thế chấp để đảm bảo thực hiện nghĩa vụ trả nợ trong hợp đồng vay tiền - thực trạng tại tòa án nhân dân huyện duy xuyên tỉnh quảng nam từ 2010-2012 - Pdf 13

ĐẠI HỌC HUẾ
KHOA LUẬT

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
CHUYÊN NGÀNH: LUẬT DÂN SỰ
KHÓA 2010 - 2014
THẾ CHẤP ĐỂ ĐẢM BẢO THỰC HIỆN NGHĨA VỤ
TRẢ NỢ TRONG HỢP ĐỒNG VAY TIỀN - THỰC TRẠNG
TẠI TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DUY XUYÊN
TỈNH QUẢNG NAM TỪ 2010-2012
Giáo viên hướng dẫn: Sinh viên thực hiện:
ThS. Hoàng Ngọc Thanh Nguyễn Thị Thảo Sương
Lớp: K34B Dân Sự
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS. Hoàng Ngọc Thanh
Huế, 03/2014

Để hoàn thành bài khóa luận này,
trước tiên cho em xin chân thành cảm ơn quý
thầy cô giáo đã tận tình dạy dỗ và trang bò
cho em những kiến thức cần thiết và nhiệt
tình giúp đỡ em trong suốt thời gian em học
dưới mái trường Khoa Luật - Đại học Huế. Em
xin cám ơn các cô chú Tòa án nhân dân
huyện Duy Xuyên, tỉnh Quảng Nam đã giúp
đỡ tạo điều kiện cho em hoàn thành bài
viết. Đặc biệt em xin gởi lời cảm ơn sâu
sắc đến thầy Hoàng Ngọc Thanh - người đã
trực tiếp hướng dẫn em hoàn thành bài
khóa luận này.
Mặc dù đã cố gắng trong quá trình làm
bài, tuy nhiên nội dung bài khóa luận này

1.3. Khái niệm, đặc trưng của biện pháp thế chấp tài sản 17
1.3.1. Khái niệm biện pháp thế chấp tài sản 17
1.3.2. Đặc trưng của biện pháp thế chấp tài sản 18
1.5. Chủ thể của thế chấp 20
1.6. Đối tượng của thế chấp 21
1.7. Hình thức và đăng ký thế chấp 28
SVTH: Nguyễn Thò Thảo Sương
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS. Hoàng Ngọc Thanh
1.7.1. Hình thức thế chấp 28
1.7.2. Đăng ký thế chấp 29
1.8. Hiệu lực thế chấp tài sản 31
1.9. Nội dung của thế chấp 32
1.9.1. Nghĩa vụ của bên thế chấp tài sản 32
1.9.2. Quyền của bên thế chấp (Điều 349 Bộ Luật Dân Sự 2005) 33
1.9.3. Nghĩa vụ của bên nhận thế chấp tài sản (Điều 350 Bộ Luật Dân Sự 2005) 34
1.9.4. Quyền của bên nhận thế chấp (Điều 351 Bộ Luật Dân Sự2005) 35
1.9.5. Quyền và nghĩa vụ của người thứ ba giữ tài sản thế chấp (Điều 352, Điều 353 Bộ
Luật Dân Sự 2005) 35
1.10. Xử lý tài sản thế chấp 36
1.11. Mối quan hệ và ý nghĩa của thế chấp tài sản trong việc thực hiện nghĩa vụ trả nợ trong
hợp đồng vay tiền 40
1.11.1. Mối quan hệ giữa biện pháp thế chấp và hợp đồng vay 40
1.11.2. Ý nghĩa của thế chấp tài sản trong việc thực hiện nghĩa vụ trả nợ 42
Chương 2
THỰC TRẠNG THẾ CHẤP ĐỂ ĐẢM BẢO THỰC HIỆN
NGHĨA VỤ TRẢ NỢ VÀ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP
QUA HOẠT ĐỘNG XÉT XỬ TẠI TỊA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN DUY XUN, TỈNH QUẢNG NAM
TỪ 2010-2012 VÀ MỘT SỐ KIẾN NGHỊ 45
2.1. Một số dạng cụ thể của thế chấp tài sản để đảm bảo thực hiện nghĩa vụ trả nợ 45

SVTH: Nguyễn Thò Thảo Sương
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS. Hoàng Ngọc Thanh
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU TỪ VIẾT TẮT
BLDS Bộ Luật Dân Sự
TAND Tòa án nhân dân
TNHH Trách nhiệm hữu hạn
TSHTTTL Tài sản hình thành trong tương lai
SVTH: Nguyễn Thò Thảo Sương
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS. Hoàng Ngọc Thanh
A. PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong cuộc sống xã hội, các giao dịch dân sự rất phổ biến và mang
tính tất yếu, nó diễn ra hàng ngày và khơng ngừng phát triển bởi nhu cầu
sống bất tận của con người.
Tuy nhiên, trong xu thế hội nhập kinh tế quốc tế, đời sống kinh tế xã
hội của đất nước có nhiều bước phát triển đặc biệt trong nền kinh tế thị
trường hiện nay, khi mà các quan hệ trao đổi, lưu thơng đang ngày càng
phức tạp hơn, thì Bộ Luật Dân Sự 1995 nói chung, những qui định về bảo
đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự nói riêng đã bộc lộ những hạn chế, bất cập,
khơng còn phù hợp với điều kiện kinh tế, xã hội mới.
Ngày 14 tháng 6 năm 2005 Bộ Luật Dân Sự mới ra đời trên cơ sở kế
thừa có chọn lọc và phát triển những qui định trong Bộ Luật Dân Sự 1995,
đánh dấu một bước tiến mới trong q trình pháp điển hố, góp phần hồn
thiện hơn cơ sở pháp lý, chuẩn mực pháp lý cho các quan hệ dân sự theo
nghĩa rộng. Trong đó các qui định về bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự
được sửa đổi theo hướng đầy đủ và chuẩn xác hơn.
Các giao dịch dân sự diễn ra ngày càng phổ biến, đặc biệt hoạt động
vay tiền là nhu cầu thiết yếu, để đảm bảo tính an tồn trong giao dịch, biện
pháp thế chấp thường do các bên lựa chọn sử dụng. Tuy nhiên trong q
trình thực hiện cho vay thế chấp tài sản đã xảy ra một số vướng mắc, bất

3. Phạm vi nghiên cứu đề tài
Đề tài “Thế chấp để đảm bảo nghĩa vụ trả nợ trong hợp đồng vay
tiền - thực trạng tại Tòa án nhân dân huyện Duy Xun tỉnh Quảng
Nam từ 2010-2012” tập trung nghiên cứu những vấn đề sau:
- Khái qt về thế chấp để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ trả nợ và
những vấn đề liên quan.
- Phân tích những qui định pháp luật hiện hành về nội dung và yếu tố
cấu thành của thế chấp để bảo đảm nghĩa vụ trả nợ trong hợp đồng vay tiền.
Qua đó đánh giá thực tiễn áp dụng pháp luật về thế chấp tài sản để bảo đảm
thực hiện nghĩa vụ trả nợ tại địa bàn huyện Duy Xun tỉnh Quảng Nam.
SVTH: Nguyễn Thò Thảo Sương
8
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS. Hoàng Ngọc Thanh
- Đưa ra kiến nghị nhằm hồn thiện pháp luật về thế chấp tài sản bảo
đảm thực hiện nghĩa vụ trả nợ.
4. Mục đích nghiên cứu đề tài
Khố luận nhằm mục đích làm sáng tỏ những qui định mới về thế
chấp để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ trả nợ theo pháp luật dân sự, phân tích
các yếu tố pháp lý cấu thành biện pháp thế chấp, tìm hiểu thực trạng áp
dụng pháp luật thế chấp, đưa ra những kiến nghị hồn thiện các qui định
của pháp luật thế chấp.
5. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
Ý nghĩa khoa học của đề tài là góp phần tạo điều kiện cho biện pháp
thế chấp được hồn thiện và phát huy hết những tiện ích mà nó mang lại.
Đề tài là cơng trình nghiên cứu có giá trị tham khảo cho những người làm
cơng tác pháp luật trong q trình hồn thiện những quy định của pháp luật
về thế chấp tài sản. Đồng thời, có thể làm tài liệu học tập cho các bạn sinh
viên có nhu cầu tìm hiểu. Bên cạnh đó về mặt thực tiễn, việc nghiên cứu đề
tài mang lại những lợi ích thiết thực cho bên vay và bên cho vay trong việc
thế chấp tài sản.

NGHĨA VỤ TRẢ NỢ TRONG HỢP ĐỒNG VAY TIỀN
1.1. Khái niệm, đặc điểm của các biện pháp bảo đảm thực hiện
nghĩa vụ dân sự
1.1.1. Khái niệm
Việc thực hiện nghĩa vụ theo hợp đồng trước hết dựa vào sự tự giác
của người có nghĩa vụ, song khơng phải bất cứ chủ thể nào khi tham gia
vào quan hệ cũng đều tự giác thực hiện các nghĩa vụ mà họ đã cam kết.
Trong quan hệ pháp luật dân sự nói chung và quan hệ hợp đồng nói riêng
thì yếu tố tài sản liên quan đến lợi ích của các chủ thể làm tiền đề. Để đảm
bảo quyền chủ động của người có quyền trong quan hệ nghĩa vụ khơng phụ
thuộc vào hành vi của người khác và để thỏa mãn u cầu của mình khi
người có nghĩa vụ khơng thực hiện hoặc thực hiện khơng đúng nghĩa vụ
theo hợp đồng, pháp luật dân sự cho phép các bên có thể thỏa thuận các
biện pháp bảo đảm.
Việc xác lập các giao dịch bảo đảm ln hướng tới mục tiêu bảo vệ
quyền lợi của các bên tham gia giao dịch, đặc biệt là quyền lợi của bên có
quyền. Áp dụng biện pháp bảo đảm, bên có quyền khơng chỉ có quyền theo
hợp đồng buộc bên có nghĩa vụ thực hiện nghĩa vụ, mà còn có quyền u
cầu cơ quan có thẩm quyền xử lý tài sản mà bên có nghĩa vụ dùng để đảm
bảo. Vì vậy, việc áp dụng các biện pháp bảo đảm là rất cần thiết.
Qua sự phân tích ở trên cho thấy, việc áp dụng các biện pháp bảo đảm
có ý nghĩa rất quan trọng, một mặt các biện pháp này bảo vệ quyền lợi của
các bên, tạo điều kiện cho các bên có quyền có thể chủ động hưởng quyền
dân sự trên thực tế. Mặt khác, nó bảo đảm sự ổn định của các quan hệ
nghĩa vụ, tránh được các tranh chấp phát sinh từ việc khơng thực hiện hoặc
SVTH: Nguyễn Thò Thảo Sương
11
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS. Hoàng Ngọc Thanh
có thực hiện nhưng khơng đầy đủ nghĩa vụ của bên có nghĩa vụ. Chính vì
vậy, pháp luật qui định các biện pháp bảo đảm và cho phép các bên có thể

các biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ trong các giao dịch dân sự hồn
tồn phụ thuộc vào sự thoả thuận của các bên trong phạm vi pháp luật cho
phép. Tuy nhiên, trong quan hệ hợp đồng, có những trường hợp mà pháp
luật qui định bắt buộc phải có biện pháp bảo đảm. Ví dụ: Hợp đồng cho
vay mà bên vay là Ngân hàng, biện pháp bảo đảm tiền vay là biện pháp thế
chấp. Nhưng dù pháp luật có qui định người vay phải có thế chấp thì quyền
thoả thuận của các bên cũng khơng hề mất đi, các bên có thể cùng nhau
thoả thuận về đối tượng, phương thức xử lý tài sản thế chấp …
- Đối tượng của biện pháp bảo đảm là tài sản (trừ biện pháp tín chấp)
Quan hệ nghĩa vụ dân sự là những quan hệ mang tính tài sản, do đó
đối tượng của biện pháp bảo đảm trong các quan hệ này khơng thể là quyền
nhân thân. Quyền nhân thân là quyền gắn liền với mỗi cá nhân, đó là quyền
khơng thể tách rời và chuyển giao cho người khác được. Ví dụ: Trong quan
hệ vay nợ, lợi ích của bên cho vay sẽ khơng được bảo đảm khi tài sản bảo
đảm là quyền nhân thân của người vay (như quyền đối với hình ảnh). Bởi
vì, khi có sự vi phạm nghĩa vụ người cho vay khơng thể đem quyền về hình
ảnh ra xử lý để thu hồi nợ. Hơn nữa, khơng thể dùng quyền nhân thân để
thay thế quyền tài sản, quyền tài sản ln bị chi phối bởi qui luật giá trị
(qui luật đền bù ngang giá) một tài sản bị mất hoặc giảm sút giá trị chỉ có
thể bù đắp, thay thế bằng một tài sản khác hoặc giá trị tài sản khác. Quyền
và lợi ích của các bên trong quan hệ chỉ có thể bảo đảm bằng các lợi ích vật
chất. Do đó, đối tượng của biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ chỉ có thể
là tài sản.
Tài sản bảo đảm có thể là vật, vật hiện có hoặc hình thành trong tương
lai, giấy tờ có giá được bằng tiền, quyền tài sản… những tài sản này phải
thuộc sở hữu của bên bảo đảm và được phép giao dịch.
- Biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự là biện pháp mang
tính chất bổ sung cho nghĩa vụ chính.
Khi giao kết hợp đồng, yếu tố đầu tiên để đạt được sự thỏa thuận, giao
SVTH: Nguyễn Thò Thảo Sương

nghĩa vụ hiện tại hay nghĩa vụ có điều kiện. Dù là nghĩa vụ nào đi chăng
nữa thì giới hạn của bảo đảm ln là tồn bộ nghĩa vụ.
SVTH: Nguyễn Thò Thảo Sương
14
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS. Hoàng Ngọc Thanh
Các bên trong quan hệ có thể thoả thuận phạm vi bảo đảm nhưng thoả
thuận của các bên chỉ giới hạn trong tồn bộ nghĩa vụ của bên có nghĩa vụ.
Phạm vi bảo đảm khơng thể vượt q nghĩa vụ của bên có nghĩa vụ. Nếu
vượt q có nghĩa là vi phạm pháp luật dân sự. Và sự thoả thuận của các
bên khơng được pháp luật cơng nhận, biện pháp bảo đảm sẽ vơ hiệu.
Một yếu tố nữa chi phối phạm vi bảo đảm đó là tính khơng phụ thuộc
vào qui luật giá trị. Trong thực tế, cho dù người có nghĩa vụ đưa ra một tài
sản bảo đảm có giá trị lớn hơn nhiều so với giá trị nghĩa vụ được bảo đảm
thì các bên cũng khơng thể thoả thuận phạm vi bảo đảm bằng với giá trị tài
sản. Bởi người có nghĩa vụ chỉ phải thực hiện nghĩa vụ đã xác định.
- Xử lý tài sản bảo đảm: Tài sản bảo đảm chỉ được đưa ra xử lý khi có
sự vi phạm nghĩa vụ (Trừ trường hợp các bên có thoả thuận khác hoặc
pháp luật có quy định khác).
Bên có nghĩa vụ được coi là có sự vi phạm nghĩa vụ khi họ khơng
thực hiện hoặc thực hiện khơng đúng nghĩa vụ của mình gây ra thiệt hại
cho bên có quyền. Biện pháp bảo đảm là biện pháp có chức năng dự phạt,
đây là chức năng quan trọng, chức năng dự phạt có ý nghĩa dự báo trước
hậu quả bên có nghĩa vụ phải chịu khi vi phạm nghĩa vụ. Hậu quả đó là tài
sản bảo đảm cho việc thực hiện nghĩa vụ được đưa ra xử lý. Tài sản bảo
đảm sẽ được xử lý theo thoả thuận của các bên, nếu các bên khơng có thoả
thuận thì tài sản sẽ được xử lý theo qui định pháp luật. Khi nghĩa vụ chính
được thực hiện, tài sản bảo đảm sẽ được hồn trả cho bên bảo đảm, biện
pháp bảo đảm đương nhiên chấm dứt.
Các qui định về biện pháp bảo đảm giúp các bên tin tưởng vào nhau,
thúc đẩy giao lưu dân sự phát triển. Cùng với sự phát triển kinh tế xã hội,

nghĩa vụ dân sự bằng biện pháp bảo đảm mang tính chất tài sản. Bên có
quyền có thể u cầu hoặc cùng với bên có nghĩa vụ hoặc người thứ ba
thoả thuận về bảo đảm thực hiện nghĩa vụ bằng các biện pháp bảo đảm
bằng tài sản .
Hai biện pháp bảo đảm đối vật điển hình đó là cầm cố và thế chấp tài
sản. Điều 342 BLDS 2005 qui định “thế chấp tài sản là việc một bên dùng
SVTH: Nguyễn Thò Thảo Sương
16
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS. Hoàng Ngọc Thanh
tài sản thuộc sở hữu của mình để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ đối với bên
kia mà khơng có sự chuyển giao tài sản đó cho bên nhận thế chấp”. Điều
326 BLDS 2005 qui định “Cầm cố tài sản là việc một bên giao tài sản
thuộc quyền sở hữu của mình cho bên kia để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ
dân sự”.
Yếu tố tài sản là điểm khác biệt giữa hai hình thức bảo đảm đối nhân
và bảo đảm đối vật. Trong bảo đảm đối vật, bên có nghĩa vụ có thể dùng tài
sản thuộc sở hữu của mình hoặc của người thứ ba để cầm cố hoặc thế chấp
cho bên có quyền.
Sự phân biệt giữa hai hình thức bảo đảm này tạo điều kiện thuận lợi
và dễ dàng cho các bên khi lựa chọn biện pháp bảo đảm phù hợp cho từng
giao dịch dân sự.
1.3. Khái niệm, đặc trưng của biện pháp thế chấp tài sản
1.3.1. Khái niệm biện pháp thế chấp tài sản
Trong đời sống sinh hoạt, quan hệ vay tài sản là một quan hệ khơng
thể thiếu. Đây là loại quan hệ chứa đựng nhiều rủi ro, ảnh hưởng đến lợi
ích của các bên trong quan hệ. Vì vậy, khi xác lập quan hệ vay tài sản, điều
đầu tiên các bên quan tâm là lợi ích của mình sẽ được bảo đảm như thế nào.
Mặt khác, do u cầu của hoạt động sản xuất kinh doanh mà việc giao tài
sản bảo đảm cho bên có quyền nắm giữ khơng những ảnh hưởng trực tiếp
tới sản xuất kinh doanh của bên có nghĩa vụ mà quyền lợi của bên có quyền

Trong thế chấp tài sản, bên thế chấp khơng phải chuyển giao tài sản
cho bên nhận thế chấp mà vẫn trực tiếp nắm giữ tài sản đó, bên nhận thế
chấp chỉ phải chuyển giao các giấy tờ pháp lý (như giấy chứng nhận quyền
sở hữu tài sản). Đây là một đặc trưng riêng biệt của biện pháp thế chấp.
Trong một số trường hợp nếu các bên có thỏa thuận thì tài sản thế chấp có
thể giao cho người thứ ba quản lý. Đây là điểm khác biệt với cầm cố.
Sự khơng chuyển giao tài sản khơng hề ảnh hưởng tới quyền lợi của
bên nhận thế chấp. Bên thế chấp là người trực tiếp nắm giữ tài sản thế chấp
nhưng khơng thể định đoạt tài sản thế chấp, do giấy tờ pháp lý liên quan
đến tài sản đang do bên nhận thế chấp giữ.
- Thứ hai, trong quan hệ thế chấp một tài sản có thể bảo đảm cho
SVTH: Nguyễn Thò Thảo Sương
18
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS. Hoàng Ngọc Thanh
nhiều nghĩa vụ.
Điều này xuất phát từ bản chất của thế chấp, đó là khơng có sự chuyển
giao tài sản thế chấp. Khoản 1 Điều 324 BLDS 2005 qui định : “ Một tài
sản có thể dùng để đảm bảo thực hiện nhiều nghĩa vụ dân sự, nếu tài sản
đó có giá trị tại thời điểm xác lập giao dịch bảo đảm lớn hơn tổng giá trị
các nghĩa vụ được bảo đảm, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc pháp
luật có qui định khác”.
Tuy nhiên, trong quan hệ dân sự quyền thỏa thuận của các bên ln
được coi trọng, chính vì vậy các bên có thể thỏa thuận dùng một tài sản có
giá trị bằng hoặc nhỏ hơn tổng giá trị các nghĩa vụ được bảo đảm để bảo
đảm cho nghĩa vụ đó. Điều 5 Nghị định 163/2006/NĐ - CP ngày 19/12/2006
về giao dịch bảo đảm qui định: “Trường hợp bên bảo đảm dùng một tài
sản để bảo đảm thực hiện nhiều nghĩa vụ dân sự thì các bên có thể thỏa
thuận dùng tài sản có giá trị nhỏ hơn, bằng hoặc lớn hơn tổng giá trị các
nghĩa vụ được bảo đảm, trừ trường hợp pháp luật có qui định khác”.
- Thứ ba, biện pháp thế chấp đáp ứng linh hoạt lợi ích của các bên

thế chấp:
Bên thế chấp là bên có nghĩa vụ dùng tài sản thuộc sở hữu của mình
để bảo đảm cho việc thực hiện nghĩa vụ trả nợ. Bên thế chấp cũng có thể là
người thứ ba trong trường hợp thế chấp bằng tài sản của người thứ ba.
Trước đây, Điều 346 Bộ luật dân sự 1995 qui định bên thế chấp chỉ có thể
là người có nghĩa vụ. Theo qui định Bộ Luật Dân Sự 2005, bên thế chấp có
thể là người thứ ba dùng tài sản thuộc sở hữu của mình bảo đảm cho việc
thực hiện nghĩa vụ của người có nghĩa vụ.
Bên nhận thế chấp là bên có quyền, là chủ nợ có bảo đảm và được
quyền ưu tiên đối với tài sản bảo đảm.
Khi tham gia vào quan hệ thế chấp, các chủ thể của thế chấp tài sản
phải đáp ứng đầy đủ qui định của pháp luật về điều kiện chủ thể và có tài
sản bảo đảm …
Pháp luật dân sự hiện hành qui định chủ thể của các giao dịch dân sự
là cá nhân, pháp nhân, hộ gia đình, tổ hợp tác. Vậy chủ thể của biện pháp
thế chấp tài sản có thể là cá nhân, pháp nhân, hộ gia đình, tổ hợp tác. Các
chủ thể này khi tham gia vào các giao dịch dân sự nói chung và thế chấp
nói riêng đều phải thoả mãn các điều kiện của pháp luật đối với chủ thể của
SVTH: Nguyễn Thò Thảo Sương
20
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS. Hoàng Ngọc Thanh
giao dịch. Nếu chủ thể là cá nhân thì phải đạt độ tuổi nhất định (18 tuổi) và
có đầy đủ năng lực hành vi dân sự, chỉ khi cá nhân nhận thức, làm chủ hành
vi của mình họ mới có thể thực hiện được quyền và nghĩa vụ của mình phát
sinh từ quan hệ thế chấp. Trường hợp chủ thể của quan hệ thế chấp là pháp
nhân, hộ gia đình, tổ hợp tác thì họ phải có người đại diện theo pháp luật và
việc tham gia quan hệ thế chấp phải phù hợp với các qui định của pháp luật
cũng như điều lệ của pháp nhân đó.
1.6. Đối tượng của thế chấp
Một tài sản là đối tượng của biện pháp thế chấp phải đáp ứng những

• Thứ hai, đối tượng thế chấp là động sản. Đây là qui định hồn tồn
mới, tiến bộ của Bộ Luật Dân Sự 2005. Qui định động sản là đối tượng của
thế chấp đã tạo ra rất nhiều cơ hội và điều kiện thuận lợi cho các chủ thể
của thế chấp, đặc biệt trong trường hợp bên thế chấp là doanh nghiệp.
Trước đây, Bộ Luật Dân Sự 1995 qui định những tài sản là động sản có giá
trị lớn như dây chuyền sản xuất, máy móc, thiết bị… khơng thuộc đối
tượng thế chấp, khi có nhu cầu về vốn các bên chỉ có thể lựa chọn biện
pháp cầm cố, điều này sẽ gây khó khăn cho hoạt động sản xuất kinh doanh
của các doanh nghiệp. Vì, khi lựa chọn biện pháp cầm cố, doanh nghiệp sẽ
phải chuyển giao tài sản đó cho bên nhận cầm cố, như vậy bên cầm cố
khơng được tiếp tục khai thác cơng dụng của tài sản đó nữa, dẫn đến hoạt
động sản xuất kinh doanh sẽ bị ngưng trệ. Qui định của BLDS 1995 khơng
những hạn chế khả năng tham gia giao dịch của các tài sản mà còn gây khó
khăn cho các chủ thể thiếu vốn trong việc huy động vốn phục vụ nhu cầu
sản xuất kinh doanh, nhu cầu tiêu dùng. Bởi lẽ, trong nhiều trường hợp,
ngay cả khi có nhu cầu thì tổ chức cá nhân cũng khơng được dùng bất động
sản để cầm cố, cũng như khơng được dùng động sản để thế chấp nhằm bảo
đảm cho việc thực hiện nghĩa vụ dân sự. Có thể lấy ví dụ như sau: Doanh
nghiệp A thiếu vốn để duy trì hoạt động, khơng còn bất động sản để thế
chấp vay vốn ngân hàng, tài sản doanh nghiệp còn là hệ thống dây chuyền
sản xuất, máy móc, thiết bị phục vụ sản xuất…Đây là những động sản có
giá trị lớn, lại khơng thuộc đối tượng thế chấp, doanh nghiệp muốn vay vốn
chỉ có thể lựa chọn biện pháp cầm cố, điều này sẽ gây khó khăn cho hoạt
SVTH: Nguyễn Thò Thảo Sương
22
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS. Hoàng Ngọc Thanh
động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Vì khi lựa chọn biện pháp
cầm cố, doanh nghiệp sẽ phải chuyển giao quyền sở hữu tài sản đó cho bên
nhận cầm cố, và doanh nghiệp sẽ khơng được tiếp tục khai thác cơng dụng
của tài sản đó nữa. Như vậy, đã khơng giải quyết được khó khăn, cầm cố

+ Trong thời hạn sử dụng đất.
Như vậy, khi thực hiện quyền thế chấp và nhận thế chấp quyền sử
dụng đất các chủ thể được nhà nước giao đất hoặc cho th đất phải tn
theo qui định pháp luật đất đai bên cạnh tn theo qui định trong BLDS
2005 để thực hiện đúng theo pháp luật.
- Quyền sử dụng rừng, quyền sở hữu rừng sản xuất là rừng trồng. Pháp
luật đất đai cho phép các chủ thể được nhà nước giao đất hoặc cho th đất
để sản xuất theo từng trường hợp pháp luật qui định được phép thế chấp
quyền sử dụng rừng, quyền sở hữu rừng sản xuất là rừng trồng làm tài sản
thế chấp để đảm bảo các khoản vay.
- Quyền đòi nợ : Theo qui định tại Khoản 1, Điều 22 Nghị định
163/2006/NĐ-CP về giao dịch đảm bảo thì bên có quyền đòi nợ được thế
chấp một phần hoặc tồn bộ quyền đòi nợ, bao gồm cả quyền đòi nợ hình
thành trong tương lai mà khơng cần có sự đồng ý của bên có nghĩa vụ trả
nợ. Khi đó bên nhận thế chấp sẽ trở thành bên có quyền u cầu bên có
nghĩa vụ trả nợ cho mình khi bên thế chấp khơng thực hiện hoặc thực hiện
khơng đúng nghĩa vụ khi đến hạn. Việc Nghị định số 163/2006/NĐ- CP
giành ra hẳn một điều qui định về việc thế chấp quyền đòi nợ cho thấy thế
chấp tài sản là quyền đòi nợ trong bối cảnh kinh tế hiện nay diễn ra ngày
càng phổ biến. Đây là qui định hồn tồn mới về tài sản thế chấp so với
những qui định về đảm bảo thực hiện nghĩa vụ dân sự trước đây.
•Thứ tư, Pháp luật dân sự hiện hành qui định, đối tượng thế chấp có
thể là vật hiện có hoặc hình thành trong tương lai [14, Đ342]. Việc BLDS
2005 qui định tài sản hình thành trong tương lai là đối tượng thế chấp cho
thấy một bước tiến lớn trong các quy định về giao dịch dân sự. Điều 326
BLDS 1995 chỉ qui định ngun tắc chung là vật bảo đảm thực hiện nghĩa
vụ dân sự phải thuộc quyền sở hữu của người bảo đảm và được phép giao
dịch, chưa qui định rõ vật được dùng để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự
phải đang hiện hữu hay có thể là tài sản được hình thành trong tương lai.
SVTH: Nguyễn Thò Thảo Sương

giao dịch bảo đảm, bên bảo đảm chưa hồn tồn xác lập quyền sở hữu đầy
SVTH: Nguyễn Thò Thảo Sương
25

Trích đoạn Thế chấp quyền sử dụng đất Thế chấp tàu bay, tàu biển Thế chấp tài sản hình thành trong tương lai Bảng số liệu thực trạng xét xử các vụ án tranh chấp hợp đồng vay tài sản cĩ sử dụng Đánh giá thực trạng thế chấp để đảm bảo thực hiện nghĩa vụ trả nợ trong hợp đồng
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status