pháp này để nghiên cứu một cách xuyên suốt, liên tục quy định pháp luật về HĐDV
qua từng giai đoạn lịch sử. Áp dụng phương pháp này giúp cho luận án đưa ra các

số nước, khu vực trên thế giới.
Bốn là, phân tích toàn diện, có hệ thống các quy định pháp luật dân sự hiện
hành về HĐDV (các quy định BLDS 2015), đặc biệt có góc nhìn so sánh, đối chiếu
với các quy định pháp luật về hợp đồng này trong BLDS 2005 (Bộ luật vừa hết
hiệu lực vào ngày 31/12/2016).
Năm là, tiến hành phân tích các bản án, các vụ việc xảy ra trong thực tiễn áp
dụng HĐDV từ đó tìm ra ưu điểm, hạn chế trong áp dụng quy định pháp luật về
HĐDV.
Sáu là, trên cơ sở các căn cứ để hoàn thiện, luận án đưa ra các kiến nghị nhằm
sửa đổi, bổ sung các quy định pháp luật hiện hành về HĐDV trên cơ sở yêu cầu hòa
nhập pháp luật quốc tế về loại hợp đồng này.

6


7. Kết cấu của luận án
Ngoài Danh mục từ viết tắt, Mục lục, Lời mở đầu, Phần A về Tổng quan tình
hình nghiên cứu và cơ sở lý thuyết của đề tài, Kết luận, Danh mục tài liệu tham
khảo, các Phụ lục, Phần B Nội dung luận án chia thành 3 chương như sau:
Chương 1: Một số vấn đề lý luận về hợp đồng dịch vụ
Chương 2: Thực trạng quy định pháp luật dân sự Việt Nam về hợp đồng dịch vụ
Chương 3: Thực tiễn áp dụng và kiến nghị hoàn thiện quy định pháp luật dân
sự Việt Nam về hợp đồng dịch vụ

7


PHẦN A
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
VÀ CƠ SỞ LÝ THUYẾT NGHIÊN CỨU CỦA LUẬN ÁN

Tham khảo nội dung chi tiết từng công trình tại Phụ lục 1.

8


đặc điểm chung nhất định. Theo tác giả Chu Khắc Bình, DV có ba đặc điểm: Vô
hình nên khó xác định; Quá trình sản xuất (cung ứng) DV và tiêu dùng DV thường
xảy ra đồng thời; DV không thể lưu trữ được [20, trang 1 - 2]. Tác giả Đoàn Kim
Hồng đưa ra quan điểm về các đặc điểm của DV trong đó ngoài ba đặc điểm nêu
trên còn có các đặc điểm sau: tính không đồng nhất, khó xác định trọng lượng và
không có khả năng hư hỏng [35, trang 6-7]. Tác giả Ngạc Thị Hồng Xiêm cho rằng
dịch vụ có ba đặc điểm: Tính vô hình (intangibility), tính không đồng nhất
(heterogeneity) và tính không thể tách rời/chia cắt (inseparability) [52, trang 6 – 7].
Như vậy, các nhà nghiên cứu đã chỉ ra các đặc điểm của DV phù hợp với góc độ
nghiên cứu của mình. Nhìn chung, DV thường mang đặc điểm là vô hình, không
thể lưu trữ, không đồng nhất và không thể tách rời.
- Phân loại dịch vụ: Tác giả Đoàn Kim Hồng phân loại DV trên cơ sở phân
loại của Hiệp định chung về thương mại DV GATS (General Agreement on Trade
in Services) của Tổ chức Thương mại thế giới (World Trade Organisation – WTO)
[35, trang 7]. Tác giả Chu Khắc Bình phân loại DV dựa vào hai tiêu chí: Dựa vào
tính chất thương mại (DV chia thành DV mang tính thương mại và DV không
mang tính thương mại) và dựa vào mục tiêu DV (DV phân thành DV phân phối,
DV sản xuất, DV xã hội và DV cá nhân).
- Định nghĩa hợp đồng dịch vụ: Tiến sĩ Luật học Nguyễn Ngọc Điện định
nghĩa: “Hợp đồng dịch vụ là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên làm dịch vụ
thực hiện một công việc cho bên sử dụng dịch vụ, còn bên sử dụng dịch vụ phải trả
công cho bên làm dịch vụ”. Định nghĩa này được trình bày trong tác phẩm “Bình
luận hợp đồng thông dụng trong Luật Dân sự Việt Nam”. Tác giả đi vào nghiên
cứu, phân tích quy định BLDS 1995 về HĐDV. Tuy BLDS 1995 đã hết hiệu lực
nhưng những quy định của bộ luật này được kế thừa gần như toàn bộ trong BLDS

nghiên cứu tiếp tục triển khai thực hiện trong thời gian tiếp theo.
(ii) Mặt hạn chế: Những nghiên cứu về HĐDV còn chưa giải quyết được các
vấn đề cơ bản sau:
- Chưa có sự phân tích một cách hệ thống nguồn gốc ra đời của DV để xác
định các thuộc tính và xây dựng khái niệm DV.
- Chưa có một công trình nghiên cứu về HĐDV nói chung mặc dù đã có nhiều
công trình nghiên cứu về từng HĐDV cụ thể như hợp đồng vận chuyển, hợp đồng
bảo hiểm, hợp đồng thương mại DV… Do đó, bản chất, định nghĩa, đặc điểm, phân
loại về HĐDV còn chưa được nghiên cứu một cách có hệ thống.
- Chưa có công trình nào nghiên cứu, phân tích, đánh giá đầy đủ, toàn diện về
thực tiễn áp dụng quy định pháp luật về HĐDV từ khi pháp luật dân sự có ghi nhận
các quy định pháp luật về hợp đồng này trong BLDS.
- Các công trình còn phân tích tản mát về mối quan hệ giữa HĐDV với một số
10


hợp đồng có đối tượng công việc. Việc phân tích cụ thể, chi tiết, hệ thống có ý
nghĩa trong việc áp dụng quy định pháp luật vào điều chỉnh các quan hệ hợp đồng.
II. Cơ sở lý thuyết và hướng tiếp cận của đề tài
2.1. Câu hỏi nghiên cứu
Để đạt được mục đích tác giả đặt ra trong mục 3.1 của Lời nói đầu luận án,
người nghiên cứu đặt ra các câu hỏi làm nền tảng, định hướng cho quá trình nghiên
cứu của mình. Các nhóm câu hỏi nghiên cứu cụ thể:
(i) Nhóm câu hỏi thứ nhất: DV là gì? Phạm vi các hoạt động DV nào sẽ được
cung ứng, thực hiện trên cơ sở thỏa thuận giữa các chủ thể bình đẳng về địa vị pháp lý?
(ii) Nhóm câu hỏi thứ hai: HĐDV là gì? Các đặc điểm đặc trưng của HĐDV
và nó sẽ ảnh hưởng như thế nào đến các cơ chế pháp lý dành cho hợp đồng này?
Các căn cứ phân loại HĐDV? Mặc dù tồn tại nhiều nhóm HĐDV nhưng các quy
định pháp luật nào sẽ điều chỉnh chung toàn bộ các hợp đồng này và pháp luật về
HĐDV là gì?

hàng hóa mà DV là hàng hóa đặc biệt trên thị trường. DV ra đời gắn liền với sản
xuất hàng hóa, được trao đổi theo quy luật giá trị trên thị trường. Do vậy, các đặc
điểm của HĐDV thể hiện rõ các đặc tính của một hợp đồng mua bán hàng hóa đặc
biệt.
Kết quả dự định đạt được trong luận án là tìm ra bản chất HĐDV, phân tích
các đặc điểm của hợp đồng một cách có hệ thống với các lập luận nhất định.
(iii) Giả thiết nghiên cứu thứ ba: Khi nền kinh tế Việt Nam phát triển mạnh
mẽ hướng đến nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, DV tiếp tục trở
thành một ngành kinh tế quan trọng trong cơ cấu kinh tế cũng như là hướng phát
triển tiếp theo của cả nền kinh tế - kinh tế DV - thì HĐDV tiếp tục là một hợp đồng
thông dụng, phổ biến và chiếm số lượng ngày càng lớn trong tổng số các giao dịch
mà các chủ thể xác lập trong đời sống kinh tế - xã hội. Do đó, vai trò của quy định
pháp luật về HĐDV sẽ ngày càng quan trọng vì nó là quy định chung điều chỉnh,
định hướng các quan hệ về cung ứng, sử dụng DV phù hợp với chiến lược phát
triển của đất nước.
Kết quả dự định đạt được trong luận án là phân tích để làm rõ vai trò, thực
trạng quy định pháp luật về HĐDV – các quy định chung định hướng khi tiến hành
thỏa thuận, giao kết và thực hiện các hợp đồng này.
(iv) Giả thiết nghiên cứu thứ tư: Quá trình áp dụng quy định pháp luật về
HĐDV vào trong thực tiễn sẽ bộc lộ nhiều bất cập, nhiều quy định còn “vênh” so
với pháp luật các quốc gia, khu vực kinh tế khác trên thế giới. Do đó, pháp luật về
HĐDV cần được làm sáng tỏ các điểm bất cập, hạn chế, thiếu vắng để hoàn thiện
12


trên cơ sở nhất định, phù hợp với tốc độ phát triển, vai trò của DV trong đời sống
kinh tế.
Kết quả dự định đạt được trong luận án là nêu rõ các điểm bất cập trong thực
tiễn áp dụng quy định pháp luật về HĐDV. Luận án cũng đưa ra lý do và cơ sở để
hoàn thiện các quy định pháp luật này. Đồng thời, luận án phải đưa ra các kiến nghị

gia tăng, phát triển của các hoạt động kinh tế. Các hoạt động chỉ cần mang tính
thường xuyên, phổ biến, có tính phục vụ đều được gắn với thuật ngữ DV. Thậm
chí, DV còn được sử dụng cho các quan hệ có đối tượng là tài sản như DV mua
bán hàng hóa, DV trao đổi hàng hóa, DV ăn uống… Hoạt động cầm đồ có bản chất
là các thỏa thuận vay tài sản với mức lãi suất cao và áp dụng biện pháp cầm cố tài
sản được sử dụng với cách gọi thông thường là DV cầm đồ.
Về mặt lý luận, hiện còn nhiều quan điểm khác nhau về DV bởi mỗi một
quan điểm được đưa ra ở góc nhìn khác nhau. DV là hoạt động kinh tế nên nhiều
nhà kinh tế học coi DV “là quá trình lao động, sinh ra và mất đi cùng thời điểm
với quá trình lao động đó, theo đó dịch vụ là một hàng hóa vô hình và có tính chất
nhất thời” [56, trang 78]. Các nhà kinh tế học cổ điển coi DV là hàng hóa được
trao đổi trên thị trường và tuân theo các quy luật của thị trường. Điển hình của
quan niệm này là quan niệm của Adam Smith về DV. Ông cho rằng: “Dịch vụ
không mang tính sản xuất (nonproductive) vì không để lại một sản phẩm vật chất
hữu hình, trong đó những tầng lớp được coi trọng trong xã hội như cha đạo, luật
sư, thầy thuốc, người viết thư thuê, nhạc công, ca sĩ opera, vũ công… thực sự
không sản sinh ra bất kỳ giá trị nào và không được hàm chứa trong một vật thể
xác định hay một loại mặt hàng có thể bán được và công việc của người này tàn
lụi đúng lúc nó được sinh ra” [99, trang 271]. Quan niệm của Adam Smith phản
ánh hai đặc điểm cơ bản của DV là sự vô hình (khác biệt với vật là tài sản hữu
hình) và sự “tàn lụi” DV cùng với thời điểm nó sinh ra. Tuy nhiên, đối với nền
kinh tế sản xuất hiện đại, kết quả DV được lưu giữ thông qua các hình thức nhất
định nên quan niệm của Adam Smith về thời điểm thực hiện và sử dụng DV không
phản ánh hết các trạng thái tồn tại kết quả DV. DV trong nền kinh tế hiện đại được
đánh giá “có tính hàng hóa nhiều hơn, vừa lưu trữ được và vận chuyển được đến
mọi nơi, vừa có thể sử dụng được trong một thời gian dài, thậm chí gần như vô
hạn” [56, trang 20]. Nhà kinh tế học Philip Kotler quan niệm DV dưới góc nhìn so
14



nhiên đã xuất hiện, tồn tại một số người thực hiện công việc mang tính chất thường
xuyên, liên tục như một số dòng họ chuyên thực hiện công việc may mặc (chính là
gia công tạo nên các bộ quần áo đáp ứng nhu cầu của chủ thể khác), thậm chí
15


nhiều người chuyên vận chuyển hàng hóa từ khu vực này sang khu vực khác và
nhận tiền công cho công việc này. Tuy nhiên, các công việc này chưa trở thành
DV. Trí tuệ con người phát triển ở một mức độ nhất định, sự gia tăng cả về chất và
lượng của công cụ sản xuất cộng với mỗi khu vực có lợi thế sản xuất sản phẩm
khác nhau dẫn đến việc dư thừa sản phẩm mình tạo ra nhưng lại thiếu các sản
phẩm khác trong khi nhu cầu của con người ngày càng cao. Chính vì vậy mà nền
kinh tế mang tính chất tự cung tự cấp không thể đáp ứng được nên buộc nền kinh
tế của loài người chuyển dần sang nền kinh tế sản xuất hàng hóa. Sự ra đời của nền
kinh tế sản xuất hàng hóa kéo theo ra đời của DV nên DV được coi là “con đẻ” của
nền kinh tế sản xuất này. Như vậy, kinh tế sản xuất hàng hóa và DV ra đời do hội
tụ đủ các yếu tố:
Một là, hình thành nhóm người chuyên thực hiện một công việc hoặc một
nhóm công việc nhất định. Xuất phát từ điều kiện phân công lao động xã hội của
nền kinh tế hàng hóa, lao động tiến dần đến “chuyên môn hóa giữa các cá nhân,
các nhóm người (tập thể) hoặc các vùng trong nền kinh tế để làm ra một hay một
số loại sản phẩn nhất định với số lượng lớn” [21, trang 576]. DV chỉ ra đời khi
xuất hiện các cá nhân hoặc nhóm cá nhân, hoặc một vùng trong nền kinh tế chuyên
thực hiện một hoặc một nhóm công việc nhất định. Nói một cách khác, cá nhân,
pháp nhân này thực hiện một công việc nhằm phục vụ cho nhu cầu của các cá
nhân, tổ chức khác trong xã hội khi họ có nhu cầu. Đối với cá nhân, thực hiện một
công việc nhất định hình thành nên nghề nghiệp của người đó còn đối với tập thể
có thể tạo nên các làng nghề, thậm chí có thể ra đời các pháp nhân như công ty,
xưởng sản xuất, nhà máy sản xuất…
Hai là, năng lực thực hiện công việc của mỗi cá nhân, mỗi tập thể, thậm chí

thực hiện công việc và dần dần hội tụ đầy đủ kỹ năng để thực hiện công việc có kết
quả tốt nhất mà không chủ thể nào cũng có thể làm được. Chủ thể này cũng thực
hiện công việc lặp đi lặp lại, liên tục đem lại lợi ích cho bất kỳ khách hàng nào có
nhu cầu. Tính tổ chức trong thực hiện DV được hiểu là công việc được thực hiện
theo một chu trình, các bước thực hiện nhất định. Chu trình, các bước thực hiện
công việc được bên cung ứng xây dựng trên cơ sở kiến thức được đào tạo, kinh
nghiệm được tích lũy cũng như sáng tạo của chính chủ thể này. Công việc được
thực hiện theo một chu trình nhất định đảm bảo kết quả DV thu được theo đúng dự
liệu ban đầu, đồng thời cũng hạn chế những sai lệch của kết quả thực hiện công
việc so với các cam kết đối với khách hàng. Chính tính chuyên môn hóa và tổ chức
làm nên tính độc lập giữa bên cung ứng với bên sử dụng trong quá trình thực hiện
công việc.
Ba là, DV là một loại hàng hóa luôn gắn liền với thị trường, chịu sự chi phối
của quy luật thị trường. DV ra đời trên cơ sở phân công lao động xã hội và trở
thành một loại hàng hóa đặc biệt được mua đi – bán lại trên thị trường. Dù trong
nền kinh tế tự nhiên hay trong nền kinh tế hàng hóa, với trí tuệ của mình, con
17


người đã biết bằng hành vi chính mình thực hiện công việc đáp ứng nhu cầu của
bản thân cũng như của các chủ thể khác. Tuy nhiên, DV chính là quá trình thực
hiện công việc với sự hội tụ những điều kiện nhất định. Nói một cách khác, công
việc đáp ứng lợi ích của con người gồm có hai nhóm chính: DV và các công việc
không mang tính DV (còn được gọi là công việc phi DV). Thuộc tính đặc trưng
của DV so với các công việc phi DV là chỉ ra đời trong kinh tế hàng hóa và luôn
gắn liền với thị trường hàng hóa. Trao đổi DV trên thị trường được xác định theo
hai giá trị là giá trị sử dụng3 và giá trị hàng hóa4. Các quy luật của kinh tế thị
trường như quy luật giá trị5, quy luật cung cầu6, quy luật cạnh tranh7, quy luật lưu
thông tiền tệ8 trực tiếp chi phối đến sự ra đời, lưu thông hàng hóa đặc biệt này trên
thị trường. Tuy nhiên, so với các hàng hóa hữu hình trên thị trường thì DV lại có

[21, trang 62-63].

7

Quy luật cạnh tranh: Bản chất cạnh tranh phản ánh xung đột lợi ích giữa các chủ thể trong nền kinh tế hàng
hóa. Khi phân công lao động xã hội làm cho chủ thể sản xuất không thể tách rời nhau, môi trường kinh doanh
lại hạn hẹp và mỗi chủ thể có năng lực kinh doanh khác nhau thì hệ quả tất yếu là giữa các chủ thể sản xuất phải
cạnh tranh với nhau đề giành khách hàng. Tính hai mặt của quy luật cạnh tranh chính là nó vừa thúc đẩy sản
xuất kinh doanh nhưng cũng có thể buộc chủ thể sản xuất sử dụng các Phương pháp cạnh tranh không lành
mạnh [21, trang 65].

8

Quy luật lưu thông tiền tệ: Tiền tệ được coi là chất bôi trơn cho các hoạt động kinh tế nói chung nên quy luật
lưu thông tiền tệ sẽ xác định số lượng tiền cần thiết cho lưu thông để đảm bảo trao đổi hàng hóa bình thường
[21, trang 67].

18



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status