ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
DƯƠNG THỊ NGỌC CHIẾN GIAO KẾT HỢP ĐỒNG DÂN SỰ
THEO BỘ LUẬT DÂN SỰ NĂM 2005
luËn v¨n th¹c sÜ luËt häc Hµ néi - 2010
Ha noi - 2010
MỤC LỤC
Trang
Trang phụ bìa Lời cam đoan Mục lục MỞ ĐẦU
1
Chương 1: KHÁI QUÁT CHUNG VỀ GIAO KẾT HỢP ĐỒNG
DÂN SỰ
6
1.1.
Khái niệm hợp đồng và khái niệm giao kết hợp đồng dân sự
theo pháp luật Việt Nam
6
1.1.1.
2.1.1.
Hình thức, nội dung của đề nghị
21
2.1.2.
Hiệu lực đề nghị
28
2.2.
Chấp nhận giao kết hợp đồng dân sự (hình thức, nội dung,
thời hạn )
35
2.2.1.
Hình thức, nội dung chấp nhận
35
2.2.2.
Hiệu lực chấp nhận, thời gian và địa điểm chấp nhận
40
Chương 3: GIAO KẾT HỢP ĐỒNG DÂN SỰ TRONG MỘT SỐ
TRƯỜNG HỢP ĐẶC BIỆT
54
3.1.
Giao kết hợp đồng theo mẫu
54
3.2.
Giao kết hợp đồng với hình thức bằng hành vi
58
3.3.
Giao kết hợp đồng trong bán đấu giá tài sản
60
Kiến nghị hoàn thiện pháp luật về giao kết hợp đồng dân sự
70
KẾT LUẬN
83
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
85
1
MỞ ĐẦU
1. Cơ sở khoa học và thực tiễn của đề tài
Bộ luật Dân sự đóng vai trò quan trọng trong hệ thống pháp luật Việt
Nam. Trước đây, người ta quan niệm luật dân sự chỉ điều chỉnh các quan hệ
sinh hoạt thường ngày của người dân. Ngày nay, Bộ luật Dân sự điều chỉnh
tất cả "các quan hệ dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh tế, thương mại, lao
động" (Điều 1, Bộ luật Dân sự năm 2005). Các chủ thể được luật dân sự điều
chỉnh cũng rất rộng: "cá nhân, pháp nhân, chủ thể khác" (Điều 1, Bộ luật Dân
sự năm 2005). Như vậy, mọi quan hệ được đặc trưng bởi tính bình đẳng, tự
nguyện, tự định đoạt giữa các chủ thể độc lập về nhân thân và tài sản đều
được coi là quan hệ pháp luật dân sự và được luật dân sự điều chỉnh.
Không chỉ có vậy, Bộ luật Dân sự năm 2005 còn được coi là cơ bản để
soạn thảo, xây dựng các luật khác. Một điều dễ thấy sự khẳng định lớn lao
của Bộ luật Dân sự năm 2005, đó là bằng việc ban hành Bộ luật Dân sự không
chỉ thay thế các quy định của Bộ luật Dân sự năm 1995 mà còn khẳng định
việc mất hiệu lực hoàn toàn của Pháp lệnh Hợp đồng kinh tế năm 1989. Điều
này cho thấy các nguyên tắc của Bộ luật Dân sự được coi là nguyên tắc cơ
hợp đồng dân sự của các bên trong quan hệ hợp đồng… Trong thực tiễn giao
kết hợp đồng dân sự ở Việt Nam, đang xuất hiện khá phổ biến việc các doanh
nghiệp sử dụng các "điều kiện thương mại chung" các "hợp đồng mẫu" (hợp
đồng được soạn trước và khó thay đổi được nội dung), nhất là các hợp đồng
được ký kết bởi các doanh nghiệp có vị trí độc quyền (điện, nước, ….). Thực
tế này đã đặt ra yêu cầu cần phải nghiên cứu xác định bản chất của các loại
giao kết hợp đồng dân sự này.
Từ thực tiễn, kinh nghiệm của các nước nói chung và Việt Nam nói
riêng cho thấy, việc hoàn thiện pháp luật về giao kết hợp đồng dân sự có ý
nghĩa to lớn đối với yêu cầu phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã 3
hội chủ nghĩa ở Việt Nam. Trong điều kiện như vậy, việc lựa chọn vấn đề:
"Giao kết hợp đồng dân sự theo Bộ luật Dân sự Việt Nam năm 2005" làm đề
tài nghiên cứu cho luận văn thạc sĩ luật học là rất có ý nghĩa cả về lý luận và
thực tiễn.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Đề tài nghiên cứu hợp đồng ở nước ta là vấn đề thu hút được sự quan
tâm của nhiều nhà khoa học thuộc các lĩnh vực khác nhau. Trong những năm
qua, giới nghiên cứu khoa học pháp lý đã có một số công trình, bài viết
nghiên cứu liên quan đến vấn đề này, như: "Pháp luật về hợp đồng" của TS
Nguyễn Mạnh Bách, Nxb Chính trị quốc gia, (1995); "Chế định hợp đồng
kinh tế - tồn tại hay không tồn tại" của GS.TS. Lê Hồng Hạnh, Tạp chí Luật
học số 3/2003; "Một số vấn đề liên quan đến việc sửa đổi pháp luật Việt Nam
về hợp đồng" và "Hoàn thiện pháp luật về biện pháp bảo đảm nhìn từ quyền
tự do hợp đồng" của TS. Nguyễn Am Hiểu, Tạp chí Nhà nước và pháp luật số
4/2004, Tạp chí Dân chủ và pháp luật số 7/2004; "Hoàn thiện chế định hợp
đồng", của TS Phan Chí Hiếu, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp số 4/2005; "Hoàn
thiện pháp luật về hợp đồng ở Việt Nam", của PGS.TS Dương Đăng Huệ, Tạp
nhận xét, đánh giá thực tiễn cũng như đánh giá xu hướng của việc quy định về
giao kết hợp đồng dân sự của các nước trên thế giới. Qua đó nêu lên những
kiến nghị có thể áp dụng cho Việt Nam trong việc hoàn thiện pháp luật đối
với lĩnh vực này đồng thời xây dựng cơ chế cho việc áp dụng chúng một cách
phù hợp với pháp luật và tập quán quốc tế.
4. Phương pháp nghiên cứu luận văn
Đề tài nghiên cứu vấn đề lý luận về giao kết hợp đồng dân sự theo Bộ
luật Dân sự Việt Nam năm 2005 dựa trên phương pháp luận của chủ nghĩa
duy vật biện chứng, chủ nghĩa duy vật lịch sử và các phương pháp nghiên cứu
khoa học cụ thể như: phương pháp hệ thống, tổng hợp, phân tích, diễn giải,
quy nạp, so sánh pháp luật và tham khảo ý kiến của các chuyên gia. 5
5. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội
dung của luận văn gồm 4 chương:
Chương 1: Khái quát chung về giao kết hợp đồng dân sự.
Chương 2: Trình tự giao kết hợp đồng dân sự theo Bộ luật Dân sự
năm 2005.
Chương 3: Giao kết hợp đồng dân sự trong một số trường hợp đặc biệt.
Chương 4: Thực tiễn áp dụng và kiến nghị hoàn thiện pháp luật giao
kết hợp đồng dân sự .
6
Chương 1
KHÁI QUÁT CHUNG VỀ GIAO KẾT HỢP ĐỒNG DÂN SỰ
Nguyễn có quan điểm tự do giao kết khế ước của cá nhân và pháp luật chỉ có
tác động điều chỉnh đến những khế ước mà nếu giao kết có thể xâm phạm
thuần phong mỹ tục hoặc trật tự xã hội phong kiến.
Tuy vậy, chế định hợp đồng của nước ta được thể hiện trong hai Bộ
luật lớn đó vẫn chưa hoàn thiện và rõ ràng. Nguyên nhân của tình trạng này là
do trong xã hội phong kiến các hiện tượng pháp lý chịu sự ảnh hưởng sâu sắc
của Nho giáo, vấn đề đạo đức trong các quan hệ giữa các cá nhân trong xã hội
được đề cao và nếu có tranh chấp xảy ra thì đã có sự can thiệp của người gia
trưởng, của tộc trưởng, của vua quan mà không cần đến pháp luật giải quyết,
pháp luật sinh ra chủ yếu điều chỉnh những vấn đề hình sự. Sau đó, trong thời
kỳ đất nước chịu sự đô hộ của thực dân Pháp, hai Bộ luật Dân sự là Bộ Dân
luật Bắc Kỳ được ban hành năm 1931 và Bộ Dân luật Trung kỳ được ban hành
năm 1938 đều có những điều khoản quy định về hợp đồng và phần lớn những
quy định này đều mang dấu ấn của Bộ luật Dân sự Pháp. Lý giải cho điều này có
thể được hiểu là nhà làm luật của chế độ thuộc Pháp đã không thể đối chiếu với
các bộ luật cổ của để đưa ra những điểm riêng có của Việt Nam về nghĩa vụ và
hợp đồng. Nhưng lý do chính là nước ta lúc đó đang là thuộc địa của Pháp, vì
vậy, nhất thể đều phải tuân theo pháp luật của "mẫu quốc" [2, tr. 11].
Khế ước theo Bộ luật Dân sự Pháp là một trong những căn cứ làm
phát sinh nghĩa vụ, vì lẽ đó, những vấn đề chung về khế ước được Dân luật
Bắc kỳ và Hoàng Việt Trung kỳ hộ luật quy định ngay tại chương I của thiên I
trong Quyển thứ tư. Khác với Quốc triều Hình luật và Bộ luật Gia Long, đến
thời kỷ này, bộ Dân luật Bắc kỳ và Hoàng Việt Trung kỳ hộ luật đã đưa ra
khái niệm pháp lý về khế ước, chủ yếu dựa trên Bộ luật Dân sự Pháp. Theo
đó, "khế ước là một hiệp ước của một hay nhiều người cam đoan với một hay
nhiều người khác để chuyển giao, để làm hay không làm cái gì. Hiệp ước do 8
một người hay nhiều người đồng ý với nhau để lập ra hay chuyển di, đổi lại
mua bán, thuê, vay, mượn, tặng, cho tài sản, làm một việc hoặc
không làm một việc, dịch vụ hoặc các thỏa thuận khác mà trong đó
một hoặc các bên nhằm đáp ứng nhu cầu sinh hoạt, tiêu dùng [30].
Tuy nhiên, chính việc liệt kê chi tiết này dẫn đến sự thiếu sót và dễ
"lạc hậu" của pháp luật trong khi các mối quan hệ xã hội ngày càng phát triển.
Do đó, để định nghĩa khái quát và toàn diện hơn, Bộ luật Dân sự (1995) quy
định: Hợp đồng dân sự là thỏa thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi và
chấm dứt các quyền và nghĩa vụ dân sự (Điều 934).
Luật Thương mại (1997) không đưa ra định nghĩa về hợp đồng thương
mại nhưng lại quy định về các loại hợp đồng được giao kết để thực hiện các
hoạt động thương mại theo quy định của Luật Thương mại. Vì vậy, các loại
hợp đồng này có thể gọi là hợp đồng trong hoạt động thương mại. Về bản
chất, theo Luật Thương mại, hợp đồng thương mại là thỏa thuận giữa các
thương nhân, hoặc một bên là thương nhân với một bên không phải là thương
nhân, về việc thực hiện hành vi thương mại nhằm mục đích kiếm lời.
Pháp luật hợp đồng của Việt Nam trước đây không đưa ra một khái
niệm chung về hợp đồng trong các văn bản pháp luật, mà có sự phân biệt giữa
hợp đồng dân sự, hợp đồng kinh tế, hợp đồng thương mại. Ba loại hợp đồng
này có đặc điểm khác biệt và được điều chỉnh bởi ba văn bản pháp luật: Bộ
luật Dân sự (1995), Luật Thương mại (1997), Pháp lệnh Hợp đồng kinh tế
(1989). Đây là nguyên nhân tạo ra những bất cập, hạn chế trong lĩnh vực pháp
luật hợp đồng của Việt Nam trước đây [10, tr. 23-28], [11, tr. 31], [12, tr. 56-57],
[13, tr. 14-16], [14, tr. 4-7], [15, tr. 1-6]. Để khắc phục hạn chế này, pháp luật
hợp đồng của Việt Nam đã được sửa đổi theo hướng không có sự phân biệt
một cách độc lập giữa hợp đồng dân sự, hợp đồng kinh tế và hợp đồng thương
mại. Sự khắc phục này được thể hiện thông qua việc ban hành Bộ luật Dân sự
(2005), Luật Thương mại (2005) (cả hai luật này đều có hiệu lực từ ngày
01/01/2006), theo hướng: Bộ luật Dân sự quy định chung về hợp đồng áp
dụng chung cho tất cả các loại hợp đồng. Các loại hợp đồng khác (còn được
11
vụ cho các bên thì giữa các bên, chủ thể của hợp đồng phải tồn tại các hành vi
pháp lý - giao kết hợp đồng. Thông thường sự thỏa thuận đó được thể hiện
bằng hành vi pháp lý của hai bên hoặc nhiều bên. Có thể hiểu thỏa thuận là
khởi nguồn cho hợp đồng và là vấn đề quan trọng nhất của hợp đồng mà
không thể thiếu. Một đề nghị về một đối tượng nhất định, mà chỉ có thể được
đáp ứng bởi một người khác, sẽ không làm phát sinh ra nghĩa vụ hay không
thể được thỏa mãn, nếu không được đáp ứng chấp thuận. Hành vi pháp lý đó
được hiểu và thể hiện thành hành động hoặc không hành động của mỗi bên
thông qua việc một bên đưa ra đề nghị giao kết hợp đồng còn bên kia đồng ý
với đề nghị đó, được gọi là chấp thuận/chấp nhận giao kết hợp đồng. Tuy
nhiên, hầu hết trong các quy định pháp luật của Việt Nam đều không đưa ra
khái niệm "giao kết", có lẽ các nhà làm luật cho rằng khái niệm này nằm
trong khái niệm hợp đồng và được ngầm hiểu là hợp đồng. Ngay trong Quốc
triều Hình luật, có một số quy định có liên quan đến khế ước cho thấy có tồn
tại yếu tố "thuận mua, vừa bán" [1, tr. 82], điều này có nghĩa là có sự đồng
thuận giao kết giữa các bên. Hoàng Việt Luật lệ cũng như giống như Quốc
triều hình luật không đưa ra khái niệm giao kết mà chỉ cụ thể vào các hành vi
cụ thể của mua bán, vay nợ, thuê Không có những quy định chung về
nguyên tắc giao kết và thực hiện khế ước.
Cho đến các Bộ Dân luật Bắc Kỳ 1931 và Trung kỳ 1938, do chịu đô
hộ của thực dân Pháp mà mang ảnh hưởng của Bộ luật Dân sự Pháp rất nhiều
và đều đã có những điều khoản quy định về hợp đồng. Theo đó, "khế ước là
hiệp ước của một hay nhiều người khác để chuyển giao, để lập ra hay chuyển
đi, đổi đi hay tiêu đi một quyền lợi thuộc về của cải hay về người" (Điều 664
Dân luật Bắc kỳ và Điều 680 Hoàng Việt Trung kỳ hộ luật). Khái niệm này về
cơ bản khá giống với khái niệm hợp đồng trong Bộ luật Dân sự hiện nay, trừ
đối tượng là "người" theo quan niệm phong kiến thuộc địa [1, tr. 83].
đổi cho phù hợp với sự thể hiện mong muốn của các bên.
Bộ luật Dân sự năm 2005 quy định riêng đối với từng thành tố thỏa
thuận và được hiểu như là một khái niệm cơ bản, cụ thể: 13
- Đề nghị giao kết hợp đồng, là việc thể hiện rõ ý định giao kết hợp
đồng và chịu sự ràng buộc về đề nghị này của bên đề nghị đối với bên đã
được xác định cụ thể (Điều 390). Định nghĩa về đề nghị của Bộ luật Dân sự
2005 không đề cập tới sự chấp nhận của bên được đề nghị, về vấn đề này, có
ý kiến bình luận về định nghĩa này rằng, nếu định nghĩa như vậy thì một vấn
đề rắc rối mang tính pháp lý cũng như thực tiễn có thể đặt ra - đó là dựa trên
tiêu chí hay cơ sở nào để có thể xác định ý định giao kết hợp đồng và chịu sự
ràng buộc về đề nghị giao kết hợp đồng của bên đề nghị.
Bộ luật Dân sự 2005 cho rằng, một đề nghị phải được đưa tới người
được xác định cụ thể (Điều 390, khoản 1). Ở đây có thể hiểu một đề xuất chỉ
có thể trở thành đề nghị khi đề xuất đó được đưa tới một hoặc một nhóm
người xác định cụ thể. Có tác giả Việt Nam cũng có cách hiểu như vậy đối
với Điều luật này, tuy nhiên tỏ ra đồng tình với nó [7, tr. 34]. Khi phân tích đề
nghị, có ý kiến khác hơn. Vũ Văn Mẫu khẳng định "đề ước có thể làm riêng
cho một người hay là làm chung cho công chúng" [18, tr. 93].
- Chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng, là sự trả lời của bên được đề
nghị đối với bên đề nghị về việc chấp nhận toàn bộ nội dung của đề nghị
(Điều 396, Bộ luật Dân sự 2005). Định nghĩa này được đưa ra có tính cách
ứng dụng cho các trường hợp cụ thể theo pháp luật Việt Nam, nên đã bao hàm
trong nó cả điều kiện của chấp nhận.
Có thể thấy định nghĩa về chấp nhận tại các Điều 396, Bộ luật Dân sự
2005 không nhắc tới các cách thức hay hình thức của chấp nhận, và dường
như chỉ cho rằng chấp nhận là "sự trả lời" mà trong khi đó cụm từ "sự trả lời"
không rõ nghĩa, đôi khi làm người ta tưởng lầm rằng sự chấp nhận phải bằng
Các nguyên tắc của Bộ luật Dân sự Việt Nam năm 2005 về giao kết
hợp đồng dân sự căn cứ vào bản chất có thể được phân thành hai nhóm như sau:
Nhóm thứ nhất, các nguyên tắc chung, cơ bản cho toàn bộ các vấn đề
của luật dân sự, bao gồm cả giao kết hợp đồng như được quy định từ Điều 4 15
đến Điều 13 của Bộ luật Dân sự là: (1) Nguyên tắc tự do, tự nguyện cam kết,
thỏa thuận, (2) Nguyên tắc bình đẳng, (3) Nguyên tắc thiện chí, trung thực,
(4) Nguyên tắc chịu trách nhiệm dân sự, (5) Nguyên tắc tôn trọng đạo đức,
truyền thống tốt đẹp, (6) Nguyên tắc tôn trọng, bảo vệ quyền dân sự, (7) Nguyên
tắc tôn trọng lợi ích của Nhà nước, lợi ích công cộng, quyền, lợi ích hợp pháp
của người khác, (8) Nguyên tắc tuân thủ pháp luật, (9) Nguyên tắc hòa giải.
Nhóm thứ hai, các nguyên tắc cụ thể được quy định cho giao kết hợp
đồng (Điều 384 Bộ luật Dân sự) (1) Tự do giao kết hợp đồng, nhưng không
được trái pháp luật và đạo đức xã hội, (2) Tự nguyện, bình đẳng, thiện chí,
hợp tác, trung thực và ngay thẳng.
1.2.2. Nguyên tắc cụ thể được quy định cho giao kết hợp đồng
1.2.2.1. Nguyên tắc tự do hợp đồng nhưng không được trái pháp
luật, đạo đức xã hội
Bộ luật Dân sự quy định cho các chủ thể được tự do giao kết hợp đồng
nhằm tạo điều kiện cho các chủ thể có thể thỏa mãn nhu cầu vật chất cũng như
tinh thần. Dựa trên nguyên tắc này, mọi cá nhân, tổ chức khi có đủ các điều kiện
tư cách chủ thể đều có thể tham gia giao kết bất kỳ một giao dịch/ hợp đồng dân
sự nào, nếu muốn. Tuy nhiên, hợp đồng sẽ chỉ có hiệu lực pháp luật, được pháp
luật công nhận và bảo vệ khi các bên giao kết hợp đồng tuân thủ nguyên tắc này.
Hay nói cách khác, khi giao kết hợp đồng các chủ thể phải thực hiện theo khuôn
khổ, giới hạn nhất định - giới hạn lợi ích của các cá nhân khác, lợi ích chung của
xã hội và trật tự công cộng. Nếu để các bên tự do vô hạn, thì hợp đồng dân sự sẽ
trở thành phương tiện để kẻ giàu bóc lột người nghèo và sẽ là nguy cơ tiêu cực
hợp với quy định của pháp luật, Bộ luật Dân sự (2005) đã khẳng định cụ thể
các bên được quyền tự do, tự nguyện cam kết, thỏa thuận không vi phạm điều
cấm của pháp luật. Đây là những quy định, nguyên tắc thể hiện cao nhất việc
bảo đảm quyền tự do giao kết hợp đồng trong Bộ luật Dân sự.
Theo quy định này, các chủ thể có quyền tự quyết định việc đưa ra đề
nghị giao kết hợp đồng, nội dung đề nghị giao kết hợp đồng, thay đổi, rút lại
đề nghị giao kết hợp đồng, hủy bỏ giao kết hợp đồng theo quy định của pháp 17
luật. Nội dung này được Bộ luật Dân sự quy định tại các Điều 390, 392, 393.
Các bên cũng có quyền sửa đổi, chấp nhận hoặc không chấp nhận đề nghị
giao kết hợp đồng được đưa ra bởi bên kia (Điều 395, 396 Bộ luật Dân sự).
Tuy nhiên, xuất phát từ yêu cầu bảo đảm trật tự công cộng và lợi ích chung
của xã hội, pháp luật quy định nguyên tắc tự do giao kết hợp đồng mà nội
dung không trái với các quy định của pháp luật. Điều này có ý nghĩa ngăn
ngừa việc giao kết hợp đồng mà đối tượng là các hàng hóa, dịch vụ bị pháp
luật cấm. Theo quy định của Điều 128 Bộ luật Dân sự, hợp đồng nhằm thực
hiện các đối tượng bị cấm sẽ bị vô hiệu (Điều 127, 128 Bộ luật Dân sự).
Trong trường hợp này, mọi người đều có quyền yêu cầu Tòa án tuyên bố hợp
đồng vô hiệu. Tuy nhiên, trong hoạt động thương mại, trừ trường hợp ngoại lệ
theo quy định tại Khoản 2 Điều 5 Nghị định số 59/2006/NĐ-CP quy định:
việc cung ứng hàng hóa, dịch vụ thuộc danh mục hàng hóa, dịch vụ cấm kinh
doanh trong trường hợp cụ thể phải được Thủ tướng Chính phủ cho phép.
Nội dung hợp đồng không trái với đạo đức xã hội, thuần phong mỹ tục
theo quy định tại Điều 128 Bộ luật Dân sự được hiểu là: những chuẩn mực
ứng xử chung giữa người với người trong đời sống xã hội, được cộng đồng
thừa nhận và tôn trọng. Với cách giải thích như Điều 128 Bộ luật Dân sự, nội
dung "đạo đức xã hội" được giải thích rất chung.
Theo pháp luật của Đức, các điều khoản có nội dung sau bị coi là trái
đồng không ai bị cưỡng ép hoặc bị những cản trở trái với ý chí của mình;
đồng thời thể hiện bản chất của quan hệ pháp luật dân sự. Quy luật giá trị đòi
hỏi các bên chủ thể khi tham gia các quan hệ trao đổi phải bình đẳng với
nhau; không ai được viện lý do khác biệt về hoàn cảnh kinh tế, thành phần xã
hội, dân tộc, giới tính hay tôn giáo… để tạo ra sự bất bình đẳng trong quan hệ
dân sự. Hơn nữa, ý chí tự nguyện của các bên chủ thể tham gia hợp đồng chỉ
được bảo đảm khi các bên bình đẳng với nhau trên mọi phương diện. Chính vì
vậy, pháp luật không thừa nhận những hợp đồng được giao kết thiếu sự bình
đẳng và ý chí tự nguyện của một trong các bên chủ thể. Tuy nhiên, trên thực
tế thì việc đánh giá một hợp đồng có được giao kết bảo đảm ý chí tự nguyện 19
của các bên hay chưa, trong một số trường hợp lại là một công việc hoàn toàn
không đơn giản và khá phức tạp bởi nhiều nguyên do chủ quan và khách quan
khác nhau.
Như chúng ta đã biết, ý chí tự nguyện là sự thống nhất giữa ý chí chủ
quan bên trong và sự bày tỏ ý chí ra bên ngoài của chủ thể. Chính vì vậy, sự
thống nhất ý chí của chủ thể giao kết hợp đồng với sự bày tỏ ý chí đó trong
nội dung hợp đồng mà chủ thể này đã giao kết chính là cơ sở quan trọng để
xác định một hợp đồng đã đảm bảo nguyên tắc tự nguyện hay chưa. Hay nói
cách khác, việc giao kết hợp đồng chỉ được coi là tự nguyện khi hình thức của
hợp đồng phản ánh một cách khách quan, trung thực mong muốn, nguyện
vọng của các bên chủ thể tham gia hợp đồng.
Do đó, theo quy định của pháp luật thì tất cả những hợp đồng được
giao kết do bị nhầm lẫn, lừa dối [9] hay bị đe dọa đều không đáp ứng được
nguyên tắc tự nguyện khi giao kết và do đó bị vô hiệu.
Với các thuật ngữ mang tính định tính như vậy rất khó xác định nếu
không được đưa vào hoàn cảnh cụ thể của từng hợp đồng dân sự. Theo
Deluxe Black's Law Ditionary thì thiện chí (good faith) là một tính từ trừu
Như đã phân tích ở Chương 1, giao kết hợp đồng dân sự có 2 thành tố
đó là: đề nghị và chấp nhận giao kết hợp đồng dân sự. Theo Bộ luật Dân sự
Việt Nam năm 2005 thì giao kết hợp đồng dân sự được quy định tại các Điều
390 đến Điều 404. Trên cơ sở trình tự giao kết hợp đồng các nhà làm luật đã
quy định lần lượt đối với từng vấn đề như: đề nghị giao kết hợp đồng, các vấn
đề liên quan đến đề nghị (thời điểm giao kết; thay đổi, rút lại đề nghị; hủy bỏ
đề nghị; chấm dứt đề nghị…); chấp nhận giao kết hợp đồng, các vấn đề liên
quan; thời điểm hợp đồng được giao kết.
2.1. ĐỀ NGHỊ GIAO KẾT HỢP ĐỒNG DÂN SỰ
Khi nghiên cứu về đề nghị, có tác giả gợi ý tới ba vấn đề pháp lý cơ
bản sau: (1) Thế nào là đề nghị; (2) Giá trị pháp lý của đề nghị; và (3) Thời
điểm đề nghị có hiệu lực [7, tr. 33]. Có thể hiểu trong khi tìm hiểu thế nào là
đề nghị thì ngoài việc xây dựng định nghĩa khái niệm đề nghị, còn phải bàn
tới hình thức của đề nghị và điều kiện cụ thể của nó. Giá trị pháp lý của đề
nghị và thời điểm có hiệu lực của đề nghị có thể gộp vào thành một vấn đề là
hiệu lực của đề nghị, bởi có thể hiểu nếu đề nghị có hiệu lực pháp lý thì kể từ
thời điểm nào phát sinh ra sự ràng buộc. Vậy dưới đây sẽ trình bày lần lượt
các vấn đề này.
2.1.1. Hình thức, nội dung của đề nghị
Hình thức của đề nghị được thể hiện dưới nhiều hình thức nhưng pháp
luật không quy định rõ ràng các hình thức thể hiện của đề nghị giao kết mà
mới chỉ quy định hình thức của hợp đồng là bằng miệng, bằng văn bản hoặc
bằng hành vi (khoản 1, Điều 401). Việc biểu lộ ý định giao kết hợp đồng phải