Thế chấp quyền sử dụng đất để đảm bảo thực hiện nghĩa vụ dân sự - Pdf 25

1

2 đại học quốc gia hà nội
khoa luật
đào xuân hội
thế chấp quyền sử dụng đất
để đảm bảo thực hiện nghĩa vụ dân sự
luận văn thạc sĩ luật học
thế chấp quyền sử dụng đất
để đảm bảo thực hiện nghĩa vụ dân sự Chuyên ngành : Luật dân sự
Mã số : 60 38 30
luận văn thạc sĩ luật học

Ng-ời h-ớng dẫn khoa học: PGS.TS Phạm Hữu Nghị
Hà nội - 2008 1
MỤC LỤC


10
1.1.3.1.
Khái niệm
10
1.1.3.2.
Đặc điểm của biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự
12
1.2.
Khái niệm, đặc điểm của thế chấp và thế chấp quyền sử dụng đất
16
1.2.1.
Thế chấp
16
1.2.2.
Đặc điểm của biện pháp thế chấp
19
1.2.2.1.
Không có sự chuyển giao tài sản
19
1.2.2.2.
Thế chấp tạo thành một quyền đối vật không thể phân chia theo phần
20
1.2.2.3.
Trong mối quan hệ với quyền yêu cầu được bảo đảm, thế chấp có tính
chất là một quyền đối vật phụ
21
1.2.2.4.
Thế chấp cần phải được công bố không khai phạm vi quyền đối vật
của người thế chấp đối với tài sản thế chấp
21

đất
29
2.1.2.
Về hình thức thế chấp, về thế chấp một tài sản để bảo đảm nhiều
nghĩa vụ và thế chấp nhiều tài sản để bảo đảm một nghĩa vụ
30
2.1.2.1.
Hình thức thế chấp tài sản
30
2.1.2.2.
Thế chấp một tài sản để bảo đảm thực nhiều nghĩa vụ
33
2.1.2.3.
Thế chấp nhiều tài sản để bảo đảm thực hiện một nghĩa vụ
34
2.1.3.
Về chủ thể, quyền và nghĩa vụ của các chủ thể trong thế chấp quyền
sử dụng đất
35
2.1.3.1.
Chủ thể của thế chấp quyền sử đất
35
2.1.3.2.
Quyền và nghĩa vụ của các bên trong hợp đồng thế chấp
38
2.1.4.
Hiệu lực và thời hạn thế chấp, hủy bỏ, chấm dứt và xử lý quyền sử
dụng đã thế chấp
42
2.1.4.1.

2.2.6.
Thực tiễn liên quan đến công chứng và đăng ký thế chấp
60
2.2.7.
Về xử lý tài sản thế chấp
63

Chương 3: MỘT SỐ KIẾN NGHỊ ĐỂ HOÀN THIỆN HỆ THỐNG
PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ THẾ CHẤP QUYỀN SỬ
DỤNG ĐẤT ĐỂ BẢO ĐẢM THỰC HIỆN NGHĨA VỤ
DÂN SỰ
68
3.1.
Cần xác định rõ nghĩa vụ được bảo đảm
68
3.2.
Về đối tượng thế chấp
69
3.2.1
Cần hoàn thiện hệ thống pháp luật về sở hữu
69
3.2.2.
Cần có sự dự liệu cho trường hợp quyền sử dụng đất bị thay đổi
70
3.3.
Về chủ thể thế chấp
70
3.3.1.
Đảm bảo quyền của bên nhận thế chấp quyền sử dụng đất
70

77
3.6.1.
Xác định rõ hơn phương thức xử lý tài sản
77
3.6.2.
Cần có một cơ chế buộc bên thế chấp phải giao tài sản thế chấp để xử

80
3.6.3.
Vềxử lý tài sản thế chấp là nhà, các tài sản khác gắn liền với quyền sử
dụng đất
80

KẾT LUẬN
82

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
84

5
MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài
Pháp luật dân sự Việt Nam trong quá trình phát triển của mình đã
không ngừng hoàn thiện các quy định, đặc biệt là các quy định về bảo đảm
thực hiện nghĩa vụ, trong đó có bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự bằng thế
chấp quyền sử dụng đất. Bộ luật Dân sự năm 2005 được thông qua ngày 14

đề tài "Thế chấp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ trong pháp luật dân sự Việt Nam
và Cộng hòa Pháp" của Hoàng Thị Hải Yến; một số bài viết đăng ký trên tạp
chí chuyên ngành; nhưng, một nghiên cứu riêng về thế chấp quyền sử dụng đất
(với đối tượng đặc biệt là quyền sử dụng đất) là chưa có. Những nghiên cứu
trên là nguồn tài liệu đáng quý để tác giả có thể đưa ra được những nhận định
mới trong luận văn. Những đánh giá, phân tích thực trạng cũng như đề xuất
được đưa ra trong luận văn này cũng dựa nhiều vào tình hình thực tiễn áp
dụng được phản ánh thường xuyên trên các phương tiện truyền thông, báo chí,
internet.
3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn
Mục đích:
Làm rõ về mặt lý luận bản chất cũng như các quy định của pháp luật
về bảo đảm nghĩa vụ dân sự bằng thế chấp quyền sử dụng đất; phân tích, nhận
định thực trạng áp dụng pháp luật về thế chấp quyền sử dụng đất từ đó đưa ra
các giải pháp.
Nhiệm vụ:
- Nghiên cứu lý luận làm sáng tỏ bản chất pháp lý của thế chấp quyền
sử dụng đất để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự.
- Đưa ra, làm sáng sáng tỏ những quy định mới về thế chấp quyền sử
dụng đất để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự. Trong đó, chỉ ra những điểm

7
phù hợp của các quy định pháp luật về thế chấp quyền sử dụng đất để thực
hiện nghĩa vụ dân sự trong điều kiện kinh tế hiện nay, cũng như những vấn đề
pháp luật chưa giải quyết được những đòi hỏi của lý luận. Từ đó, chỉ ra thực
trạng áp dụng các quy định và những khó khăn trong thực tiễn áp dụng mà
các chủ thể gặp phải.
- Cuối cùng, đưa ra các kiến nghị hoàn thiện pháp luật về thế chấp
quyền sử dụng đất để bảo đảm thực hiện các nghĩa vụ dân sự.
4. Giới hạn phạm vi nghiên cứu

Chương 3: Một số kiến nghị để hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt
Nam về thế chấp quyền sử dụng đất để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự.

9
Chương 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ BẢO ĐẢM THỰC HIỆN
NGHĨA VỤ DÂN SỰ VÀ THẾ CHẤP QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT

1.1. KHÁI NIỆM NGHĨA VỤ DÂN SỰ, THỰC HIỆN NGHĨA VỤ DÂN SỰ
VÀ BẢO ĐẢM THỰC HIỆN NGHĨA VỤ DÂN SỰ
1.1.1. Khái niệm nghĩa vụ dân sự
Nghĩa vụ hiểu theo nghĩa hẹp là những gì mà một người phải thực
hiện hoặc không thực hiện vì lợi ích của người khác. Theo nghĩa rộng, nghĩa
vụ là mối liên hệ giữa hai hay nhiều người với nhau, trong đó một bên phải
thực hiện những hành vi nhất định. Hành vi này chịu sự điều chỉnh của quy
phạm đạo đức, tâm lý, truyền thống, phong tục, bổn phận làm người Trong
đời sống tồn tại rất nhiều nghĩa vụ được điều chỉnh bởi quy phạm đạo đức,
truyền thống như việc thờ cúng tổ tiên, việc cưới gả, ma chay
Nghĩa vụ là mối liên hệ giữa hai hay nhiều người với nhau, vì vậy
nghĩa vụ mang tính tích cực hay tiêu cực phụ thuộc vào thái độ ứng xử của
các chủ thể. Nghĩa vụ mang tính tích cực nếu bên phải thực hiện hành vi nhận
thức được việc mình phải làm là tất yếu, vì lợi ích của bên còn lại hoặc vì lợi
ích chung, từ đó chủ động thực hiện hành vi, hoàn thành nghĩa vụ. Ngược lại
nghĩa vụ sẽ mang tính tiêu cực khi bên phải thực hiện hành vi không nhận
thức đúng về nghĩa vụ của mình từ đó ảnh hưởng đến lợi ích của bên còn lại
hoặc lợi ích chung. Do đó, thông thường, để bảo đảm cho nghĩa vụ được thực
hiện, người ta thường buộc người có hành vi vi phạm phải thực hiện nghĩa vụ
hoặc chịu một trách nhiệm nhất định.
Trong Luật La mã cổ đại, thuật ngữ "nghĩa vụ" được đề cập khá rõ
nét. Trong các chế định của Justinian viết "nghĩa vụ là những ràng buộc pháp

dân sự là việc mà theo quy định của pháp luật thì một hoặc nhiều chủ thể (gọi

11
là người có nghĩa vụ) phải làm một công việc hoặc không được làm một công
việc vì lợi ích của một hoặc nhiều chủ thể khác (gọi là người có quyền)".
Điều 280 Bộ luật Dân sự Việt Nam năm 2005 quy định:
Nghĩa vụ dân sự là việc mà theo đó một hoặc nhiều chủ thể
(sau đây gọi chung là bên có nghĩa vụ) phải chuyển giao một vật,
chuyển giao quyền, trả tiền hoặc giấy tờ có giá, thực hiện công việc
khác hoặc không được thực hiện một công việc nhất định vì lợi ích
của một hoặc nhiều chủ thể khác (sau đây gọi chung là bên có
quyền) [16].
Định nghĩa về nghĩa vụ dân sự theo Bộ luật Dân sự Việt Nam hiện
hành so với định nghĩa về nghĩa vụ dân sự theo các Bộ luật Dân sự trước đây
hay so với quy định về nghĩa vụ dân sự theo pháp luật một số nước, dù khác
nhau về ngôn từ hay vẫn còn một số hạn chế như đã được phân tích trong bài
nghĩa vụ dân sự và quan niệm nghĩa vụ dân sự ở Việt Nam của TS. Ngô Huy
Cương nhưng nhìn chung, pháp luật Việt Nam hiện hành cũng xác định nghĩa
vụ dân sự là một quan hệ pháp luật, có các bên chủ thể luôn được xác định về
quyền và nghĩa vụ của các bên luôn đối lập nhau, đây chính là các đặc điểm
của nghĩa vụ dân sự.
Như vậy, có thể thấy, dù được quy định một cách khác nhau giữa các
luật, bộ luật, nhưng chúng ta đều có thể hiểu nghĩa vụ là một quan hệ pháp
luật dân sự, trong đó một bên chủ thể là một hoặc nhiều người phải làm hoặc
không được làm một hoặc một số công việc nhất định vì lợi ích của phía bên
kia. Bên được hưởng lợi có quyền yêu cầu bên kia thực hiện hoặc không được
thực hiện một số công việc nào đó vì quyền lợi của mình.
1.1.2. Thực hiện nghĩa vụ dân sự
Một trong các đặc trưng cơ bản của nghĩa vụ dân sự là tính chất tương
ứng và đối lập nhau về quyền và nghĩa vụ dân sự. Tính tương ứng này thể

13
cho bên kia. Đồng thời việc thực hiện nghĩa vụ phải theo tinh thần hợp tác với
nhau, tương trợ giúp đỡ lẫn nhau nhằm bảo vệ lợi ích hợp pháp của chính
mình cũng như của bên đối tác. Việc các bên hợp tác với nhau không chỉ
trong việc khắc phục khó khăn, tận tâm thực hiện khi khả năng có thể mà hợp
tác còn thể hiện ở việc các bên cùng nhau ngăn chặn, hạn chế thiệt hại. Nếu
thiệt hại có nguy cơ xảy ra, việc một trong các bên có điều kiện mà không
thực hiện các biện pháp ngăn chặn sẽ bị coi là có lỗi và phải gánh chịu thiệt
hại ấy.
Không chỉ cần phải thực hiện nghĩa vụ một cách trung thực trên tinh
thần hợp tác mà người có nghĩa vụ còn phải thực hiện đúng những cam kết,
nghĩa là người có nghĩa vụ phải thực hiện đúng và đủ toàn bộ những điều khoản
đã cam kết như: đối tượng, thời hạn, địa điểm, phương thức thanh toán
Người có nghĩa vụ không thực hiện đúng với nội dung đã cam kết phải chịu
trách nhiệm do vi phạm nghĩa vụ.
Ngoài ra, các chủ thể còn phải tuân theo nguyên tắc thực hiện nghĩa
vụ không trái pháp luật và đạo đức xã hội. Điều 10 Bộ luật Dân sự năm 2005
đã quy định "Việc xác lập, thực hiện quyền, nghĩa vụ dân sự không được xâm
phạm đến lợi ích Nhà nước, lợi ích cộng đồng, quyền lợi ích của người khác".
Vì vậy người thực hiện nghĩa vụ phải thực hiện cam kết không được trái với
quy định của pháp luật đối với giao dịch cụ thể và cũng không được trái với
quy định chung của pháp luật. Việc thực hiện không trái đạo đức xã hội nhằm
"bảo đảm giữ gìn bản sắc dân tộc, tôn trọng và phát huy phong tục tập quán,
truyền thống tốt đẹp, tình đoàn kết, tương thân tương ái, mỗi người vì cộng
đồng, cộng đồng vì mỗi người và các giá trị đạo đức cao đẹp của các dân tộc
cùng sinh sống trên đất nước Việt Nam" [27, tr. 10]. Thực hiện nghĩa vụ tôn
trọng pháp luật, tôn trọng đạo đức là thực hiện đúng trách nhiệm của một
công dân và của một thành viên trong cộng đồng xã hội.

14

bên có nghĩa vụ không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ,
người có quyền có thể bằng chính hành vi của mình tác động trực tiếp lên tài
sản bảo đảm của phía bên kia để bảo vệ lợi ích hợp pháp của mình.
Vấn đề này đã được các nhà lập pháp quan tâm ngay từ thời cổ đại.
Pháp luật La Mã đã biết đến các biện pháp bảo đảm chủ yếu như bảo lãnh
(cautionnement), chuyển quyền sở hữu tài sản của con nợ cho chủ nợ để bảo đảm
nghĩa vụ trả nợ (fiducie), cầm cố (pignus) hay thế chấp (hypothèque) [52, tr. 4].
Trong pháp luật Cộng hòa Pháp, khi xây dựng Bộ luật Dân sự 1804,
các nhà làm luật đã chịu ảnh hưởng sâu sắc của Luật La Mã về các biện pháp
bảo đảm. Bộ luật Dân sự 1804 không ghi nhận một điều khoản nào định nghĩa
về khái niệm "bảo đảm thực hiện nghĩa vụ (sureté). Các nhà làm luật chỉ quy
định bốn biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ cụ thể: bảo lãnh
(cautionnement), cầm cố động sản và bất động sản (nantissement), thế chấp
(hypothèque) và đặc quyền (privilège). Bảo đảm thực hiện nghĩa vụ (sureté)
có thể được hiểu là những thiết chế nhằm tăng cường mối quan hệ nghĩa vụ, bảo
đảm cho việc thực hiện trong tương lai một nghĩa vụ dân sự, bảo vệ lợi ích vật
chất của người có quyền trước nguy cơ mất khả năng thanh toán của người có
nghĩa vụ.
Trong pháp luật thực định Việt Nam, cũng giống như pháp luật Pháp,
không có điều khoản nào định nghĩa về khái niệm các biện pháp bảo đảm
thực hiện nghĩa vụ. Bộ luật Dân sự 1995 cũng như Bộ luật Dân sự năm 2005
chỉ quy định bảy hình thức bảo đảm thực hiện nghĩa vụ cụ thể bao gồm: bảo
lãnh; đặt cọc; ký cước; ký quỹ; cầm cố; thế chấp và phạt vi phạm.
Về bản chất pháp lý của bảo đảm thực hiện nghĩa vụ, ở Việt Nam hiện
có một vài quan điểm khác nhau của một số tác giả khi nghiên cứu về vấn đề
này. Quan điểm thứ nhất cho rằng bảo đảm thực hiện nghĩa vụ là một biện
pháp dân sự có "tính chất dự phòng" [17] nhằm thúc đẩy người có nghĩa vụ
phải chấp hành đúng nghĩa vụ bằng cách dựa vào quy định của pháp luật hoặc

16

chế của Nhà nước.
1.1.3.2. Đặc điểm của biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự
Thứ nhất, biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự là biện pháp
mang tính bổ sung cho nghĩa vụ chính.
Các biện pháp bảo đảm không tồn tại độc lập mà luôn phụ thuộc vào
một nghĩa vụ chính và gắn liền với một nghĩa vụ chính. Các bên xác định
quan hệ bảo đảm khi đã có một quan hệ nghĩa vụ hoặc để bảo đảm cho một
nghĩa vụ chắc chắn trong tương lai. Nội dung, hiệu lực của biện pháp bảo đảm
phù hợp với nội dung và phụ thuộc vào nghĩa vụ chính. Vì vậy, người ta gọi
nghĩa vụ phát sinh từ các biện pháp bảo đảm là nghĩa vụ phụ [17].
Mối quan hệ chính - phụ thể hiện: Nghĩa vụ bảo đảm phát sinh từ bảo
đảm thực hiện nghĩa vụ là một nghĩa vụ dân sự phụ có tính chất bổ sung cho
nghĩa vụ chính phát sinh từ quan hệ nghĩa vụ được bảo đảm. Vì vậy, nghĩa vụ
bảo đảm không thể tồn tại một cách độc lập và không thể xuất hiện mà không
có nghĩa vụ chính. Bảo đảm thực hiện nghĩa vụ chỉ được áp dụng khi nghĩa vụ
chính không thực hiện và chỉ có giá trị với một nghĩa vụ chính đã được xác
định trước. Nếu nghĩa vụ chính đã được thực hiện thì nghĩa vụ bảo đảm cũng
mặc nhiên chấm dứt và không phát sinh hiệu lực pháp lý.
Thứ hai, phạm vi bảo đảm của các nghĩa vụ phụ thuộc vào phạm vi
của nghĩa vụ chính.
Giới hạn tối đa của bảo đảm nghĩa vụ (dù là nghĩa vụ hiện tại, nghĩa
vụ trong tương lai hay nghĩa vụ có điều kiện) luôn là toàn bộ nghĩa vụ. Các
bên có thể thỏa thuận phạm vi bảo đảm nhưng thỏa thuận này chỉ trong giới
hạn là toàn bộ nghĩa vụ mà thôi, có thể coi đây như một nguyên tắc trong biện
pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự.

18
Các bên có thể thỏa thuận về phạm vi bảo đảm cụ thể, có thể là một
phần nghĩa vụ hoặc cũng có thể là toàn bộ nghĩa vụ.
Giá trị tài sản bảo đảm lớn hơn hay ngang với giá trị của nghĩa vụ

Thứ tư, đối tượng của các biện pháp bảo đảm là lợi ích vật chất (trừ
biện pháp tín chấp).
Khác với các quan hệ dân sự khác, trong quan hệ nghĩa vụ dân sự,
quyền nhân thân không thể là đối tượng của biện pháp bảo đảm vì trong quan
hệ nghĩa vụ, lợi ích được bảo đảm đó là lợi ích vật chất, các bên không thể
dùng quyền nhân thân - quyền gắn liền với mỗi cá nhân, không thể chuyển
giao cho người khác - để bảo đảm cho lợi ích vật chất được. Chẳng hạn, một
người không thể đem quyền của cá nhân đối với hình ảnh ra để bảo đảm cho
một khoản vay được hay người cho vay không thể bắt giữ người vay để bảo
đảm cho khoản vay.
Trong quan hệ tài sản, luôn bị chi phối bởi quy luật ngang giá, chỉ có
các tài sản mới bù đắp được cho các tài sản. Vì vậy, đối tượng trong biện
pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự chỉ có thể là tài sản. Tài sản đem ra
bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự có thể là vật, vật hiện có hoặc hình thành
trong tương lai, tiền, giấy tờ trị giá được bằng tiền, có thể là quyền tài sản, là
động sản hoặc bất động sản, nhưng những tài sản này phải thuộc quyền sở
hữu của bên bảo đảm và được phép giao dịch.
Thứ năm, các tài sản bảo đảm chỉ được đưa ra xử lý khi có vi phạm
nghĩa vụ.
Biện pháp bảo đảm do các bên thỏa thuận và thống nhất từ khi tiến
hành giao dịch nhằm bảo đảm cho việc thực hiện nghĩa vụ dân sự, nghĩa là chỉ
khi nào đến thời hạn quy định mà người có nghĩa vụ không thực hiện nghĩa

20
vụ hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ thì tài sản bảo đảm mới được đưa ra
xử lý để thanh toán nghĩa vụ.
Biện pháp bảo đảm nghĩa vụ cụ thể luôn bảo đảm cho một nghĩa vụ
được xác định, "trong trường hợp nghĩa vụ chính được thực hiện thì nghĩa vụ
bảo đảm đương nhiên chấm dứt và không còn giá trị pháp lý" [17]. Vì vậy, tài
sản bảo đảm không được xử lý ở trường hợp này và được giao trả lại cho

vụ mà bên thế chấp không cần phải chuyển giao tài sản cho bên nhận thế
chấp, và thế chấp chỉ áp dụng đối với bất động sản [34].
Sau này, trong quy định của pháp luật các nước như Điều 2114 Bộ
luật Dân sự Pháp 1804 quy định:
Quyền thế chấp là một quyền tài sản trên những bất động
sản được sử dụng vào việc bảo đảm thi hành một nghĩa vụ. Về bản
chất, quyền thế chấp không thể phân chia và tồn tại trên tất cả các bất
động sản thế chấp, trên từng bất động sản và mỗi phần của những
bất động sản ấy. Quyền thế chấp tiếp tục trên các bất động sản dù
bất động sản đã chuyển dịch sang tay người khác [29, tr. 532].
Như vậy, theo pháp luật Pháp, thế chấp là một biện pháp bảo đảm
thực hiện nghĩa vụ bằng bất động sản, được hình thành không có sự chuyển
giao tài sản, do thỏa thuận của các bên, theo quy định của pháp luật hoặc theo
phán quyết của Tòa án. Trên cơ sở đó người nhận thế chấp sau khi đã tiến
hành đăng ký thế chấp có toàn quyền bán bất động sản thế chấp cho dù tài sản
đó đang nằm trong tay bất kỳ ai đồng thời được ưu tiên thanh toán từ tiền bán
bất động sản thế chấp đó [52, tr. 285]. Trong pháp luật Pháp có thể là thế chấp
theo thỏa thuận của các bên, thế chấp do luật quy định hoặc thế chấp do phán
quyết của Tòa án.

22
Pháp luật phong kiến Việt Nam mà điển hình là hai Bộ luật: Bộ luật
Hồng Đức thế kỷ XV và Bộ luật Gia Long thế kỷ XIX cũng quy định một số
biện pháp bảo đảm nghĩa vụ bằng quyền sử dụng đất tương tự như thế chấp là
điển mãi. Theo đó, trong biện pháp này người đi vay tiền bán tài sản là ruộng
đất cho người có tiền cho vay với điều kiện được chuộc lại đất trong một thời
hạn, thường tối đa là 30 năm. Như vậy ở đây, quyền sở hữu, quyền sử dụng
đất chính là tài sản bảo đảm cho khoản vay, nhưng nó cũng chính là đối tượng
chuyển nhượng mua bán khi đến hạn chuộc mà bên vay tiền không có tiền để
chuộc lại đất. Trong trường hợp này, số tiền mà bên có đất vay được chính là

tài sản của mình để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ của mình hoặc của người
khác nhưng không chuyển giao tài sản cho bên có quyền hay còn gọi là bên
nhận thế chấp.
1.2.2. Đặc điểm của biện pháp thế chấp
Thế chấp là một biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự, có đầy
đủ những đặc điểm chung của các biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ.
Đồng thời thế chấp còn có những đặc điểm riêng như sau.
1.2.2.1. Không có sự chuyển giao tài sản
Khác với cầm cố tài sản để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự, tài sản
được chuyển giao cho người nhận cầm cố. Trong quan hệ thế chấp, người
nhận thế chấp không trực tiếp giữ các tài sản bảo đảm mà chỉ giữ giấy tờ pháp
lý có liên quan (khi có thỏa thuận giữa các bên), như: giấy chứng nhận quyền
sở hữu đối với tài sản đó của người có nghĩa vụ, hoặc các bên có thể thỏa
thuận giao tài sản cho người thứ ba nắm giữ.

Trích đoạn Khụng cú sự chuyển giao tài sản Khỏi niệm thế chấp quyền sử dụng đất Về xử lý tài sản thế chấp là nhà, cỏc tài sản khỏc gắn liền với quyền sử dụng đất
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status