BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ TƢ PHÁP
TRƢỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
----------------------
TRẦN LỆNH HÀ
BẢO ĐẢM QUYỀN TRANH TỤNG
CỦA ĐƢƠNG SỰ TRONG BỘ LUẬT TỐ TỤNG DÂN SỰ
NĂM 2015 VÀ THỰC TIỄN TẠI TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN LỘC BÌNH, TỈNH LẠNG SƠN
LUẬN VĂN THẠC SỸ LUẬT HỌC
HÀ NỘI, NĂM 2018
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ TƢ PHÁP
TRƢỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
----------------------
TRẦN LỆNH HÀ
BẢO ĐẢM QUYỀN TRANH TỤNG
CỦA ĐƢƠNG SỰ TRONG BỘ LUẬT TỐ TỤNG DÂN SỰ
NĂM 2015 VÀ THỰC TIỄN TẠI TÒA ÁN NHÂN DÂN
BLTTDS
Bộ luật tố tụng dân sự
TAND
Tòa án nhân dân
TTDS
Tố tụng dân sự
VADS
Vụ án dân sự
VKS
Viện kiểm sát
VKSND
Viện kiểm sát nhân dân
MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU ........................................................................................................1
CHƢƠNG 1. NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ BẢO ĐẢM QUYỀN TRANH
2.1.3. Nguyên nhân của một số hạn chế, tồn tại trong việc bảo đảm thực hiện quyền
tranh tụng của đương sự trong tố tụng dân sự..........................................................61
2.2. Một số kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả bảo đảm quyền tranh tụng của
đƣơng sự trong tố tụng dân sự ...............................................................................65
2.2.1. Một số kiến nghị hoàn thiện các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự năm
2015 về bảo đảm quyền tranh tụng của đương sự ....................................................65
2.2.2. Một số kiến nghị khác nhằm nâng cao hiệu quả bảo đảm quyền tranh tụng
của đương sự trong tố tụng dân sự tại Tòa án nhân dân huyện Lộc Bình ................68
KẾT LUẬN CHƢƠNG 2 ........................................................................................72
KẾT LUẬN ..............................................................................................................73
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
1
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Xây dựng và hoàn thiện bộ máy Nhà nước, bộ máy cơ quan tiến hành tố tụng
và pháp luật về tố tụng để góp phần bảo vệ quyền con người, quyền công dân là một
trong những nhiệm vụ trọng tâm mà Đảng, Nhà nước và Nhân dân ta đang hướng
tới. Công cuộc cải cách tư pháp nói chung mà trọng tậm là đổi mới hoạt động xét xử
của Tòa án nói riêng do Đảng ta khởi xướng đã đạt được những thành tựu nhất định,
góp phần quan trọng vào việc đẩy mạnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ
nghĩa và phát triển kinh tế - xã hội đất nước. Nhìn chung, trong thời gian qua, ngành
Tòa án nhân dân (TAND) luôn hoàn thành nhiệm vụ trọng tâm là xét xử, giải quyết
các vụ việc thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau, qua đó góp phần giữ vững an ninh
chính trị, trật tự an toàn xã hội, tạo môi trường ổn định cho sự phát triển kinh tế, hội
nhập quốc tế, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Hiện nay, công cuộc Đổi mới đất nước
đang được đẩy mạnh hơn và đi vào chiều sâu. Bên cạnh những thành tựu nhất định,
mặt trái của nền kinh tế thị trường đã tác động đến xã hội làm gia tăng tội phạm, đặc
thạc sỹ luật học.
2. Tình hình nghiên cứu
Dưới góc độ khoa học pháp lý, tranh tụng không phải là vấn đề mới nhưng
vẫn giữ nguyên được tính thời sự. Ngay từ trước và sau khi có BLTTDS năm 2004
sửa đổi, bổ sung năm 2011 đã có một số công trình khoa học pháp lý nghiên cứu về
vấn đề này như:
- Kỷ yếu hội thảo của Nhà pháp luật Việt – Pháp ngày 18/01/2002 về “Một số
nội dung về nguyên tắc tố tụng xét hỏi và tranh tụng. Kinh nghiệm của Pháp trong
việc tuyển chọn, bồi dưỡng, bổ nhiệm và quản lý Thẩm phán”;
- Luận văn thạc sỹ luật học “Tranh tụng tại phiên tòa sơ thẩm, một số vấn đề
lý luận và thực tiễn” của tác giả Nguyễn Thị Thu Hà bảo vệ tại Trường Đại học Luật
Hà Nội năm 2002;
- Bài viết “Vấn đề tranh tụng trong TTDS” của tác giả Nguyễn Công Bình
đăng trên Tạp chí Luật học số 6/2003;
- Bài viết “Bản chất của tranh tụng tại phiên tòa” của tác giả Trần Văn Độ
đăng trên tạp chí Khoa học Pháp lý số 4/2004;
- Đề tài cấp cơ sở “Tranh tụng trong TTDS Việt Nam trước yêu cầu cải cách
tư pháp” do Trường Đại học Luật Hà Nội thực hiện năm 2011;
- Bài viết “Nguyên tắc tranh tụng trong TTDS” của tác giả Mai Bộ đăng trên
3
trang Web của TAND tối cao năm 2014 v.v…
Sau khi BLTTDS năm 2015 được ban hành với rất nhiều điểm mới, tiến bộ,
đã có một số công trình nghiên cứu đến vấn đề tranh tụng như:
- Luận văn thạc sỹ luật học của Đoàn Thị Xuân Sơn về “Bảo đảm tranh tụng
trong TTDS Việt Nam” năm 2015;
- Luận văn thạc sỹ luật học của Trịnh Văn Chung về “Nguyên tắc tranh tụng
trong TTDS Việt Nam” năm 2016;
tranh tụng của đương sự trong TTDS, các yếu tố bảo đảm thực hiện quyền tranh
tụng của đương sự trong TTDS và sự thể hiện việc bảo đảm quyền tranh tụng của
đương sự qua các quy định của BLTTDS năm 2015;
Thứ hai, luận văn chủ yếu tập trung nghiên cứu bảo đảm quyền tranh tụng
của đương sự trong quá trình giải quyết VADS tại Tòa án ở các giai đoạn sơ thẩm,
phúc thẩm và giám đốc thẩm, tái thẩm. Còn bảo đảm quyền tranh tụng của đương
sự trong quá trình giải quyết VADS theo thủ tục rút gọn và thủ tục giải quyết việc
dân sự sẽ được nghiên cứu ở công trình tiếp theo.
Thứ ba, luận văn tập trung nghiên cứu về bảo đảm pháp lý và việc tổ chức
thực hiện việc bảo đảm quyền tranh tụng của đương sự trong TTDS, tập trung phân
tích, đánh giá những kết quả đã đạt được và những hạn chế, bất cập còn tồn tại
trong thực tiễn áp dụng pháp luật về bảo đảm quyền tranh tụng của đương sự trong
TTDS tại TAND huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn. Từ đó, đề xuất một số kiến nghị
giải pháp về lập pháp và tổ chức thi hành pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả bảo
đảm quyền tranh tụng của đương sự trong TTDS tại TAND huyện Lộc Bình.
4. Phƣơng pháp nghiên cứu đề tài
Dưới góc độ phương pháp chung, đề tài được nghiên cứu dựa trên cơ sở
phương pháp luận của chủ nghĩa Mác – Lênin là chủ nghĩa duy vật biện chứng và
chủ nghĩa duy vật lịch sử. Bên cạnh đó là tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của
Đảng Cộng sản Việt Nam về nhà nước và pháp luật, đặc biệt là chủ trương, đường
lối của Đảng về cải cách tư pháp trong giai đoạn hiện nay.
Với phương pháp nghiên cứu chung như trên, các phương pháp nghiên cứu
cụ thể được sử dụng trong luận văn là: liệt kê, so sánh, đối chiếu, phân tích và tổng
hợp.
5. Đóng góp của Luận văn
Đây là công trình nghiên cứu về tranh tụng trong TTDS Việt Nam dưới góc
độ tiếp cận là một quyền của đương sự và cơ chế bảo đảm quyền, nên có những
5
tại Hy Lạp cổ đại, sau đó nó được đưa vào La Mã với tên gọi “thủ tục hỏi đáp liên
tục”1. Từ đó đến nay, tranh tụng tiếp tục được kế thừa, phát triển và được áp dụng
hầu hết ở các nước thuộc hệ thống luật lục địa cũng như hệ thống luật án lệ, trở
thành loại hình tố tụng phổ biến nhất bên cạnh loại hình tố tụng thẩm vấn và mô
hình hỗn hợp. Có thể nói, tranh tụng là kết tinh của nền tư pháp dân chủ.
Ở Việt Nam, “tranh tụng” được xuất hiện lần đầu tiên tại Nghị quyết số 08NQ/TW ngày 02/01/2001 của Bộ Chính trị về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác
tư pháp trong thời gian tới. Theo đó, Nghị quyết này đã đề cập đến thuật ngữ “tranh
tụng” qua việc xác định định hướng mới trong hoạt động của các cơ quan tư pháp là
“…Việc phán quyết của Tòa án phải căn cứ chủ yếu vào kết quả tranh tụng tại
phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện các chứng cứ, ý kiến của kiểm sát
viên, nguyên đơn, bị đơn và những người có quyền, lợi ích hợp pháp để ra những
bản án, quyết định đúng pháp luật, có sức thuyết phục và trong thời hạn pháp luật
quy định”2. Trên cơ sở kết quả triển khai thực hiện Nghị quyết trên, Bộ chính trị đã
ban hành Nghị quyết số 48-NQ/TW ngày 24/5/2005 về Chiến lược xây dựng và
hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020,
1
Xem: Nhà pháp luật Việt - Pháp (2002), Một số nội dung về nguyên tắc tố tụng xét hỏi và tranh tụng. Kinh
nghiệm của Pháp trong việc tuyển chọn, bồi dưỡng, bổ nhiệm, quản lý Thẩm phán, Hà Nội, tr. 2.
2
Đảng Cộng sản Việt Nam (2002), Nghị quyết 08 - NQ/TƯ ngày 02/01/2002 của Bộ chính trị, Ban chấp hành
Trung ương Đảng khóa IX về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới.
7
khẳng định: “…Bảo đảm chất lượng tranh tụng tại các phiên toà xét xử, lấy kết quả
tranh tụng tại tòa làm căn cứ quan trọng để phán quyết bản án, coi đây là khâu đột
phá để nâng cao chất lượng hoạt động tư pháp”3. Ngay sau đó, Nghị quyết số 49NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm
Xem khoản 5 Điều 103 Hiến pháp năm 2013.
6
Xem Điều 24 BLTTDS năm 2015.
7
Thiều Chửu (1993), Hán- Việt tự điển, Nxb TP.HCM, tr. 621.
8
Viện Khoa học pháp lý - Bộ tư pháp (2006), Từ điển Luật học, Nxb Tư pháp, Hà Nội, tr. 807, 808.
8
quyết cuối cùng về việc giải quyết vụ án đó, còn tranh luận chỉ là một phần của
phiên toà dân sự, nó là sự biểu hiện tập trung nhất của tranh tụng.
Dưới góc độ khoa học pháp lý, xung quanh thuật ngữ “tranh tụng” có nhiều
quan điểm khác nhau. Có quan điểm cho rằng: “Tranh tụng trong TTDS là phương
pháp giải quyết tranh chấp dân sự tại Tòa án, diễn ra trong quá trình tố tụng, theo
đó các bên đương sự xuất trình, trao đổi chứng cứ, lý lẽ, căn cứ pháp lý để chứng
minh, biện luận cho yêu cầu của mình; phản bác yêu cầu đối lập trước Tòa án và
kết quả của quá trình này được Tòa án sử dụng làm căn cứ để giải quyết vụ án”9.
Quan điểm khác lại cho rằng: “Tranh tụng trong TTDS là việc các bên đương sự
đưa ra, trao đổi về chứng cứ, lý lẽ, căn cứ pháp lý, lập luận đối lập, tranh luận với
nhau dựa trên những thủ tục do pháp luật quy định nhằm bảo vệ quyền lợi hợp
pháp của mình trước sự giám sát của Tòa án. Sự tranh tụng chứa đựng trong chính
hành vi khởi kiện”10. Các quan điểm này nghiên cứu tranh tụng dưới các góc độ
khác nhau. Tuy nhiên, theo tác giả, khái niệm tranh tụng thể hiện đầy đủ bản chất và
nội hàm của tranh tụng được hiểu như sau: Tranh tụng là quá trình làm rõ sự thật
khách quan của vụ án. Quá trình này phải được diễn ra liên tục từ khi nguyên đơn
khởi kiện yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền lợi hợp pháp của mình cho đến khi tòa án ra
quyết định giải quyết VADS. Theo đó các bên chủ thể tranh tụng dưới sự điều khiển
của tòa án được đưa ra chứng cứ, trao đổi chứng cứ, lý lẽ, căn cứ pháp lý để chứng
này mà gọi chung lại là quyền tranh tụng của đương sự phụ thuộc vào rất nhiều yếu
tố như khả năng tham gia TTDS của đương sự, sự hỗ trợ từ những người khác đối
với việc tham gia tố tụng của đương sự, trách nhiệm của các cơ quan tiến hành tố
tụng... Thông thường, để thực hiện được quyền tranh tụng của mình thì đương sự
phải có kiến thức pháp luật nhất định, có năng lực hành vi TTDS và trong trường
hợp cần thiết họ còn nhận được sự giúp đỡ pháp lý từ phía luật sư hay người khác.
Mặt khác, việc thực hiện quyền tranh tụng của đương sự phải thông qua Toà án là
cơ quan xét xử chịu trách nhiệm chính trong việc giải quyết VADS. Do đó, để
đương sự thực hiện được quyền tranh tụng của họ thì Toà án phải thực hiện đúng
các quy định của pháp luật TTDS khi giải quyết VADS. Đồng thời, Tòa án phải có
trách nhiệm giúp đỡ, tạo điều kiện cho đương sự thực hiện được quyền tranh tụng
của họ. Vì vậy, để đương sự bảo vệ được quyền và lợi ích hợp pháp trước Toà án thì
việc bảo đảm cho đương sự thực hiện quyền tranh tụng là rất cần thiết. Trước hết, ta
cần luận giải thế nào là quyền tranh tụng của đương sự trong TTDS.
Trong VADS, đương sự là cơ quan, tổ chức, cá nhân bao gồm nguyên đơn, bị
đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Trong đó, nguyên đơn trong VADS là
người khởi kiện, người được cơ quan, tổ chức, cá nhân khác do pháp luật quy định
khởi kiện để yêu cầu Tòa án giải quyết VADS khi cho rằng quyền và lợi ích hợp
pháp của người đó bị xâm phạm. Ngoài ra, cơ quan, tổ chức do pháp luật quy định
khởi kiện VADS để yêu cầu Tòa án bảo vệ lợi ích công cộng, lợi ích của Nhà nước
thuộc lĩnh vực mình phụ trách cũng là nguyên đơn.
12
Nguyễn Thị Thu Hà (Chủ nhiệm đề tài) (2011), Tlđd, tr. 10.
10
Bị đơn trong VADS là người bị nguyên đơn khởi kiện hoặc bị cơ quan, tổ
Hà Nội, tr. 454.
15
Viện Ngôn ngữ học (2006), Từ điển Tiếng Việt, Nxb Đà Nẵng, Hà Nội - Đà Nẵng, tr. 38.
14
11
trò và hiệu quả của chúng trong việc bảo đảm quyền tranh tụng của đương sự trong
TTDS. Theo đó, bảo đảm pháp lý quyền tranh tụng của đương sự trong TTDS là
bảo đảm cho đương sự thực hiện quyền tranh tụng bằng các quy định của pháp luật.
Hệ thống pháp luật cần quy định cụ thể quyền và nghĩa vụ của đương sự để đương
sự thực hiện việc tranh tụng, nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của Tòa án, VKS
và những người tiến hành tố tụng trong việc bảo đảm thực hiện quyền tranh tụng
của đương sự, về trách nhiệm phối hợp của cá nhân, cơ quan, tổ chức khác trong
việc hỗ trợ cho đương sự thực hiện quyền tranh tụng, về trình tự, thủ tục tố tụng
tranh tụng cụ thể, công khai, minh bạch. Tiếp đó, để các quy định của pháp luật
TTDS về bảo đảm quyền tranh tụng của đương sự được thực hiện trên thực tế thì
cần phải có cơ chế tổ chức thực hiện. Theo đó, các phương tiện thông tin đại chúng,
cả hệ thống chính trị và xã hội phải thực hiện việc tuyên truyền, phổ biến rộng rãi
pháp luật TTDS về bảo đảm quyền tranh tụng của đương sự, thực hiện cơ chế phối
hợp, hỗ trợ của cá nhân, cơ quan, tổ chức, thực hiện cơ chế giám sát hoạt động
TTDS của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng, thực hiện nâng cao
trình độ, chuyên môn nghiệp vụ cho những người tiến hành TTDS và kiện toàn hệ
thống tổ chức Tòa án.
Bởi vậy, bảo đảm quyền tranh tụng của đương sự trong TTDS là tổng hợp
các biện pháp, cách thức để cho các đương sự gồm nguyên đơn, bị đơn và người có
quyền lợi, nghĩa vụ liên quan thực hiện được trên thực tế quyền tranh tụng mà pháp
luật TTDS quy định để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình trước Toà án.
Bảo đảm quyền tranh tụng của đương sự trong TTDS có những đặc điểm cơ
luật quy định thì chắc chắn quyền tranh tụng của đương sự sẽ không được thực hiện
trên thực tế.
- Các biện pháp, cách thức bảo đảm quyền tranh tụng của đương sự trong
TTDS do pháp luật quy định
Để có cơ sở pháp lý cho các chủ thể có trách nhiệm thực hiện các biện pháp,
cách thức bảo đảm quyền tranh tụng của đương sự trong TTDS thì các biện pháp,
cách thức này phải được pháp luật quy định. Có như vậy, việc thực hiện các biện
pháp, cách thức bảo đảm quyền tranh tụng của đương sự trong TTDS mới hợp pháp.
13
1.2. Các yếu tố bảo đảm thực hiện quyền tranh tụng của đƣơng sự trong
tố tụng dân sự
1.2.1. Các quy định của pháp luật về bảo đảm quyền tranh tụng của đương
sự trong tố tụng dân sự
Pháp luật là công cụ để Nhà nước quản lý xã hội và bảo đảm các quyền con
người, quyền công dân được thực hiện. Với mục tiêu xây dựng Nhà nước pháp
quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân, Nhà nước ta không
ngừng xây dựng và hoàn thiện pháp luật, hướng đến việc bảo đảm tốt nhất quyền tố
tụng cho đương sự, trong đó có quyền tranh tụng khi tham gia vào TTDS, bảo đảm
người dân có quyền sử dụng pháp luật để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của
mình.
Hoạt động tranh tụng của đương sự trong TTDS muốn thực hiện có hiệu quả
phải được điều chỉnh bằng quy định của pháp luật. Điều này là tất yếu khách quan.
Pháp luật quy định trình tự, thủ tục, nội dung, cách thức thực hiện hoạt động tranh
tụng, quyền và nghĩa vụ của các chủ thể tham gia tranh tụng trong TTDS. Nói cách
khác, các quy định của pháp luật tạo ra hành lang pháp lý xác định rõ quyền và
nghĩa vụ của các chủ thể tham gia tranh tụng. Pháp luật chính là bảo đảm pháp lý
giữ vai trò quan trọng nhất trong việc bảo vệ, bảo đảm quyền tranh tụng của đương
cứ pháp lý, được đề nghị Tòa án xác minh, thu thập chứng cứ về những tình tiết của
vụ án mà tự mình không thể thực hiện được hoặc đề nghị Tòa án triệu tập người làm
chứng, được biết tài liệu, chứng cứ, căn cứ pháp lý, lý lẽ do bên kia cung cấp hoặc
chứng cứ do Tòa án thu thập, được tham gia phiên tòa, phát biểu ý kiến, tranh luận,
lập luận, đưa ra lý lẽ, chứng cứ công khai trước Tòa án...
Như vậy, Tòa án có vai trò quan trọng trong việc bảo đảm thực hiện quyền
tranh tụng của đương sự khi tham gia TTDS, tạo ra sự bình đẳng cho các chủ thể
tham gia tranh tụng, góp phần giải quyết đúng đắn vụ kiện. Tòa án nói chung và
Thẩm phán thụ lý vụ án nói riêng như người trọng tài “cầm cân nảy mực” phân xử
giữa các bên tham gia tranh tụng, duy trì trật tự phiên tòa và điều hành quá trình
tranh tụng, hướng quá trình tranh tụng vào việc giải quyết các yêu cầu của đương
sự, xem xét, đánh giá tính có căn cứ pháp lý và thực tiễn của các yêu cầu đó, cũng
như các tình tiết khác liên quan đến quan hệ pháp luật dân sự phát sinh tranh chấp
giữa các đương sự. Tòa án bảo đảm cho các đương sự thực hiện quyền tranh tụng
trong TTDS một cách bình đẳng, công khai và đúng pháp luật. Bản án, quyết định
của Tòa án được tuyên phải căn cứ vào kết quả tranh tụng dân chủ, công khai tại
phiên tòa. Đó là nhiệm vụ, quyền hạn, đồng thời cũng là trách nhiệm của Tòa án.
15
1.2.3. Cơ chế kiểm sát, giám sát hoạt động tranh tụng
Về nguyên tắc, để đảm bảo việc giải quyết tranh chấp của Tòa án không mắc
phải những sai lầm, tránh việc lạm quyền, thiếu công bằng, xâm phạm quyền tranh
tụng của đương sự thì cần có một cơ chế kiểm sát, giám sát hoạt động của Tòa án.
Nguyên lý chung trong tổ chức và thực thi quyền lực nhà nước là ở đâu có quyền
lực nhà nước, có tổ chức, thực thi quyền lực nhà nước thì phải có kiểm soát quyền
lực. Đó là đòi hỏi tất yếu khách quan.
Trong TTDS, Tòa án là cơ quan “toàn quyền” trong việc thụ lý, giải quyết
VADS, đồng thời, là “đầu mối” chịu trách nhiệm chính trong việc bảo đảm quyền
trong quan hệ pháp luật TTDS đều xuất phát từ quan hệ riêng tư của các bên. Theo
logic, các bên đượng sự phải là người trực tiếp tự giải quyết, tự quyết định. Do đó,
khi “nhờ” đến Tòa án, Thẩm phán sẽ chỉ tham gia với tư cách là “trọng tài” phân xử
trên cơ sở tôn trọng quyền tự định đoạt của đương sự. Vì lẽ đó, đòi hỏi đương sự
phải có sự hiểu biết pháp luật nhất định mới có thể tranh tụng như đương sự đưa ra
yêu cầu gì, cần phải biết thu thập tài liệu, chứng cứ ở đâu, bằng những biện pháp
pháp lý nào, cung cấp những chứng cứ nào cho Tòa án, tranh tụng tại phiên tòa thì
đặt các câu hỏi như thế nào với đương sự phía bên kia, chuẩn bị bản luận cứ để
tranh luận, đối đáp với đương sự phía bên kia như thế nào… Tự trả lời được những
câu hỏi này, đương sự mới có thể bảo vệ được quyền và lợi ích hợp pháp của mình
cũng như giúp Tòa án ra phán quyết kịp thời, chính xác và đúng pháp luật.
1.2.5. Sự hỗ trợ đương sự thực hiện quyền tranh tụng từ các cá nhân, cơ
quan, tổ chức
Trong nhiều trường hợp, để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình trong
tranh tụng, các đương sự cần có sự giúp đỡ từ người đại diện, người bảo vệ quyền
và lợi ích hợp pháp của mình, đặc biệt là vai trò của Luật sư trong tư vấn, hướng
dẫn cho đương sự nên làm thế nào để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp tốt nhất
trước Tòa án. Tại phiên tòa nói riêng và trong toàn bộ tiến trình tố tụng nói chung,
bằng sự am hiểu pháp luật và kinh nghiệm tham gia tố tụng, cùng khả năng hùng
biện, đưa ra lý lẽ, căn cứ pháp lý, lập luận sắc bén của các Luật sư sẽ giúp cho Tòa
án xem xét, đánh giá toàn diện vụ án từ đó bảo vệ được quyền và lợi ích hợp pháp
cho các đương sự. Với sự trợ giúp từ người đại diện, người bảo vệ quyền và lợi ích
hợp pháp, các đương sự khi tham gia vào tranh tụng sẽ có được nhận thức đầy đủ
hơn về pháp luật, có sự tự tin, từ đó tạo ra sự cân bằng giữa các bên đối tụng và ở
khía cạnh nào đó, mang lại sự chế ước hữu hiệu đối với Tòa án. Còn trong trường
hợp các cá nhân, cơ quan, tổ chức đang quản lý, lưu giữ tài liệu, chứng cứ thì sự hỗ
trợ, thái độ hợp tác của họ ảnh hưởng rất lớn đến việc đương sự có được đủ tài liệu,
17
Lê Thu Hà (2010), Tổ chức xét xử VADS đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà
Nội, tr. 295.
18
bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự thực hiện quyền tranh tụng trong xét
xử sơ thẩm, phúc thẩm, giám đốc thẩm và tái thẩm. Tòa án điều hành việc tranh
tụng, chỉ hỏi những vấn đề còn chưa rõ và căn cứ vào kết quả tranh tụng của các
bên đương sự để ra bản án, quyết định. Mọi phán quyết Tòa án đưa ra phải dựa trên
cơ sở bảo đảm mọi tài liệu, chứng cứ phải được xem xét đầy đủ, khách quan, toàn
diện, công khai, trừ trường hợp không được công khai theo quy định của pháp luật.
Như vậy, có thể thấy Điều 24 BLTTDS năm 2015 đã sửa đổi, bổ sung và
hoàn thiện nguyên tắc bảo đảm quyền tranh tụng của đương sự trong TTDS về
phạm vi thời gian, nội dung nguyên tắc và trách nhiệm của Tòa án trong việc bảo
đảm quyền tranh tụng cho đương sự.
1.3.1. Bảo đảm quyền tranh tụng của đương sự trong thủ tục sơ thẩm
1.3.1.1. Bảo đảm quyền đưa ra yêu cầu khởi kiện, yêu cầu phản tố và yêu
cầu độc lập
Khoản 1 Điều 14 Hiến pháp năm 2013 đã tuyên bố rất rõ ràng: “Ở nước
Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, các quyền con người, quyền công dân về
chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội được công nhận, tôn trọng, bảo vệ, bảo
đảm theo Hiến pháp và pháp luật”. Hiểu rộng ra, mọi tổ chức, cá nhân đều được
Nhà nước bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình, không phân biệt tôn giáo,
dân tộc, giới tính, quốc tịch… Khi các quyền và lợi ích hợp pháp của mình bị xâm
hại thì cá nhân, cơ quan, tổ chức có quyền yêu cầu cơ quan Nhà nước bảo vệ mình.
Một trong những phương thức để các chủ thể này tự bảo vệ khi quyền và lợi ích hợp
pháp bị xâm hại là khởi kiện vụ án tại TAND theo thủ tục TTDS18. Quyền khởi kiện
vụ án là cơ sở đầu tiên để đương sự thực hiện quyền tranh tụng trong TTDS. Để bảo
Một là, yêu cầu phản tố để bù trừ nghĩa vụ với yêu cầu của nguyên đơn,
người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập.
Hai là, yêu cầu phản tố được chấp nhận dẫn đến loại trừ việc chấp nhận một
phần hoặc toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan
có yêu cầu độc lập.
Ba là, giữa yêu cầu phản tố và yêu cầu của nguyên đơn, người có quyền lợi,
nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập có sự liên quan với nhau và nếu được giải
quyết trong cùng một vụ án thì làm cho việc giải quyết vụ án được chính xác và
nhanh hơn.
Ngoài việc giới hạn về mặt nội dung, pháp luật TTDS đã quy định rõ giới
hạn về thời điểm mà bị đơn có thể thực hiện quyền yêu cầu phản tố là trước thời
điểm mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải
theo khoản 3 Điều 200 BLTTDS năm 2015.
20
Xem thêm Điều 68 BLTTDS năm 2015.