Quyền tài sản - một loại tài sản theo pháp luật dân sự Việt Nam - Pdf 25


1
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
Sỹ Hồng Nam Quyền tài sản - một loại tài sản theo pháp luật dân sự Việt Nam Luận văn ThS: Luật dân sự
Hà Nội - 2007

2
Phần mở đầu


nh-ng lại thiếu những quy định cụ thể, hoặc quy định ở những văn bản khác
nhau dẫn đến cách hiểu không thống nhất về bản chất pháp lý của quyền tài
sản. Điều này ảnh h-ởng không nhỏ đến việc áp dụng thống nhất pháp luật.
Việc nghiên cứu để làm sáng tỏ các khái niệm, cơ sở lý luận, thực tiễn của quy
định về quyền tài sản trong BLDS là một việc làm cần thiết và có ý nghĩa
không chỉ trong nghiên cứu mà cả thực tiễn áp dụng.
Vì vậy, với mong muốn tìm hiểu những đặc tr-ng của quyền tài sản,
qua đó góp phần làm rõ bản chất pháp lý của quyền tài-sản một loại tài sản
theo pháp luật dân sự Việt Nam là một việc làm cần thiết.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Quyền tài sản là lĩnh vực rộng, đ-ợc nghiên cứu d-ới nhiều nhiều lĩnh
vực nh- kinh tế, tài chính ngân hàng Đã có nhiều tác giả nghiên cứu từng
đối t-ợng cụ thể của quyền tài sản nh-: quyền sử dụng đất, quyền tác giả, từng
đối t-ợng cụ thể của quyền sở hữu công nghiệp. D-ới góc độ cụ thể đã có một
số luận án, bài viết, công trình nghiên cứu.
- Sch Nghiên cứu về luật tài sản trong luật dân sự Việt Nam của tác
giả Nguyễn Ngọc Điện do Nhà xuất bản trẻ thành phố Hồ Chí Minh xuất bản
năm 1999.
- Bài viết Cần xây dựng lại khái niệm quyền tài sản trong luật dân sự
Việt Nam của tác giả Nguyễn Ngọc Điện, đăng trên Tạp chí Nghiên cứu lập
pháp số 4 năm 2005.
- Luận văn thạc sỹ luật học của tác giả Nguyễn Thị Anh Thơ, bảo vệ
thành công năm 2006 tại Tr-ờng Đi học Luật H Nội với đề ti Giấy tờ có
giá-một loại tài sản trong quan hệ pháp luật dân sự Việt Nam.
- Bi viết Quyền tài sản trong cải cách kinh tế: quan niệm, một bài học
n-ớc ngoài và kiến nghị ca tc gi Phm Duy Nghĩa, đăng trên Tp chí Nhà
n-ớc và pháp luật số 11 năm 2002.

4
- Bi viết Quyền sử dụng đất - một khái niệm pháp lý, một khái niệm

sở hữu tài sản đối với tài sản khác.
- Phân tích sơ l-ợc một số quyền tài sản trong BLDS năm 2005 và một
số văn bản pháp luật liên quan.
- Đánh giá quy định của pháp luật về quyền tài sản đề xuất kiến nghị
nhằm hoàn thiện pháp luật về quyền tài sản.
4. Phạm vi nghiên cứu
Tập trung phân tích khái niệm, bản chất pháp lý của quyền tài sản-một
loại tài sản theo quy định của BLDS năm 2005 và một số văn bản có liên
quan, trong đó có Luật đất đai năm 2003, Luật sở hữu trí tuệ năm 2006
Đồng thời, nghiên cứu thực tiễn áp dụng, từ đó phát hiện ra những bất cập và
ph-ơng h-ớng khắc phục.
5. Ph-ơng pháp nghiên cứu
Luận văn đ-ợc nghiên cứu trên cơ sở ph-ơng pháp luận của chủ nghĩa
duy vật biện chứng Mác-Lê nin để làm sáng tỏ các vấn đề pháp lý trong mối
liên hệ với các vấn đề kinh tế, xã hội. Ngoài ra, trong quá trình nghiên cứu tác
giả sử dụng các ph-ơng pháp nghiên cứu khoa học khác nh-; so sánh pháp
luật, lịch sử, lôgic, hệ thống, phân tích, tổng hợp
6. Những điểm mới của luận văn
Quá trình nghiên cứu pháp luật của Việt Nam, thực tiễn áp dụng và so
sánh pháp luật về quyền tài sản ở một số n-ớc có luật tài sản phát triển, luận
văn có một số điểm mới nh- sau:
- Luận văn phân tích một cách khoa học hệ thống khái niệm về quyền
tài sản-một loại tài sản theo pháp luật dân sự Việt Nam.
- Luận văn so sánh những quy định của pháp luật một số n-ớc nhằm
mục đích làm rõ bản chất pháp lý của quyền tài sản với t- cách là một loại tài
sản theo pháp luật dân sự Việt Nam.

6
- Luận văn phân tích, đánh giá thực trạng các quy định pháp luật hiện
hành về quyền tài sản và thực tiễn áp dụng.

Tài sản là chế định nền tảng của xã hội, là đối t-ợng nghiên cứu của
nhiều ngành khoa học nh- kinh tế, tài chính ngân hàng và khoa học pháp lý
trong đó có luật dân sự. Do mục đích và đặc thù của từng ngành khoa học
cũng nh- cách tiếp cận khác nhau, nên nhận thức về tài sản có sự khác nhau.
Trong đời sống, khi nói tới tài sản thông th-ờng ng-ời ta th-ờng hay
liên t-ởng đến tài sản là những vật chất hữu hình nh- ô tô, nhà cửa , những
tài sản mà con ng-ời có thể nhận biết đ-ợc thông qua những giác quan.

8
Ngày nay, cùng với sự phát triển của khoa học, ứng dụng của phát minh
sáng chế vào đời sống ngày càng rộng rãi. Những phát minh, sáng chế là sản
phẩm sáng tạo của con ng-ời. Sự ứng dụng này góp phần tăng năng suất lao
động, tạo ra của cải vật chất cho xã hội hoặc đáp ứng nhu cầu về tinh thần.
Ngoài ra, nó còn góp phần tạo ra những loại tài sản mới trong xã hội.
Những sáng tạo đó mặc dù không tồn tại d-ới dạng vật chất cụ thể,
nh-ng nó là hoạt động sáng tạo của con ng-ời, đ-ợc đ-ợc vật chất hoá thông
qua những sản phẩm là những vật chất cụ thể, đó là những quyền tài sản
đ-ợc pháp luật bảo vệ. Ngày nay, những sản phẩm hầu hết đều chứa đựng
trong đó hàm l-ợng trí tuệ của con ng-ời. Nhãn hiệu hàng hoá, uy tín,
th-ơng hiệu đã trở thành những thế mạnh của các doanh nghiệp trên thị
tr-ờng. Nh- vậy, nếu quan niệm tài sản tồn tại d-ới dạng vật chất cụ thể sẽ
không bao hàm hết đ-ợc những tài sản vô hình. Giá trị tài sản vô hình ngày
càng đ-ợc khẳng định.
D-ới góc độ khoa học pháp lý khi đ-a ra một khái niệm, chúng ta
không thể không xem xét khái niệm đó trong các tr-ờng phái, hệ thống pháp
luật, của những quốc gia có hệ thống pháp luật phát triển. Để làm rõ khái
niệm này, chúng ta đi vào nghiên cứu khái niệm tài sản trong pháp luật dân sự
của một số n-ớc trên thế giới.
Về tài sản trên thế giới có rất nhiều học thuyết nh-; học thuyết chiếm
hữu đầu tiên, học thuyết giá trị lao động, học thuyết tự do Tuy nhiên,

sự khác biệt căn bản giữa sản nghiệp và tài sản trong luật dân sự. Sở dĩ có sự
khác biệt này là do mục đích và chế độ trách nhiệm của chủ sở hữu. Khi nói
đến sản nghiệp là ng-ời ta nói đến lĩnh vực kinh doanh th-ơng mại có phạm vi
hẹp còn tài sản trong dân sự là khái niệm chung.
BLDS của Pháp năm 1804, bộ luật không chỉ có hiệu lực trong n-ớc
Pháp mà những t- t-ởng pháp lý của nó còn ảnh h-ởng tới rất nhiều n-ớc trên

10
thế giới trong đó có n-ớc ta, là sự pháp điển hoá đến chuẩn mực những quy
định của luật La Mã cổ đại, mặc dù không đ-a ra định nghĩa cụ thể nào về tài
sản. Điều 516 BLDS Pháp tài sản bao gồm Tất c ti sn đều l động sn v
bất động sn {13 tr 162}. Trong đó bất động sản đ-ợc phân chia thành bất
động sản do tính chất, bất động sản do mục đích sử dụng, bất động sản do đối
t-ợng gắn liền với nó; động sản đ-ợc chia thành động sản do tính chất và động
sản do luật định.
BLDS Liên bang Nga, Điều 128 quy định; các đối t-ợng của luật dân sự
bao gồm toàn bộ các vật, kể cả tiền và các giấy tờ trị giá bằng tiền, các tài sản
khác trong đó có quyền tài sản, công việc dịch vụ, thông tin, kết quả hoạt
động trí óc, kể cả quyền sở hữu trí tuệ và các tài sản vô hình. Nh- vậy, đối
t-ợng điều chỉnh của luật dân sự Liên bang Nga bao gồm hai nhóm quan hệ là
quan hệ nhân thân và quan hệ tài sản, trong đó liệt kê các loại tài sản.
Theo quy định tại Điều 899 B LDS Québec Canada; tài sản, hoặc hữu
hình hoặc vô hình, chia đ-ợc thành động sản và bất động sản. Theo quy
định này, thì tài sản bao gồm tài sản vô hình hoặc tài sản hữu hình, tài sản
là động sản và tài sản là bất động sản. Ngoài ra, tài sản còn đ-ợc phân chia
tài sản thành bất động sản hữu hình, bất động sản vô hình; động sản hữu
hình, động sản vô hình.
Qua nghiên cứu chế định tài sản trong luật dân sự của một số n-ớc, điểm
dễ nhận thấy, là hầu hết pháp luật của những n-ớc này đều không có quy định
nào định nghĩa về tài sản. ở những n-ớc theo hệ thống pháp luật Châu Âu lục

giấy tờ có giá phải đ-ợc lập theo hình thức, trình tự nhất định; nội dung thể
hiện trên giấy tờ có giá thể hiện quyền tài sản, giá trị quyền tài sản và đ-ợc
pháp luật bảo vệ; giấy tờ có giá có tính thanh khoản và là công cụ chuyển
nh-ợng với điều kiện chuyển nh-ợng toàn bộ một lần.
Tiền và giấy tờ có giá đ-ợc nghiên cứu trong nhiều ngành khoa học
khác nhau nh-; kinh tế chính trị, tài chính ngân hàng Tiền có ba chức năng

12
chính là; công cụ thanh toán, công cụ tích lũy và đặc biệt là công cụ để định
giá các loại tài sản. Tiền là một loại tài sản nh-ng so với tài sản là vật, tiền có
tính chất đặc thù đó là không thể khai thác công dụng của tờ tiền, đồng xu
{20 tr 39}. Việc khai thác tiền và giấy tờ có giá thông qua các hành vi đặc thù
mà bản chất là định đoạt.
Điều 163 BLDS năm 2005 tài sản bao gồm vật, tiền, giấy tờ có giá,
quyền tài sản. Việc liệt kê này, về cơ bản đã bao chùm hết các loại tài sản.
Tuy nhiên, nếu nghiên cứu cụ thể từng loại tài sản so sánh giữa luật dân sự với
các ngành luật khác nh- luật tài chính, ngân hàng thì việc liệt kê này còn thiếu
một loại đó là ngoại tệ. Nh-ng tiếc rằng, BLDS năm 2005 không quy định
ngoại tệ là một loại tài sản độc lập. Ngoại tệ, nếu nghiên cứu d-ới góc độ là
của Luật tài chính ngân hàng, thì ngoại tệ có thể xếp vào loại tài sản là tiền.
Nh-ng tiếp cận ngoại tệ d-ới góc độ của luật dân sự thì không thể xếp ngoại tệ
vào loại tài sản là tiền. Ngoại tệ là tài sản thì không thể phủ nhận, nh-ng
không thể coi ngoại tệ là tiền bởi các lý do; ngoại tệ không bao giờ là công cụ
thanh toán đa năng (nh- nội tệ), mà ngoại tệ phải đ-ợc coi là một loại tài sản
đặc biệt, thuộc đối t-ợng hạn chế l-u thông. Chỉ những chủ thể đặc biệt nh-
các cá nhân, tổ chức kinh tế, tổ chức tín dụng với những chức năng hoạt động
riêng mới đ-ợc phép xác lập giao dịch liên quan đến ngoại tệ. Ngoại tệ, tuyệt
nhiên không thể coi là vật vì ta không thể khai thác công dụng hữu ích của
ngay chính tờ ngoại tệ. Ngoại tệ không thể coi là giấy tờ có giá hay quyền tài
sản, bởi lẽ ta không thể xác định ai là chủ thể có nghĩa vụ. Nh- vậy, nếu ngoại

lý một trong những tiêu chí phổ biến đ-ợc pháp luật dân sự thành văn của rất
nhiều n-ớc áp dụng. Nếu dựa vào tiêu chí này ng-ời ta có thể phân loại tài sản
là vật thành nhiều loại nh-: vật tiêu hao, vật không tiêu hao; vật chia đ-ợc, vật
không chia đ-ợc; vật cùng loại, vật đặc định; vật chính, vật phụ Nh-ng có lẽ
phổ biến và có ý nghĩa nhất đó là cách phân loại tài sản thành động sản và bất
động sản. Cách phân loại này ảnh h-ởng đến pháp luật của các n-ớc trong hệ

14
thống pháp luật Châu Âu lục địa mà tiêu biểu nhất là BLDS Pháp năm 1804 và
BLDS Đức năm 1900.
Mặc dù có những điểm riêng biệt, nh-ng hầu hết các n-ớc theo hệ
thống pháp luật Châu Âu lục địa đều phân chia bất động sản thành những loại
chính nh-:
- Loại thứ nhất bao gồm những vật do bản chất tự nhiên mà không thể
di dời trong không gian nh-: đất đai, sông, hồ, nhà cửa và những công trình
kiến trúc gắn với những đối t-ợng trên.
- Loại thứ hai là bất động sản do pháp luật quy định mặc dù xét về bản
chất thì những tài sản này có thể di dời đ-ợc, nh-ng vẫn đ-ợc xem là bất động
sản vì sự hiện diện của tài sản này làm tăng thêm giá trị của bất động sản. Ví
dụ những trang thiết bị gắn liền với nhà x-ởng, nhà ở khi xem xét trong mối
quan hệ tổng thể với bất động sản là nhà ở, nhà x-ởng thì chúng lại đ-ợc xem
là bất động sản.
- Loại thứ ba là các quyền đối với bất động sản, đó là những quyền gắn
với đất đai nh- quyền sử dụng bất động sản liền kề, quyền địa dịch, quyền thế
chấp những tài sản là bất động sản.
Đối với tài sản là động sản hầu hết luật dân sự các n-ớc dùng ph-ơng
pháp loại trừ những tài sản không phải là bất động sản thì mặc nhiên là động
sản.
ở n-ớc ta, tr-ớc khi ban hành BLDS năm 1995, trong hệ thống pháp
luật không sử dụng khái niệm bất động sản và động sản. Chỉ có một số văn

loại tài sản thành tài sản hữu hình và tài sản vô hình.
Trong luật dân sự, nếu dựa vào những đặc tính của tài sản tài sản có thể
phân chia thành tài sản hữu hành và tài sản vô hình.

16
- Tài sản hữu hình là những vật có thực, tồn tại hiện hữu trong đời sống
mà con ng-ời có thể nhận biết thông qua các giác quan. Ví dụ nh- nhà cửa, ô
tô, xe máy là những tài sản hữu hình.
- Tài sản vô hình là những tài sản không tồn tại d-ới những dạng vật
chất cụ thể, không thể nhận biết đ-ợc bằng các giác quan (nh- cầm, nắm, sờ
mó ). Con ng-ời nhận biết tài sản này thông qua ý niệm, khái niệm, mối
quan hệ giữa ng-ời có quyền với ng-ời có nghĩa vụ hoặc ng-ời thứ ba. Ví dụ
nh- quyền sở hữu trí tuệ là một loại tài sản vô hình
c. Tài sản cấm l-u thông, tài sản hạn chế l-u thông, tài sản tự do
l-u thông
Nếu căn cứ vào chế độ pháp lý cũng nh- vai trò của tài sản đó trong xã
hội tài sản đ-ợc chia thành tài sản cấm l-u thông, tài sản hạn chế l-u thông và
tài sản tự do l-u thông.
- Tài sản cấm l-u thông là những tài sản mà việc l-u thông ảnh h-ởng
đến lợi ích của Nhà n-ớc, của xã hội, vì vậy pháp luật quy định cấm l-u
thông. Ví dụ, ma tuý, vũ khí là một loại tài sản cấm việc l-u.
- Tài sản hạn chế l-u thông là những loại tài sản mà việc cho phép tự do
l-u thông có thể ảnh h-ởng đến lợi ích của Nhà n-ớc, của xã hội, vì vậy pháp
luật quy định hạn chế l-u thông loại tài sản này. Ví dụ ngoại tệ là tài sản bị
hạn chế l-u thông, chỉ những chủ thể với những điều kiện nhất định mới đ-ợc
phép tham gia các giao dịch dân sự liên quan đến ngoại tệ.
- Tài sản tự do l-u thông là những loại tài sản mà việc l-u thông không
ảnh h-ởng đến lợi ích của Nhà n-ớc, của xã hội. Vì vậy, Nhà n-ớc không cấm
và không hạn chế l-u thông các loại tài sản này. Ví dụ nh- những mặt hàng
tiêu dùng nh- l-ơng thực, thực phẩm, quần áo

định cho các chủ thể là nội dung của năng lực pháp luật chủ thể, còn quyền
chủ quan là quyền dân sự của chủ thể đ-ợc thể hiện trong quan hệ dân sự
cụ thể đã xác lập.

18
ở n-ớc ta, trong khoa học pháp lý, khái niệm quyền tài sản là một
khái niệm mới, vì vậy có rất nhiều quan điểm và cách hiểu khác nhau.
Quyền tài sản theo quy định tại Điều 181 BLDS năm 2005 có gì khác so với
quyền tài sản của một số n-ớc? Để làm rõ khái niệm quyền tài sản trong
BLDS năm 2005 cần phân tích khái niệm quyền tài sản trong luật dân sự
của một số n-ớc.
Khi nghiên cứu về chế định này, cần xác định mối quan hệ giữa Vật và
Quyền. Chúng ta có thể tự đặt câu hỏi liệu có mối quan hệ nào giữa vật và và
quyền cần đ-ợc làm rõ? Vật và quyền có mối liên hệ với nhau nh- thế nào?
Thông th-ờng, pháp luận dân sự của các n-ớc không có định nghĩa về tài sản,
mà chỉ đ-a ra những đặc tr-ng của tài sản. Đối với tr-ờng phái pháp luật Anh-
Mỹ (Common law) tài sản đ-ợc coi là một tập hợp các quyền trên vật có hiệu
lực nhằm chống lại những xự xâm hại của chủ thể khác. Trong tr-ờng phái
pháp luật Châu Âu lục địa (Civil law) tài sản đ-ợc liệt kê gồm: tài sản là động
sản, tài sản là bất động sản; tài sản hữu hình, tài sản vô hình và các quyền tài
sản. Khi nói tới quyền có nghĩa là nói tới quan hệ xã hội. Quyền chỉ phát sinh
trong mối quan hệ giữa ng-ời này với ng-ời khác. Chính vì thế khi nói tới
quyền tài sản là ta nói tới những quan hệ xã hội. Mặt khác, vật chất không
phải là tiêu chí tối cao của luật tài sản{10 tr 2}. Vì vậy, quyền tài sản là một
loại tài sản, khái niệm quyền tài sản là bộ phận của khái niệm tài sản.
Trong luật dân sự Pháp khái niệm quyền tài sản đ-ợc tiếp cận và xây
dựng trên một quan điểm khác so với n-ớc ta, đó là chế định quyền chủ thế,
chế định ny đợc coi l xơng sống ca hệ thống php luật t {26 tr 11}.
Có nội hàm rộng, không chỉ đối với những tài sản, mà cả đối với những quan
hệ nhân thân phi tài sản. Nó bao gồm những quyền không trị giá đ-ợc bằng

tài sản nh- quyền khai thác tài sản, quyền sử dụng tài sản, quyền thu lợi từ tài
sản Những quyền này có tính chất loại trừ, hạn chế những chủ thể khác.

20
Quyền tài sản nh- trên khác với quyền tài sản đ-ợc BLDS năm 2005 quy định,
theo đó quyền tài sản là một loại tài sản không phải là vật, tiền, giấy tờ có giá.
Điều 181 BLDS năm 2005 Quyền ti sn l quyền trị gi đợc bng tiền
có thể chuyển giao trong giao dịch dân sứ, kể c quyền sở hửu trí tuệ {6 tr 90}.
Có quan điểm cho rằng, quyền tài sản theo Điều 181 BLDS năm 2005
mang nội dung của quyền đối nhân (trừ quyền sở hữu trí tuệ). Quyền đối nhân
là quyền của ng-ời có quyền t-ơng ứng với nghĩa vụ của thể nhân khác. Ví dụ
quyền đòi nợ là một điển hình của quyền đối nhân.
Tuy nhiên, nếu theo cách hiểu này thì quyền tài sản có nội hàm rất hẹp
không thể hiện hết nội dụng mà điều luật quy định. Vẫn biết rằng BLDS n-ớc ta
không có điều luật nào phân chia quyền thành quyền đối vật và quyền đối nhân.
Theo tinh thần của Điều 181 BLDS năm 2005 thì quyền tài sản phải đ-ợc hiểu
theo nghĩa rộng hơn, nó không chỉ bao gồm quyền đối nhân nh- trên đã nêu.
Quyền tài sản bao gồm quyền có tính đối vật nh- quyền sử dụng đất (đối vật),
những quyền không phải là đối nhân hay đối vật là quyền sở hữu trí tuệ.
Pháp luật dân sự các n-ớc đều ghi nhận các quyền yêu cầu, quyền sở
hữu trí tuệ là quyền tài sản. ở n-ớc ta, luật dân sự không có quy định cụ thể
quyền sử dụng đất là quyền tài sản nh-ng trong khoa học pháp lý cũng nh-
thực tiễn đều thừa nhận quyền sử dụng đất là quyền tài sản. Tuy nhiên, nếu coi
quyền sử dụng đất là quyền tài sản về lý luận cũng có những quan điểm khác
nhau. Quyền sử dụng đất là tài sản là không thể phủ nhận. Tại sao đất không
xếp vào loại tài sản là vật mà quy định riêng là thành quyền tài sản? Đất đai là
vật hữu hình, con ng-ời hoàn toàn có thể chiếm hữu đ-ợc. Để làm sáng tỏ vấn
đề này, theo chúng tôi cần phải làm rõ các mối quan hệ về đất đai đó là:
1-Quan hệ giữa Nhà n-ớc với ng-ời sử dụng đất, 2-Quan hệ giữa ng-ời sử
dụng đất với chính đối t-ợng là đất, 3-Quan hệ giữa những ng-ời sử dụng đất

giá trị tinh thần hoặc gắn với chủ thể nhất định về nguyên tắc không thể
chuyển giao trừ một số tr-ờng hợp đặc biệt. Có những quyền nhân thân không

22
thể xác định đ-ợc bằng tiền vì gắn với yếu tố nhân thân không thể định giá.
Theo quy định của BLDS năm 2005 quyền nhân thân bao gồm những quyền
nh- quyền đối với tên, họ, quyền xác định dân tộc, quyền bí mật đời t-, quyền
đ-ợc khai sinh khai tử Quyền nhân thân có thể gắn với tài sản và quyền
nhân thân không gắn với tài sản. Tuỳ thuộc vào từng loại mà quyền tài sản có
những tính chất khác nhau. Quyền tài sản có thể có giá trị trực tiếp nh- quyền
sử dụng đất, hoặc phải thông qua các hành vi, giao dịch dân sự hoặc có thể
bảo đảm thực hiện nghĩa vụ; nh- quyền tài sản là quyền sở hữu trí tuệ hoặc
quyền tài sản là quyền yêu cầu. Khi thực hiện quyền này, chủ sở hữu phải
thông qua các hành vi nhất định thì mới có thể xác định giá trị. Trong một số
tr-ờng hợp, quyền tài sản gắn chặt với quyền nhân thân, nh- trong lĩnh vực sở
hữu trí tuệ. Việc xác định trị giá của đối t-ợng sở hữu trí tuệ thì rất khó, nhất
là quyền tác giả. Trong một số tr-ờng hợp quyền nhân thân còn quyết định
yếu tố giá trị trong quyền tài sản. Ví dụ nh- việc biểu diễn tác phẩm âm nhạc
do một ca sỹ nổi tiếng sẽ đem lại một khoản tiền cao hơn so với cùng tác
phẩm nh-ng do ca sỹ nổi tiếng cho dù chất l-ợng biểu diễn của ca sỹ nổi cao
bằng ca sỹ không nổi tiếng
- Quyền tài sản có thể chuyển giao trong giao dịch dân sự (nguyên tắc
chuyển giao). Ngày nay, cùng với sự phát triển của kinh tế-xã hội, những giao
dịch dân sự diễn ra ngày càng phổ biến. Giao dịch dân sự là căn cứ làm phát
sinh, thay đổi, chấm dứt quyền và nghĩa vụ dân sự, chuyển dịch tài sản và
cung ứng dịch vụ nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của các thành viên
trong xã hội. Quyền tài sản là một loại tài sản đ-ợc phép chuyển giao trong
các giao dịch dân sự. Đây là điểm khác nhau cơ bản giữa quyền tài sản với
quyền nhân thân phi tài sản. Pháp luật dân sự điều chỉnh hai nhóm quan hệ lớn
là quan hệ tài sản và quan hệ nhân thân. Trên nguyên tắc quyền tài sản có thể

mua không đ-ợc bán, trao đổi, tặng cho, cho thuê, thế chấp, cầm có tài sản,
phải chịu rủi ro đối với tài sản.

24
Ng-ời mua chỉ có quyền bán tài sản khi thời hạn chuộc lại tài sản đã hết
hoặc khi ng-ời bán tuyên bố từ bỏ quyền chuộc lại tài sản của mình. Trong
thời gian quyền chuộc lại tại sản có hiệu lực tài sản vẫn thuộc ng-ời mua
nh-ng không thể chuyển giao cho ng-ời khác.
T-ơng tự nh- cổ phiếu của cổ đông sở hữu cổ phần -u đãi trong công
ty cổ phần cũng là quyền tài sản không thể chuyển giao trong một thời hạn
nhất định.
Nh- vậy, theo quy định của Điều 181 BLDS năm 2005 thì một quyền
đ-ợc coi là quyền tài sản khi nó thoả mãn hai điều kiện đó là trị giá đ-ợc bằng
tiền và có thể chuyển giao trong giao dịch dân sự.
1.1.2.2. Phân loại quyền tài sản
Điều 174 BLDS năm 2005 phân chia tài sản thành động sản và bất động
sản. Đối với quyền tài sản, Điều 181 BLDS năm 2005 chỉ quy định quyền tài
sản là quyền trị giá đ-ợc bằng tiền và có thể chuyển giao trong giao dịch dân
sự, mà không có quy định phân chia loại tài sản này.
Trên thế giới, BLDS Pháp năm 1804 tài sản đ-ợc phân chia thành tài
sản hữu hình và tài sản vô hình, Điều 899 BLDS Québec Canada quy định; tài
sản, hoặc hữu hình hoặc vô hình, đ-ợc chia thành bất động sản và động sản.
Mặc dù, luật dân sự n-ớc ta cũng nh- một số n-ớc không có điều luật cụ thể
nào quy định việc phân chia quyền tài sản, nh-ng về khoa học dựa vào những
tiêu chí phân loại tài sản nói chung quyền tài sản có thể phân chia thành:
a. Quyền tài sản là động sản, quyền tài sản là bất động sản
Nếu dựa vào đối t-ợng của quyền tài sản kết hợp tiêu chí phân loại tài
sản động sản và bất động sản.
Quyền tài sản là bất động sản là quyền tài sản gắn với bất động sản là
đất đai và các bất động sản khác. Quyền tài sản là quyền sử dụng đất, đây là

chủ thể có nghĩa vụ là bất kỳ chủ thể nào trong xã hội, việc sử dụng các đối

Trích đoạn Quyền chiếm hữu Quyền sử dụng Quyền định đoạt Thực trạng pháp luật về quyền tài sản Quy định của BLDS năm 2005 về quyền tài sản còn quá đơn giản
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status