Nguyên tắc hai cấp xét xử trong tố tụng dân sự - Pdf 25


4
mục lục
Trang

Trang phụ bìa Lời cam đoan Mục lục Danh mục các từ viết tắt mở đầu
1

Ch-ơng 1: Những vấn đề lý luận về nguyên tắc hai
cấp xét xử trong pháp luật tố tụng dân sự
6
1.1.
Khái niệm và ý nghĩa của nguyên tắc hai cấp xét xử trong tố
tụng dân sự
6
1.1.1.


5
1.3.2.
Với nguyên tắc bảo đảm quyền bảo vệ của đ-ơng sự
24
1.3.3.
Với nguyên tắc trách nhiệm của cơ quan, ng-ời tiến hành tố tụng
25
1.3.4.
Với nguyên tắc cung cấp chứng cứ và chứng minh trong tố
tụng dân sự
25

Ch-ơng 2: Nội dung các quy định của pháp luật hiện
hành về nguyên tắc hai cấp xét xử trong
tố tụng dân sự
27
2.1.
Tòa án thực hiện chế độ hai cấp xét xử
27
2.1.1.
Cấp xét xử sơ thẩm
32
2.1.1.1.
Thẩm quyền sơ thẩm của Tòa án nhân dân
33
2.1.1.2.
Quyền hạn của Hội đồng xét xử sơ thẩm 43

2.1.1.3.

dân sự
65
3.1.1.
Khái quát thực tiễn thực hiện nguyên tắc hai cấp xét xử
trong tố tụng dân sự
65

6
3.1.2.
Nguyên nhân hạn chế trong việc thực hiện nguyên tắc hai
cấp xét xử trong tố tụng dân sự
79
3.2.
Một số kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả nguyên tắc hai
cấp xét xử trong tố tụng dân sự
81
3.2.1.
Kiến nghị về hoàn thiện pháp luật
84
3.2.1.1.
Với cấp xét xử sơ thẩm
84
3.2.1.2.
Với cấp xét xử phúc thẩm
85
3.2.2.
Kiến nghị về thực hiện pháp luật
87

Kết luận

1.Tính cấp thiết của đề tài
Xét xử vụ án dân sự là hoạt động nhà n-ớc đặc biệt và chuyên biệt của
Tòa án nhân dân để bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của xã hội, tổ chức
và cá nhân. Do vậy, yêu cầu xét xử vụ án dân sự (VADS) phải bảo đảm tính
đúng đắn, chính xác, đúng pháp luật và đúng bản chất của vụ việc đ-ợc giải
quyết. Song trong thực tế, xét xử VADS không phải bao giờ cũng đúng đắn
đem lại sự công bằng, bảo vệ đ-ợc các quyền và lợi ích bị xâm phạm.
Nguyên tắc hai cấp xét xử trong tố tụng dân sự (hay còn gọi là nguyên
tắc thực hiện chế độ hai cấp xét xử) là một trong những nguyên tắc cơ bản của
pháp luật trong tố tụng dân sự (TTDS), tố tụng hình sự và hành chính. Nhằm
đạt tới mục đích cao nhất là giải quyết đúng đắn các vụ án, bảo vệ đ-ợc các
quyền và lợi ích hợp pháp bị xâm phạm và pháp luật đ-ợc thi hành. Vic quy
nh hai cp xét x trong VADS là cơ chế bảo vệ quyền con ng-ời trong
TTDS. Cái quyền đó có đ-ợc bảo vệ hay không, phản ánh bản chất của Nhà
n-ớc, bản chất của pháp luật và con ng-ời trong xã hội đó. Việc xét xử mt
VADS theo hai cấp: Xét x ln u cp s thm (cp xét x th nht) và
đ-ợc tiếp tục đ-ợc xét xử ở cấp phúc thẩm (cấp thứ hai) nếu có kháng cáo,
kháng nghị, còn nếu không, bản án sơ thẩm có hiệu lực pháp luật và đ-ợc thi
hành sau khi hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Việc xét xử là hoạt động đặc thù của Tòa án, qua xét xử pháp luật
đ-ợc bảo vệ, quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân tổ chức đ-ợc đảm bảo.
Tuy nhiên, trong bối cảnh n-ớc ta chuyển từ nền kinh tế tập trung quan liêu,
bao cấp sang cơ chế kinh tế thị tr-ờng bên cạnh những tác động tích cực của
việc đem lại về sự tăng tr-ởng, phát triển v-ợt bực về kinh tế thì những tác
động tiêu cực, những mặt trái của xã hội cũng nảy sinh, những loại tội phạm,
tệ nạn xã hội gia tăng, những mâu thuẫn tranh chấp phát sinh trong xã hội

9
ngày càng nhiều và các vụ án dân sự Tòa án giải quyết cũng trở nên phức tạp.
Đánh giá đ-ợc vấn đề đó trong tình hình xã hội mới, Nghị quyết 08/NQ-TƯ

chức Tòa án các cấp" của PGS.TS Trần Văn Độ; "Quan niệm về hai cấp xét xử
trong tố tụng dân sự n-ớc ta" của TS. Tống Công C-ờng; "Thực hiện chế độ hai
cấp xét xử - cơ chế bảo vệ quyền con ng-ời trong tố tụng dân sự" của TS. Nguyễn
Quang Hiền; "Một số vấn đề về phiên tòa sơ thẩm" của ThS. Nguyễn Thị Thu
Hà; Luận văn thạc sĩ "Phiên tòa phúc thẩm dân sự theo quy định của Bộ luật tố
tụng dân sự Việt Nam" của Hoàng Thị Bích Hải. Đây là những công trình nghiên
cứu khái quát về các các góc độ về nguyên tắc hai cấp xét xử. Đặc biệt luận văn
thạc sĩ "Các cấp xét xử trong tố tụng dân sự của Việt Nam" và luận án "Phân cấp
thẩm quyền giải quyết tranh chấp dân sự trong hệ thống Tòa án ở Việt Nam
trong giai đoạn hiện nay" của TS. Lê Thị Hà là những công trình nghiên cứu
trực tiếp về các cấp xét xử trong tố tụng dân sự. Tuy nhiên, các công trình nghiên
cứu này ch-a nghiên cứu chúng d-ới góc độ của luật TTDS Việt Nam hiện hành.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu đề tài
Mục đích
Mục đích của việc nghiên cứu đề tài là làm rõ những vấn đề lý luận về
nguyên tắc hai cấp xét xử trong tố tụng dân sự, nội dung nguyên tắc này theo
quy định của pháp luật hiện hành, đề xuất những giải pháp nhằm nâng cao
hiệu quả thực hiện nguyên tắc này.
Nhiệm vụ
Để đạt đ-ợc mục đích trên, việc nghiên cứu tập trung vào những nhiệm
vụ sau:
- Nghiên cứu những vấn đề lý luận cơ bản về hai cấp xét xử của Tòa án
trong TTDS.
- Phân tích các quy định của pháp luật hiện hành về nguyên tắc hai cấp
xét xử trong TTDS.

11
- Khảo sát thực tiễn thực hiện nguyên tắc hai cấp xét xử trong TTDS
tại các Tòa án.
- Phát hiện những v-ớng mắc, bất cập của các quy định về nguyên tắc

chế của các quy định về nguyên tắc hai cấp xét xử và thực tiễn thực hiện, đồng
thời đã tìm ra các giải pháp cụ thể nhằm hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu
quả thực hiện nguyên tắc hai cấp xét xử.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung
của luận văn gồm 3 ch-ơng:
Ch-ơng 1: Những vấn đề lý luận về nguyên tắc hai cấp xét xử trong tố
tụng dân sự.
Ch-ơng 2: Nội dung các quy định của pháp luật hiện hành về nguyên
tắc hai cấp xét xử trong tố tụng dân sự.
Ch-ơng 3: Thực tiễn thực hiện và giải pháp hoàn thiện các quy định
của pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam về nguyên tắc hai cấp xét xử.
13
Ch-ơng 1
Những vấn đề lý luận về nguyên tắc hai cấp xét xử
trong pháp luật tố tụng dân sự

1.1. Khái niệm và ý nghĩa của nguyên tắc hai cấp xét xử
trong tố tụng dân sự
1.1.1. Khái niệm nguyên tắc hai cấp xét xử trong tố tụng dân sự
Bộ Luật tố tụng dân sự năm 2004 quy định 22 nguyên tắc trong hoạt

n-ớc do Tòa án tiến hành theo trình tự, thủ tục và các nguyên tắc nhất định
nhằm giải quyết khách quan, toàn diện và đầy đủ các vụ án dân sự, hình sự,
hành chính - bằng việc ra bản án nhân danh Nhà n-ớc hoặc ra quyết định pháp
luật. Thẩm quyền của việc xét xử là của Nhà n-ớc và Nhà n-ớc giao cho
TAND nhân danh mình thực hiện. Tòa án thực hiện chức năng chuyên biệt
của mình là xem xét, đánh giá và xét xử, qua đó đ-a ra những phán quyết
nhân danh Nhà n-ớc Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam để bảo vệ những
quyền và lợi ích của các chủ thể trong đó là quyền lợi của Nhà n-ớc, tổ chức
và công dân. Qua việc xét xử, Tòa án ra phán quyết đ-ợc thể hiện cụ thể bằng
một bản án hoặc quyết định có tính chất bắt buộc, có ảnh h-ởng rất lớn tới
quyền và lợi ích của các chủ thể tham gia tố tụng, đem lại hậu quả pháp lý về
quyền lợi của chủ thể. Việc xét xử VADS là một dạng hoạt động xét xử của
Tòa án tiến hành theo nguyên tắc, trình tự, thủ tục do pháp luật tố tụng dân sự
quy định nhằm giải quyết các vụ án dân sự bằng việc ra bản án, quyết định.
Các quan hệ đ-ợc Tòa án giải quyết trong VADS là các quan hệ về tài
sản và nhân thân, đây là những quan hệ phức tạp và đa dạng, cùng với đó khi
tham gia tố tụng các đ-ơng sự có nghĩa vụ chứng minh nên phải cung cấp các
chứng cứ chứng minh cho quyền, lợi ích hợp pháp của họ. Trong khi đó,
không phải bao giờ các đ-ơng sự cũng đều có đủ chứng cứ để chứng minh cho

15
quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Vì vậy, việc giải quyết nhiều VADS bị
kéo dài, đây là một bài toán đặt ra cho các nhà làm luật về ph-ơng h-ớng giải
quyết. Một trong những ph-ơng h-ớng đ-ợc đặt ra là phải phân cấp xét xử.
Việc quy định hoạt động xét xử qua nhiều cấp khác nhau (cấp sơ thẩm và cấp
phúc thẩm) nhằm đảm bảo sự thận trọng, đúng đắn trong việc ra các phán
quyết của Tòa án.
Nguyên tắc hai cấp xét xử trong TTDS là t- t-ởng chủ đạo, có tính bắt
buộc chung, thể hiện quan điểm có tính định h-ớng của Nhà n-ớc trong việc
tổ chức tố tụng để xét xử các VADS đ-ợc xét xử lần đầu ở cấp sơ thẩm (cấp

Thế nh-ng, Từ điển tiếng Việt của Viện Ngôn ngữ học lại cho rằng sơ
thẩm là "xét xử một vụ án với t- cách là Tòa án ở cấp xử thấp nhất" [66, tr. 869].
D-ới góc độ khoa học pháp lý, tác giả Nguyễn Duy Lãm trong Từ điển
giải thích thuật ngữ pháp lý thông dụng thì cho rằng: xét xử sơ thẩm là "xét xử
lần đầu, bản án và quyết định của Tòa án sơ thẩm sau khi tuyên án 15 ngày,
nếu không có kháng cáo và kháng nghị theo quy định của pháp luật thì sẽ có
hiệu lực pháp luật thi hành" [28, tr. 482].
Quan điểm khác thì, "sơ thẩm là việc xét xử vụ án ở Tòa án cấp tỉnh,
huyện mà bản án do các Tòa án này tuyên xử có thể bị kháng cáo, kháng nghị
theo trình tự phúc thẩm trong thời hạn luật định" [27, tr. 153].
Từ điển Giải thích thuật ngữ Luật học của tr-ờng Đại học Luật Hà Nội
thì cho rằng, xét xử sơ thẩm là:
Xét xử lần đầu để giải quyết tất cả những vấn đề liên quan
trong vụ án. Khi xét xử sơ thẩm, Tòa án xem xét và giải quyết mọi
vấn đề của vụ án bằng việc ra bản án và quyết định. Hội đồng xét xử
có Hội thẩm nhân dân tham gia. Trong thời hạn kháng cáo, kháng
nghị, bản án và quyết định sơ thẩm ch-a có hiệu lực pháp luật có thể
bị kháng cáo, kháng nghị theo trình tự phúc thẩm [61, tr. 220-221].

17
Các quan điểm trên, ít nhiều đều khẳng định những nội dung về bản
chất của thủ tục xét xử ở cấp sơ thẩm, song ch-a thật đầy đủ. Tuy nhiên, với
khái niệm của Từ điển giải thích thuật ngữ luật học - Tr-ờng Đại học Luật
Hà Nội thì hoạt động xét xử của cấp xét xử sơ thẩm đã cho thấy nội dung
bản chất của cấp xét xử này trong Tòa án, cũng nh- tính chất của nó tại
phiên tòa sơ thẩm.
Sơ thẩm là cấp xét xử có ý nghĩa quan trọng trong thủ tục tố tụng giải
quyết VADS. Nếu xét xử ở cấp thứ nhất đúng pháp luật, có căn cứ, thì vụ việc
sẽ không bị kháng cáo, kháng nghị, hạn chế đ-ợc việc xét xử kéo dài. Xét xử
sơ thẩm là xét xử lần đầu vụ án dân sự, do Tòa án cấp sơ thẩm đảm nhiệm.

là xét xử lại vụ án đ-ợc xét xử ở Tòa sơ thẩm mà bản án, quyết định bị kháng
cáo, kháng nghị. bản án, quyết định sơ thẩm.
Thứ hai, việc xét xử sơ thẩm là giải quyết các vấn đề của vụ án, để ra
quyết định quyền và nghĩa vụ của các đ-ơng sự trong vụ án. Trong khi đó,
mục đích của việc xét xử phúc thẩm là nhằm khắc phục, sửa chữa những sai
lầm có thể có trong những bản án, quyết định ch-a có hiệu lực pháp luật của
Tòa án cấp sơ thẩm, bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, cơ quan,
tổ chức và lợi ích Nhà n-ớc, lợi ích công cộng.
Thứ ba, hoạt động xét xử tại cấp sơ thẩm dựa trên cơ sở đơn khởi kiện
của nguyên đơn khi họ có căn cứ cho rằng quyền và lợi ích hợp pháp của mình
bị xâm phạm và yêu cầu Tòa án giải quyết. Hoạt động xét xử tại cấp phúc
thẩm dựa trên cơ sở kháng cáo, kháng nghị, khi ng-ời kháng cáo, kháng nghị
cho rằng việc xét xử ở cấp sơ thẩm không đúng, xâm phạm đến quyền và lợi
ích hợp pháp của đ-ơng sự. Vì vậy, nội dung kháng cáo, kháng nghị quy định
phạm vi xét xử của Tòa án cấp phúc thẩm. Tuy nhiên, phúc thẩm là việc xét
xử lại VADS mà Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử. Vì vậy Tòa án cấp phúc thẩm
không thể xét xử v-ợt ra ngoài phạm vi những vấn đề mà cấp sơ thẩm đã xem
xét và quyết định.

19
Việc giải quyết VADS theo trình tự, thủ tục TTDS là hoạt động áp
dụng pháp luật của các cơ quan tiến hành tố tụng, ng-ời tiến hành tố tụng. Để
đảm bảo hoạt động này có hiệu quả và đúng pháp luật, một yêu cầu tất yếu đặt
ra là các cơ quan tiến hành tố tụng, ng-ời tiến hành tố tụng và ng-ời tham gia
tố tụng phải hoạt động trong khuôn khổ các nguyên tắc của luật TTDS. Đó là
những quy định pháp luật cơ bản có tính bắt buộc chung, xác định ph-ơng
châm và định h-ớng cho toàn bộ quá trình tố tụng hay một số hoạt động tố
tụng nhất định, thể hiện bản chất của chế độ Nhà n-ớc, đặc tr-ng của TTDS,
đ-ợc quy định trong BLTTDS và các văn bản quy phạm pháp luật khác có liên
quan. Việc xét xử theo hai cấp trong TTDS là một vấn đề cơ bản của Luật

của TTDS là nhằm lập lại trật tự của quan hệ pháp luật có tranh chấp trên cơ
sở các nguyên tắc TTDS để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các chủ thể và
lợi ích của Nhà n-ớc. Nguyên tắc hai cấp xét xử chính là sự bảo đảm cho vấn
đề công bằng, dân chủ nói chung và trong việc xét xử VADS nói riêng, việc
quy định và thực hiện đúng nguyên tắc này trong TTDS có ý nghĩa về pháp lý
và chính trị xã hội.
1.1.2.1. ý nghĩa pháp lý
Nguyên tắc hai cấp xét xử đảm bảo cho việc xét xử của Tòa án đ-ợc
chính xác, đúng đắn. Việc quy định nguyên tắc là cơ sở pháp lý cho các đ-ơng
sự là ng-ời có quyền và lợi ích hợp pháp liên quan đến vụ án kháng cáo, Viện
kiểm sát kháng nghị bản án, quyết định sơ thẩm của Tòa án để xét xử lại ở cấp
phúc thẩm, giúp kịp thời sửa chữa sai lầm hoặc vi phạm pháp luật mà cấp sơ
thẩm mắc phải, nhờ đó mà chất l-ợng xét xử ti các cp xét x c nâng cao.
Việc quy định một VADS có thể đ-ợc xét xử ở hai cấp cũng nh- quy định về
việc bản án, quyết định sơ thẩm có thể bị Tòa án cấp phúc thẩm sửa, hủy sẽ
kịp thời sửa chữa đ-ợc những sai lầm hoặc các vi phạm pháp luật mà cấp sơ
thẩm đã mắc phải, góp phần nâng cao trách nhiệm của HĐXX sơ thẩm, giúp
họ có thái độ thận trọng và có trách nhiệm hơn tr-ớc khi đ-a ra phán quyết

21
của mình. Thông qua hoạt động xét xử phúc thẩm, Tòa án cấp phúc thẩm kịp
thời chỉ ra những sai lầm, thiếu sót mà Tòa án cấp sơ thẩm đã mắc phải, tự
mình sửa chữa những sai lầm, khắc phục những thiếu sót đó hay đề nghị Tòa
án cấp sơ thẩm sửa chữa những sai lầm của mình cũng chính là một hình thức
h-ớng dẫn áp dụng pháp luật có hiệu quả to lớn giữa Tòa án cấp phúc thẩm
với Tòa án cấp sơ thẩm. Nhờ đó mà chất l-ợng xét xử tại các Tòa án ngày
càng đ-ợc nâng cao.
Việc xét xử lại vụ án mà Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử sẽ giúp tìm ra
nguyên nhân dẫn đến những sai lầm hay những vi phạm pháp luật trong việc
áp dụng pháp luật của các cơ quan tiến hành tố tụng nói chung và Tòa án nói

phải xét xử đúng đắn thực tế khách quan về sự thật của vụ việc, giải quyết triệt
để các tranh chấp, áp dụng đúng pháp luật, đảm bảo các quyền và lợi ích hợp
pháp của công dân.
Hơn bất kỳ một dạng hoạt động nào của Nhà n-ớc, hoạt
động xét xử phản ánh trực tiếp và sâu sắc bản chất của Nhà n-ớc,
sai lầm của Tòa án trong việc giải quyết các vụ án chính là sai lầm
của Nhà n-ớc. Vì thế đòi hỏi xét xử phải chính xác, công minh, thể
hiện ý chí, nguyện vọng của nhân dân [29].
Đây cũng là một hình thức thực hiện có hiệu quả chức năng giám đốc
việc xét xử của Tòa án cấp trên đối với Tòa án cấp d-ới.
Việc quy định và thực hiện nguyên tắc hai cấp xét xử trong TTDS thể
hiện sự tôn trọng và đảm bảo thực hiện một cách có hiệu quả các quyền con
ng-ời trong lĩnh vực t- pháp, nhất là các quyền và lợi ích chính đáng, hợp
pháp, là một lĩnh vực mà từ x-a đến nay bất kỳ một quốc gia nào cũng phải
thừa nhận là vô cùng quan trọng của đời sống xã hội. Việc quy định và thực
hiện nguyên tắc hai cấp xét xử trong TTDS tạo điều kiện để các chủ thể tham
gia tố tụng có thể trực tiếp bảo vệ quyền và lợi ích của mình nhiều lần tại các
phiên tòa xét xử khác nhau. Đồng thời với việc đảm bảo quyền lợi của ng-ời

23
tham gia tố tụng, việc xét xử ở hai cấp cũng giúp cho họ nhận thức rõ trách
nhiệm của mình trong vụ án để có thái độ hợp tác tích cực với cơ quan nhà
n-ớc có thẩm quyền trong việc thực hiện các nghĩa vụ pháp lý của mình. Quy
định nguyên tắc hai cấp xét xử trong TTDS với nội dung cơ bản là một VADS
có thể đ-ợc xét xử và chỉ có thể xét xử ở hai cấp xét xử là cấp sơ thẩm và cấp
phúc thẩm, giúp tránh đ-ợc tình trạng vụ án đ-ợc (bị) xét ở quá nhiều cấp làm
cho quá trình tố tụng kéo dài, ảnh h-ởng tới hiệu lực của bản án, quyết định
nhất là những bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật.
- Về xã hội, sự công bằng, bình đẳng là một nguyên tắc cơ bản của pháp
luật Việt Nam. Mọi công dân đều bình đẳng tr-ớc pháp luật. Mọi cơ quan, tổ

án là cơ quan là cơ quan t- pháp, thực hiện chức năng xét xử của Nhà n-ớc.
Tòa án có nhiệm vụ bảo vệ pháp chế, chế độ xã hội chủ nghĩa và quyền làm chủ
của nhân dân; bảo vệ tài sản của Nhà n-ớc, của tập thể, tài sản, nhân phẩm của
công dân. Để có thể đảm bảo giải quyết đúng đắn một vụ án dân sự, nguyên
tắc cơ bản của hoạt động xét xử là Tòa án thực hiện chế độ hai cấp xét xử.
Bản chất chế độ n-ớc ta là bảo đảm bảo vệ quyền lợi chính đáng của
công dân, tạo điều kiện cho mọi ng-ời đều có quyền phát huy trí tuệ, tài năng
của mình. Nhà n-ớc không cho phép bất cứ ai và hoạt động của các cơ quan nhà
n-ớc, tổ chức nào đ-ợc xâm phạm tới những quyền lợi đó. Việc xét xử của
Tòa án cũng không nằm trong ngoại lệ, bằng hoạt động xét xử Tòa án phải
bảo vệ đ-ợc quyền, lợi ích hợp pháp của các chủ thể. Nguyên tắc hai cấp xét xử
chính là cơ chế bảo vệ quyền, lợi ích của các chủ thể đã đ-ợc pháp luật ghi nhận.
Thứ hai, xuất phát từ bản chất của hoạt động t- pháp mà Tòa án thực hiện.
Hoạt động t- pháp của Tòa án là hoạt động bảo vệ pháp luật, bảo vệ
công lý. Trong tiếng Anh, t- pháp đ-ợc gọi là "justice", nó vừa có nghĩa là t-
pháp, vừa có nghĩa là công lý. Nói đến t- pháp là nói đến công lý, là việc phân
xử và phán xét các tranh chấp trong nhân dân hợp với pháp luật và công lý.

25
Chính vì Tòa án là một cơ quan thực hiện hoạt động T- pháp - hoạt động nhân
danh công lý thì những phán quyết của Tòa án phải giải quyết đúng đắn vụ án.
Tuy vậy, không phải bao giờ, việc xét xử của Tòa án một lần đã đúng, đã đảm
bảo giải quyết đúng đắn vụ án, nó cần phải đ-ợc xem xét, kiểm tra lại ở một
Tòa án cấp trên. Xét xử hai cấp cũng chính là hoạt động kiểm tra, giám sát
hoạt động xét xử của Tòa án cấp d-ới, nhằm đảm bảo tính khách quan nhất
cho một phán quyết nhân danh công lý của Tòa án. Bản án, quyết định của
Tòa án là một văn bản kết thúc quá trình xét xử một vụ án dân sự, phản ánh
trình độ, năng lực của ng-ời Thẩm phán cũng nh- thái độ công tâm của họ
tr-ớc nhiệm vụ đ-ợc Nhà n-ớc giao phó. Với t- cách là một quyết định đem
lại cho các đ-ơng sự một hậu quả pháp lý, nếu bản án đúng đắn sẽ bảo vệ

quyền, lợi ích hợp pháp của đ-ơng sự và lợi ích của Nhà n-ớc.
Việc xét xử vụ án qua hai cấp phải đảm bảo điều kiện là vụ án ch-a có
hiệu lực, bị kháng cáo, kháng nghị trong thời hạn luật định. Việc xét xử qua
hai cấp: cấp thứ nhất là cấp sơ thẩm và cấp thứ hai là cấp phúc thẩm do Tòa án
cấp trên của Tòa án sơ thẩm thực hiện. Với cấp sơ thẩm, thời hạn để bản án có
hiệu lực pháp luật là trong thời hạn pháp luật quy định không có kháng cáo,
kháng nghị. Còn ở cấp phúc thẩm, bản án, quyết định là chung thẩm và có hiệu
lực pháp luật ngay. Dù là hai cấp xét xử, cấp sơ thẩm thực hiện chức năng là cấp
xét xử thứ nhất có vai trò quyết định trong việc chấm dứt giải quyết các tranh
chấp. Tòa án cấp phúc thẩm là cấp xét xử thứ hai đảm bảo cho việc giải quyết
vụ án luôn đúng đắn. Mục đích của xét xử hai cấp là nhằm h-ớng tới đảm bảo
sự thật khách quan của vụ án và các quyền, lợi ích của đ-ơng sự đ-ợc bảo vệ.
1.2.2. Cơ sở thực tiễn của nguyên tắc hai cấp xét xử trong tố tụng
dân sự
Thứ nhất, xuất phát chức năng, nhiệm vụ của Tòa án.
Tòa án nhân dân là cơ quan bảo vệ pháp luật, có chức năng, nhiệm vụ
xét xử các vụ án và giải quyết các việc khác để bảo vệ lợi ích của Nhà n-ớc,

27
bảo vệ các quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, cơ quan, tổ chức. Nguyên tắc
hai cấp xét xử là cơ sở thực hiện đúng đ-ợc chức năng, nhiệm vụ xét xử của
TAND. Khi các bên tranh chấp, khởi kiện ra Tòa án yêu cầu giải quyết, từ đó,
phát sinh VADS tại Tòa án. Vụ án dân sự đ-ợc giải quyết lần đầu tại phiên tòa
sơ thẩm, đây là cấp xét xử đầu tiên. Sau khi xét xử sơ thẩm, bản án, quyết định
của TAND có thể không đúng, không làm hài lòng các đ-ơng sự, Viện kiểm
sát dẫn đến kháng cáo hoặc kháng nghị của ng-ời có thẩm quyền. Để thực hiện
chức năng, nhiệm vụ của mình thì Tòa án phải xét xử lần hai tại cấp phúc thẩm.
Phúc thẩm là một cấp xét xử để thực hiện nguyên tắc hai cấp xét xử.
Tuy vậy, việc xét xử phúc thẩm chỉ đặt ra khi đ-ơng sự, ng-ời đại diện của
đ-ơng sự hoặc Viện kiểm sát không đồng ý với bản án, quyết định sơ thẩm

tiên tại Thông t- số 1459/HCTP của Bộ T- pháp ngày 19/81955: "Nguyên tắc
hai cấp xét xử là một trong những nguyên tắc tố tụng của nhân dân cần phải
đ-ợc đảm bảo". Và đến năm 1960 nguyên tắc hai cấp xét xử đ-ợc ghi nhận
chính thức trong Luật tổ chức TAND năm 1960: Theo Điều 9 Luật tổ chức
TAND 1960 quy định "Tòa án nhân nhân thực hành hai cấp xét xử". Đồng thời,
cũng tại Điều 9, tính chất của nguyên tắc hai cấp xét xử đ-ợc quy định cụ thể:
1. Đ-ơng sự có quyền chống bản án của Tòa án nhân dân xử
sơ thẩm lên Tòa án nhân dân một cấp, Viện kiểm sát nhân dân cùng
cấp và trên một cấp có quyền kháng nghị bản án hoặc quyết định sơ
thẩm của Tòa án nhân dân.
2. Nếu đ-ơng sự không chống án hoặc Viện kiểm sát không
kháng nghị trong thời hạn do pháp luật quy định thì bản án hoặc
quyết định sơ thẩm của Tòa án nhân dân địa ph-ơng sẽ có hiệu lực
pháp luật.
3.Bản án và quyết định phúc thẩm của các Tòa án nhân dân,
bản án và quyết định sơ thẩm của Tòa án nhân dân tối cao đều là
chung thẩm và có hiệu lực pháp luật [47].

Trích đoạn Cấp xét xử sơ thẩm Thẩm quyền sơ thẩm của Tòa án nhân dân Quyền hạn của Hội đồng xét xử sơ thẩm Hiệu lực của bản án, quyết định sơ thẩm Cấp xét xử phúc thẩm
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status