Quyền hiến bộ phận cơ thể của cá nhân theo quy định của Bộ Luật dân sự 2005 - Pdf 25

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT

LÊ HƢƠNG TRÀ

QUYỀN HIẾN BỘ PHẬN CƠ THỂ CỦA CÁ NHÂN THEO
QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT DÂN SỰ 2005
Chuyên ngành : Luật dân sự
Mã số : 60 38 30

TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SỸ LUẬT HỌC

HÀ NỘI - 2008


1

MỤC LỤC Trang bìa phụ

Lời cam đoan

Mục lục

Danh mục các ký hiệu và chữ viết tắt

Trang
PHẦN MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài: ……………………………………
1
2. Mục đích nghiên cứu: …………………………………………………………………
3
3. Đối tƣợng nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu: ………………………………
4
4. Tình hình nghiên cứu đề tài: ………………………………………………………
5
5. Phƣơng pháp nghiên cứu: ……………………………………………………………
7
6. Đóng góp mới về mặt khoa học của Luận văn …………………………….
7
7. Cơ cấu của luận văn: ……………………………………………………………………

1.3. Tiến trình phát triển những quy định của pháp luật Việt Nam về quyền hiến
bộ phận cơ thể của cá nhân ……………………………………….

28

2

1.3.1. Luật Bảo vệ sức khỏe nhân dân năm 1989 ……………………………….
29
1.3.2. Điều lệ khám bệnh, chữa bệnh và phục hồi chức năng ban hành kèm theo
Nghị định của Hội đồng Bộ trưởng số 23-HĐBT ngày 24 tháng 1 năm 1991
………………………………………………………………………… 30
1.3.3. Bộ luật dân sự năm 1995 …………………………………………………………
32
1.3.4. Bộ luật dân sự năm 2005 …………………………………………………………
32
1.3.5. Luật Hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác 2006
………………………………………………………………………………………………….

34
CHƢƠNG 2
CÁC YẾU TỐ CỦA QUYỀN HIẾN BỘ PHẬN CƠ THỂ
CỦA CÁ NHÂN 36
2.1. Chủ thể của quan hệ hiến bộ phận cơ thể ………………………………….

2.3.4.1. Điều kiện đối với cơ sở y tế lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người
70
2.3.4.2. Trình tự thủ tục cho phép cơ sở y tế hoạt động lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể
ngườ ………………………………………………………………………………

74
2.3.5. Các hành vi bị nghiêm cấm ……………………………………………………
76
2.3.6. Trách nhiệm pháp lý và xử lý vi phạm ……………………………………
80

3

CHƢƠNG 3
THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ QUYỀN HIẾN BỘ PHẬN CƠ
THỂ CỦA CÁ NHÂN VÀ HƢỚNG HOÀN THIỆN NHỮNG QUY ĐỊNH CỦA
PHÁP LUẬT VỀ QUYỀN HIẾN BỘ PHẬN CƠ THỂ CỦA CÁ NHÂN

82
3.1. Thực trạng pháp luật Việt Nam về quyền hiến bộ phận cơ thể của cá nhân
………………………………………………………………………………………
82
3.1.1. Tình hình ghép bộ phận cơ thể người và nhu cầu ghép bộ phận cơ thể người
tại Việt Nam …………………………………………………………………
82
3.1.2. Thực trạng pháp luật Việt Nam vể quyền hiến bộ phận cơ thể cùa cá nhân
………………………………………………………………………………………

4

PHẦN MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài

Theo xu huớng phát triển của thế giới, các nước liên kết với nhau trên
tất cả các lĩnh vực để phát triển đất nước ngày một hoàn thiện hơn. Hội nhập
kinh tế, quốc tế trên phạm vi khu vực và toàn cầu nhất là vấn đề gia nhập Tổ
chức thương mại thế giới đã giúp cho tất cả các nước khác nhau trên thế giới
có điều kiện tăng trưởng và phát triển. Sự liên kết đã tạo nên sự bền vững
trong tất cả các lĩnh vực trong xã hội về văn hóa, chính trị, kinh tế, giáo dục,
pháp luật, công nghệ sinh học, khoa học ngành y…khoa học ngành y đã thực
sự phát triển mạnh mẽ trong việc tìm tòi khám phá ra các phương pháp chữa
bệnh mới trên cơ thể con người, cứu sống rất nhiều bệnh nhân với chất lượng
cuộc sống rất tốt. Để các phương pháp chữa bệnh mới được thực hiện một
cách có hiệu quả trong cuộc sống cần có quy pháp pháp luật để điều chỉnh. Vì
vậy, đa số các nước phát triển trên thế giới đã ban hành pháp luật để điều
chỉnh quan hệ trong lĩnh vực khoa học ngành y, quy chế pháp lý càng chặt
chẽ, hoàn chỉnh, đúng đắn, kịp thời sẽ tạo nguồn lực quan trọng, góp phần
định hướng phát triển cho một công nghệ y sinh học của các nước trên thế
giới, đáp ứng yêu cầu phát triển của xã hội.

Việt Nam đã và đang từng bước hoàn thiện mình về kinh tế, pháp luật,
xã hội, văn hóa, y tế để đáp ứng nhu cầu phát triển của toàn nhân loại. Sau
thời kỳ kinh tế tập trung quan liêu, bao cấp Việt Nam đã chuyển sang nền
kinh tế thị trường vì vậy điều kiện kinh tế xã hội của đất nước ngày càng phát

nguyên tắc và những quy định này đã được cụ thể hóa trong Luật hiến, lấy,
ghép mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác năm 2006 nhằm điều chỉnh
các quan hệ phát sinh từ việc áp dụng những kỹ thuật y học tiến bộ này trong
đời sống xã hội. Pháp luật quy định chặt chẽ vấn đề này vừa phù hợp với đạo

6

đức, truyền thống, văn hóa, vừa đảm bảo quyền của cá nhân được Nhà nước
bảo hộ. Quyền hiến bộ phận cơ thể nguời của cá nhân là quyền nhân thân thể
hiện sự tự định đoạt của họ đối với các bộ phận trên cơ thể mình. Việc hiến bộ
phận cơ thể người được thực hiện một cách đúng đắn sẽ có ý nghĩa tiến bộ và
nhân đạo sâu sắc, góp phần vào sự phát triển của y học và khoa học vì con
người.

Việc hoàn thiện hệ thống pháp luật về vấn đề này là rất quan trọng để
đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của mỗi một cá nhân trong xã hội, đảm
bảo các điều luật được ban hành trong Bộ luật dân sự được thực thi có hiệu
quả cao. Tôi đã chọn đề tài “quyền hiến bộ phận cơ thể của cá nhân theo Bộ
luật dân sự 2005” để nghiên cứu, tìm hiểu giúp bạn đọc có thể hiểu hơn về
quyền được hiến bộ phận cơ thể của mỗi một cá nhân trong xã hội, thực trạng
hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người ở Việt Nam cũng như các quy định
của pháp luật Việt Nam về vấn đề này, góp phần hoàn thiện hơn nữa hệ thống
pháp luật Việt Nam trong hoạt động hiến, lấy, ghép Bộ phận cơ thể người.

2. Mục đích nghiên cứu của đề tài

Hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể đã được thực hiện thành công ở
nhiều nước trên thế giới từ rất lâu, đến nay đã rất phổ biến, đây là phương
pháp điều trị mang lại cuộc sống cho rất nhiều người bệnh nên có ý nghĩa
nhân đạo rất sâu sắc. Ở Việt Nam, nhu cầu được ghép là rất lớn và ngày càng

- Thực trạng pháp luật Việt Nam về quyền hiến bộ phận cơ thể;
- Hướng hoàn thiện các quy định của pháp luật về quyền hiến bộ phận
cơ thể.

Hiến, lấy, ghép bộ phận cơ thể là một lĩnh vực rất rộng vừa liên quan
đến y học vừa liên quan đến pháp luật. Tuy nhiên trong Luận văn này chỉ
nghiên cứu đến khía cạnh pháp lý về quyền hiến bộ phận cơ thể của cá nhân
theo quy định của pháp luật Việt Nam từ trước cho đến nay. Để các quy định

8

về hiến bộ phận cơ thể được thực thi có hiệu quả trong thực tế Luận văn đã
nghiên cứu, phân tích những hạn chế của các quy định pháp luật và đưa ra
một số giải pháp nhằm hoàn thiện hơn hệ thống pháp luật của Việt Nam về
quyền hiến bộ phận cơ thể của cá nhân.

4. Tình hình nghiên cứu đề tài

Hiến bộ phận cơ thể là một việc làm nhân đạo đã cứu sống rất nhiều
người bệnh. Nhận thức được tầm quan trọng của hoạt động hiến bộ phận cơ
thể pháp luật của một số nước trong khu vực và trên thế giới cũng đã quy định
vấn đề này thành Luật riêng và quy định cụ thể trong pháp luật chuyên ngành
như Pháp, Hoa kỳ, Nhật, Singapore, Trung Quốc Do đó đã có rất nhiều bài
viết, nhiều công trình nghiên cứu khoa học, nhiều cuộc hội thảo thảo luận về
vấn đề này.

Hiến bộ phận cơ thể là vấn đề bức thiết để chữa bệnh cho bệnh nhân
thoát khỏi hiểm nghèo, tuy nhiên ở Việt Nam đây là vấn đề mới có tính nhạy
cảm cao liên quan đến phong tục tập quán của người Á Đông nên các đề tài
nghiên cứu, các bài viết về vấn đề này còn rất ít. Trong ngành y học đã có

Ngoài ra còn có cuộc tọa đàm về Pháp lệnh hiến, lấy, ghép mô, bộ phận
cơ thể người và khám nghiệm tử thi do Nhà pháp luật Việt pháp tổ chức năm
2004.

Các bài báo, tạp chí, tọa đàm và khóa luận tốt nghiệp đã đề cập về vấn
đề này nhưng vào các thời điểm khác nhau trong khi tình hình thực tiễn và
pháp luật có nhiều thay đổi mang tính chất bước ngoặt nên chưa toàn diện và
chưa đầy đủ về mặt pháp lý, chưa đáp ứng được yêu cầu của thực tiễn đặt ra,
hơn nữa các bài viết trên không đi sâu phân tích quyền hiến bộ phận cơ thể
của cá nhân mà chỉ phân tích vấn đề này một cách tổng quát. Là điều luật mới
trong bộ luật dân sự nhưng nó đã đáp ứng nhu cầu cấp bách của xã hội cũng
chính vì vậy tác giả đã mạnh dạn nghiên cứu vấn đề này để quá trình thực

10

hiện điều luật được hoàn thiện hơn, đưa ra một số giải pháp giải quyết sự tồn
tại của pháp luật trong việc quy định về quyền hiến bộ phận cơ thể của cá
nhân.

5. Phương pháp nghiên cứu

Để để tài đạt hiệu quả cao trong thực tiễn, trong quá trình nghiên cứu
để tài đã sử dụng các phương pháp truyền thống như :
+ Phương pháp duy vật biện chứng
+ Phương pháp lịch sử
+ Phương pháp so sánh
+ Phương pháp phân tích tài liệu
+ Phương pháp tổng hợp, đánh giá
+ Phương pháp quy nạp
+ Phương pháp diễn dịch

Luận văn được hoàn thành dựa trên sự giúp đỡ nhiệt tình của Tiến sỹ Phùng
Trung Tập và đồng thời là kết quả quá trình nghiên cứu của bản thân. Qua
đây, tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến Tiến sỹ Phùng Trung tập đã giúp tôi
hoàn thành Luận văn này. CHƢƠNG 1

12

KHÁI QUÁT CHUNG VỀ QUYỀN HIẾN BỘ PHẬN CƠ THỂ
CỦA CÁ NHÂN

1.1. Quyền hiến bộ phận cơ thể của cá nhân ở một số nƣớc trên thế giới.

Từ nền văn minh cổ đại, ước mơ của con người thể hiện ở các huyền
thoại với mong muốn có thể gắn lại đầu, tay, chân….cho con người. Từ thế kỷ
XII đến thế kỷ XVI từ ngữ (greffe, graft) ghép xuất phát từ tiếng Hy Lạp,
greife là con dao sắc nhọn dùng để cấy ghép mô, cành tạo cây lai giống với
đoạn ghép (greffon, graft) và cây chủ mang hoặc nhận đoạn ghép (porte
greffe, implant, recipienti)
1
3
. Khi bước
sang thế kỷ XXI các nhà khoa học trên thế giới đã nhất trí nêu mười phát
minh lớn tiêu biểu trong thế kỷ XX trong đó có ghép tạng đó là: máy bay,
truyền hình, máy tính, năng lượng hạt nhân, laser, internet, du hành vũ trụ,
kháng sinh, cấu trúc DNA và ghép tạng.

Các thành tựu về kỹ thuật ghép mô, BPCT người trên thế giới đã trải qua
gần nửa thế kỷ thực hiện và đã có những bước tiến rất đáng kể. Vì thế, ngày
nay việc hiến, lấy, ghép mô, BPCT người đã trở nên phổ biến trên toàn thế
giới. Để tạo cơ sở pháp lý cho hoạt động hiến, lấy, ghép mô, BPCT người một
số nước trên thế giới đã có đạo luật điều chỉnh quan hệ trong việc hiến, lấy,
ghép mô, BPCT người như Pháp, Mỹ, Canada, Úc, Bỉ, Trung Quốc, Nhật
Bản, Singapore, Thái Lan…

+ Pháp luật hiến bộ phận cơ thể ở các nước Châu Âu.

Ở các nước Châu Âu, các quy định pháp luật về hiến, lấy, ghép mô,
BPCT người đã được triển khai thực hiện từ rất sớm, tạo điều kiện thuận lợi
cho ngành phẫu thuật ghép mô, BPCT người phát triển một cách mạnh mẽ
vào những thập kỷ gần đây như Pháp năm 1952, Vương Quốc Anh năm 1961,
Đan Mạch, Italia năm 1967, Na-Uy năm 1973, Thụy Điển năm 1975, Hy Lạp
năm 1983…các nước này đều quy định việc lấy mô, BPCT của người sống

2
Carpentier (1992), Transplantation d‟organes, Flammarion, Paris; J.A.Davidson (1998) “Kidney & Pancrcas
Transplantation”, Landes Bioscience – Austin Texas, USA
3
Lê Thế Trung, Phạm Mạnh Hùng (2002): “Xây dựng ngành ghép tạng – Một thành tựu mới của y học Việt
Nam”, Kỷ niệm 10 năm ghép thận 4/6/1992 – 4/6/2002 tạp chí thông tin y dược số 6/2002

“Mọi thỏa thuận được giao kết nhằm mục đích sử dụng cơ thể người, các

15

BPCT người hoặc sản phẩm từ cơ thể người như một tài sản đều vô hiệu;
nghiêm cấm trả thù lao cho người tự nguyện cho người khác tiến hành thí
nghiệm trên cơ thể của mình, lấy BPCT của mình hoặc thu thập sản phẩm từ
cơ thể mình”. Pháp luật còn quy định không ai được phép công bố bất kỳ
thông tin nào cho phép xác định người cho, người nhận BPCT người hoặc sản
phẩm từ cơ thể người. Người cho không được phép biết danh tính của người
nhận và ngược lại. Trong trường hợp cần thiết vì mục đích chữa bệnh, chỉ các
bác sỹ của người cho và người nhận mới được phép tiếp cận những thông tin
cho phép xác định danh tính của họ.

+ Pháp luật hiến bộ phận cơ thể ở các nước Châu Á

Tại các nước Châu Á, từ năm 1959 đến nay, nhiều nước như Thái Lan,
Nhật Bản, Philippin, Singapore, Malaysia, Indonesia…đều đã có luật quy
định về hiến, lấy, ghép mô, BPCT người. Luật hiến, lấy, ghép mô, BPCT của
Singgapore năm 2004, Luật về phẫu thuật ghép tạng của Nhật Bản năm 1997.
Việc ban hành các quy định về hiến, lấy, ghép mô, BPCT người sớm tạo hành
lang pháp lý cho ngành y học có thể tiến hành nghiên cứu để cứu sống người
bệnh và quyền của người hiến BPCT được bảo đảm một cách chính đáng.
Chính vì những lý do trên mà số bệnh nhân được ghép mô, BPCT người ở các
nước này ngày càng tăng lên nhanh chóng.

Luật về phẫu thuật ghép tạng của Nhật Bản quy định nghiêm cấm việc
mua bán nội tạng, hiến nội tạng phải nhằm mục đích ghép tạng phải tự
nguyện, nội tạng dùng được ghép phải dựa trên tinh thần nhân đạo, phải xem
xét trao đổi với người cần ghép nội tạng.

hạn 1 tháng. Nếu có nhu cầu gia hạn visa, người nhà bệnh nhân có thể đem
giấy giới thiệu của Bệnh viện và visa đến phòng Quản lý Xuất nhập cảnh ở
tỉnh có bệnh viện bệnh nhân đang điều trị để xin gia hạn.

* Vấn đề ngoại ngữ : Những bệnh viện lớn ở Trung Quốc thường có người
phiên dịch bằng tiếng Anh cho khách nước ngoài. Nhưng phần lớn y bác sĩ lại
nói tiếng bản địa. Nên nếu muốn thuận tiện hơn, bệnh nhân nên tìm người có

17

khả năng nói tiếng Trung giúp đỡ khi cần trao đổi. Họ sẽ truyền đạt chính xác
những thuật ngữ chuyên môn hơn.

* Vấn đề thời gian, kinh phí: Thời gian cho một ca ghép tạng thông thường
diễn ra trong một tháng. Tuy nhiên, nhiều khi lại tuỳ thuộc vào phần nội tạng
mà bệnh nhân cần có sẵn hay không. Nếu sau khi thử máu và thực hiện các
xét nghiệm khác, phần nội tạng bệnh nhân cần có sẵn trong “ngân hàng” nội
tạng, thì cuộc đại phẫu thuật có thể được tiến hành ngay. Nhưng nếu “ngân
hàng” không có sẵn, bệnh nhân sẽ phải chờ đợi. Nhưng sự chờ đợi cũng
không quá lâu, vì “nguồn” nội tạng của Trung Quốc nổi tiếng là rất dồi dào.
Chi phí cho một ca ghép tạng tùy thuộc vào từng bệnh viện. Nếu thực hiện ở
những bệnh viện lớn như Bắc Kinh, Thượng Hải giá sẽ cao hơn. Nhưng thông
thường sự chênh lệch không quá nhiều. Chi phí từ 20.000USD/ca trở lên.
Bệnh nhân có thể chọn các bệnh viện như Bệnh viện Quân đội, thị trấn Hổ
Môn, huyện Quảng Châu, tỉnh Quảng Đông; Bệnh viện Tứ Xuyên; Bệnh viện
Vũ Hán, tỉnh Quảng Đông; Bệnh viện Bắc Kinh; Bệnh viện Thượng Hải để
thực hiện phẫu thuật ghép tạng
4
.


1.2. Khái niệm quyền hiến bộ phận cơ thể của cá nhân
1.2.1. Khái niệm

Hiến BPCT là một khái niệm không mới đối với nhiều quốc gia trên thế
giới, nhiều nguời dân ở nhiều nước trên thế giới đã quen thuộc với khái niệm
này, nó không chỉ là khái niệm thuần túy trong y học mà còn là khái niệm
trong luật học và đã rất phổ biến trong đời sống nhân dân các nước. Trên thế
giới, số người có nhu cầu cấy, ghép BPCT để chữa bệnh là rất lớn, số người
hiến BPCT để chữa bệnh cho người khác hoặc vì mục đích nhận đạo hay vì
mục đích nghiên cứu khoa học, giảng dạy ngày càng tăng, vì thế khái niệm
này không xa lạ với nhiều người dân.

Thực tế, các nước phát triển trên thế giới đã thực hiện việc cấy, ghép
các BPCT từ rất lâu, kết quả đạt được rất khả thi và đã cứu sống rất nhiều
bệnh nhân nặng. Trong những năm gần đây, nền y học phát triến khá mạnh
nên việc hiến, cấy, ghép mô, BPCT đã được thực hiện tại Việt Nam với những
tiến trình rất thành công, tuy nhiên đối với người dân Việt Nam những năm

19

trước đây, đây là vấn đề xa lạ. Vì vậy, khái niệm quyền hiến BPCT là khái
niệm mới đối với Việt Nam. Tuy nhu cầu cấy, ghép BPCT người ở Việt Nam
là rất lớn nhưng để thực hiện được vấn đề này còn nhiều yếu tố ảnh hưởng
đến việc thực hiện nó như các quy định của pháp luật, yếu tố tâm linh, tín
ngưỡng, tôn giáo hay yếu tố đạo đức, phong tục, tập quán …của người Việt
Nam. Do nhu cầu của nhiều bệnh nhân diễn ra trong thực tế muốn cấy, ghép
BPCT người để cứu sống người bệnh nên việc hiến BPCT người và cấy, ghép
BPCT người đã trở nên phổ biến hơn trong thời gian gần đây. Quyền hiến
BPCT của cá nhân đã được quy định trong BLDS Việt Nam 2005 mang tính
nguyên tắc và khái niệm hiến BPCT đã thực sự hình thành khi có sự ra đời

khái niệm “BPCT người” chúng ta cần phải hiểu trước tiên là khái niệm về
Mô. Theo thuật ngữ pháp lý thì “Mô” là tập hợp các tế bào cùng một loại hay
nhiều loại khác nhau để thực hiện các chức năng nhất định của cơ thể người.
Tuy nhiên theo cách hiểu trong sinh học thì “Mô” là một hệ thống các tế bào
và chất gian bào có cùng nguồn gốc, cấu tạo và chức năng, hình thành trong
quá trình tiến hóa sinh học và xuất hiện ở một cơ thể đa bào do quá trình biệt
hóa. Cơ thể người là một hệ thống nhất, toàn vẹn, có thể chia thành nhiều mức
độ, tính chất khác nhau, với mức độ lớn nhất là cơ thể rồi đến hệ thống các cơ
quan, mô, tế bào và phân tử. Trong đó tế bào là đơn vị sống cơ bản về cấu tạo
và chức năng của mọi cơ thể sống. Tuy nhiên, cơ thể đa bào hiếm khi chỉ có
một tế bào đơn độc thực hiện một chức năng nào đó mà thường là một tập hợp
tế bào cùng nhau thực hiện đó chính là Mô.

Hiểu được khái niệm thế nào là Mô? Thế nào là BPCT người thì khái
niệm hiến BPCT cũng được hiểu dễ dàng hơn. “ Hiến BPCT người” là việc cá
nhân tự nguyện hiến BPCT của mình khi còn sống hoặc sau khi chết. Như
vậy, theo quy định trong BLDS Việt Nam năm 2005 thì “quyền hiến BPCT
người” là quyền nhân thân của cá nhân, thể hiện sự tự định đoạt của họ đối
với BPCT của mình. Quyền này không được quy định trong BLDS năm 1995,

21

đến năm 2005 mới được bổ sung vào BLDS 2005 do nhu cầu hiến, lấy, ghép
BPCT ngày càng tăng. Quy định này được bổ sung phù hợp với nhu cầu cấp
thiết của người dân, những người đang mắc bệnh nặng cần BPCT để cấy,
ghép hay các trường đại học, các cơ quan… cần BPCT để nghiên cứu, giảng
dạy hay các y, bác sỹ cần BPCT người để thực tập nâng cao tay nghề.

Quyền nhân thân là quyền dân sự của một chủ thể, về nguyền tắc không
thể chuyển giao cho các chủ thể khác, đó là quyền dân sự tuyệt đối, mọi người

cơ thể con người không thể sản sinh hoặc phát triển thêm bộ phận khác thay
thế bộ phận đã lấy như thận, phổi, tim…Khác với BPCT không tái sinh thì
BPCT tái sinh là những bộ phận mà sau khi lấy ra khỏi cơ thể vẫn sản sinh
hoặc phát triển thêm bộ phận khác thay thế. Vì BPCT không tái sinh khi hiến
cho người khác sẽ ảnh hưởng đến cơ thể của người hiến ít nhiều phải có thời
gian mới có thể hồi phục lại vì vậy điều kiện, thủ tục lấy BPCT không tái sinh
ở người sống được quy định chặt chẽ hơn. Ngoài những điều kiện, thủ tục
hiến BPCT chung như chỉ có những cơ sở y tế có đủ điều kiện theo quy định
của pháp luật mới có quyền lấy, ghép BPCT hay chỉ lấy mô, BPCT ở người
sống đã đăng ký hiến….thì ở BPCT không tái sinh chỉ được tiến hành lấy sau
khi có ý kiến đồng ý bằng văn bản của Hội đồng tư vấn lấy, ghép BPCT người
bao gồm những chuyên gia về y tế, pháp luật và tâm lý theo quy định của Bộ
trưởng Bộ y tế. Quy định như vậy là rất chặt chẽ đảm bảo khi BPCT của một
người được lấy ra khỏi cơ thể họ khi đã có sự xem xét, phân tích đầy đủ về
mặt y học, về tâm lý cũng như về pháp luật đảm bảo cho người hiến BPCT có
thể sinh sống một cách bình thường, khỏe mạnh sau khi hiến. Vì đây là luật
liên quan đến tính mạng của con người nên khi các nhà lập pháp ban hành
một điều luật phải chặt chẽ để việc hiến BPCT của cá nhân là một việc làm
vừa nhân đạo, vừa an toàn cho người hiến để người hiến có thể yên tâm khi
hiến BPCT của mình mà không ảnh hưởng đến cuộc sống sau này của họ. Khi
hiến BPCT cho một người khác vì mục đích chữa bệnh hoặc nghiên cứu khoa

23

học đã thể hiện sự nhân đạo của người hiến không vì lợi ích vật chất, chia sẽ
sự sống của mình cho người khác, sự nhân đạo cao cả đã được con người
hướng tới và pháp luật đề cao, tôn vinh người hiến BPCT đó. Hiến BPCT liên
quan đến sự sống của con người, hiến BPCT tái sinh hay không tái sinh đều ít
nhiều ảnh hưởng đến cuộc sống của người hiến nhưng vì sự tương thân, tương
ái, vì sự phát triển của khoa học mà người hiến đã hiến BPCT của mình mà


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status