BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ TƢ PHÁP
TRƢỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
----------------------
HOÀNG THỊ HẠNH
TRANH TỤNG TẠI PHIÊN TÒA DÂN SỰ SƠ THẨM
VÀ THỰC TIỄN TẠI TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN
LỘC BÌNH, TỈNH LẠNG SƠN
LUẬN VĂN THẠC SỸ LUẬT HỌC
HÀ NỘI, NĂM 2018
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ TƢ PHÁP
TRƢỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
----------------------
HOÀNG THỊ HẠNH
TRANH TỤNG TẠI PHIÊN TÒA DÂN SỰ SƠ THẨM
VÀ THỰC TIỄN TẠI TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN
LỘC BÌNH, TỈNH LẠNG SƠN
LUẬN VĂN THẠC SỸ LUẬT HỌC
: Hội đồng xét xử
LTCTAND
: Luật tổ chức Tòa án nhân dân
TAND
: Tòa án nhân dân
TANDTC
: Tòa án nhân dân tối cao
TTDS
: Tố tụng dân sự
VADS
: Vụ án dân sự
VKS
: Viện kiểm sát
VKSND
: Viện kiểm sát nhân dân
thẩm ................................................................................................................. 31
KẾT LUẬN CHƢƠNG 1 .............................................................................. 37
Chƣơng 2.THỰC TIỄN THỰC HIỆN PHÁP LUẬT TỐ TỤNG DÂN SỰ
VỀ TRANH TỤNG TẠI PHIÊN TÒA SƠ THẨM Ở TÒA ÁN NHÂN
DÂN HUYỆN LỘC BÌNH VÀ MỘT SỐ KIẾN NGHỊ ............................. 38
2.1. THỰC TIỄN THỰC HIỆN PHÁP LUẬT TỐ TỤNG DÂN SỰ VỀ
TRANH TỤNG TẠI PHIÊN TÒA SƠ THẨM Ở TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN LỘC BÌNH, TỈNH LẠNG SƠN ................................................... 38
2.1.1. Những kết quả đạt được ........................................................................ 38
2.1.2. Những hạn chế, vướng mắc .................................................................. 42
2.1.3. Nguyên nhân của hạn chế, vướng mắc ................................................. 69
2.2. MỘT SỐ KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ TRANH
TỤNG TẠI PHIÊN TÒA SƠ THẨM DÂN SỰ VÀ NÂNG CAO HIỆU
QUẢ TRANH TỤNG TẠI PHIÊN TÒA SƠ THẨM DÂN SỰ Ở TÒA ÁN
NHÂN DÂN HUYỆN LỘC BÌNH ............................................................... 70
2.2.1. Kiến nghị hoàn thiện pháp luật về tranh tụng tại phiên tòa sơ thẩm dân
sự ..................................................................................................................... 70
2.2.2. Kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả tranh tụng tại phiên tòa sơ thẩm dân
sự ở Tòa án nhân dân huyện Lộc Bình ........................................................... 72
KẾT LUẬN CHƢƠNG 2 .............................................................................. 78
KẾT LUẬN .................................................................................................... 79
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
1
PHẦN MỞ ĐẦU
1. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Nghị quyết 08-NQ/TƯ ngày 21/01/2002 của Bộ chính trị về một số
2
đầu tiên Hiến pháp năm 2013 quy định nguyên tắc bảo đảm tranh tụng trong
xét xử. Đây là nguyên tắc đặc biệt quan trọng, không chỉ là một phương thức
để tìm ra chân lý, nó còn có nghĩa là công cụ bảo vệ quyền con người và
quyền công dân trong một nhà nước pháp quyền, là cách thức để nâng cao
nhận thức, tạo ra một môi trường dân chủ, bình đẳng trong các quan hệ tố
tụng, buộc các chủ thể có thẩm quyền thực hiện các hành vi tố tụng một cách
nghiêm túc, đúng pháp luật, qua đó làm giảm thiểu các vi phạm pháp luật của
cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng, bảo vệ quyền và lợi ích
chính đáng của các bên khi tiến hành một quy trình tố tụng tại tòa3.
Vì vậy, BLTTDS năm 2015 với tư cách là ngành luật hình thức có nhiệm
vụ thể chế hóa quy định Hiến pháp năm 2013 đã quy định bảo đảm tranh tụng
trong xét xử là một nguyên tắc của tố tụng dân sự (TTDS). Tuy nhiên, để
nguyên tắc này thực hiện được trên thực tế thì cần phải làm rõ những vấn đề
như khái niệm, bản chất, phạm vi tranh tụng trong TTDS. Những vấn đề này
được thể hiện trong pháp luật TTDS như thế nào? Các quy định về tranh tụng
trong BLTTDS năm 2015 đã đầy đủ, hợp lý chưa, đã rõ ràng, cụ thể chưa?
Ngoài ra, để thực hiện nguyên tắc bảo đảm tranh tụng trong xét xử thì cần
phải có những biện pháp nào để đảm bảo quyền tranh tụng của các đương sự.
Như vậy, một vấn đề cấp thiết được đặt ra cần phải nghiên cứu tranh tụng
trong TTDS dưới góc độ lý luận và thực tiễn nhằm thực hiện thành công
chiến lược cải cách tư pháp cũng như đảm bảo các đương sự thực hiện quyền
tranh tụng và các Thẩm phán áp dụng các quy định về tranh tụng trong TTDS
một cách thống nhất.
Với các lý do nêu trên đây, tác giả đã chọn đề tài “Tranh tụng tại phiên
tòa dân sự sơ thẩm và thực tiễn tại Tòa án nhân dân huyện Lộc Bình, tỉnh
3
- “Một số vấn đề về tranh tụng trong TTDS” của tác giả Nguyễn Thị Thu
Hà đăng trên Tạp chí Nhà nước và pháp luật số 5/2010;
- Kỷ yếu hội thảo của Nhà pháp luật Việt – Pháp ngày 18/01/2002 về
“Một số nội dung về nguyên tắc tố tụng xét hỏi và tranh tụng. Kinh nghiệm
4
của Pháp trong việc tuyển chọn, bồi dưỡng, bổ nhiệm và quản lý Thẩm
phán”…
- “Trao đổi về nguyên tắc tranh tụng trong Dự thảo Bộ luật tố tụng dân
sự (sửa đổi)” của tác giả Nguyễn Thị Hạnh, Lê Thị Nhàn đăng trên Tạp chí
Tòa án nhân dân số 22/2015.
- “Bảo đảm tranh tụng trong xét xử theo quy định của BLTTDS năm
2015” của tác giả Bùi Thị Huyền đăng trên Tạp chí Luật Học số 4/2016;
- “Công bố lời khai của đương sự, người tham gia tố tụng khác trong
phần thủ tục tranh luận thuộc phần tranh tụng tại phiên tòa dân sự sơ thẩm”
của tác giả Nguyễn Trung Tín đăng trên Tạp chí Tòa án nhân dân số 14/2017.
Các công trình nghiên cứu trên đã cung cấp nhiều thông tin quan trọng,
hữu ích về vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến vấn đề tranh tụng. Tuy
nhiên, vẫn có nhiều ý kiến trái ngược nhau xung quanh ý tưởng đổi mới hoạt
động xét xử đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp và yêu cầu thực tiễn. Với sự ra
đời của BLTTDS năm 2015 cùng nhiều quy định mới về tranh tụng đòi hỏi
phải có nghiên cứu chuyên sâu về tranh tụng trong TTDS, đặc biệt là tranh
tụng tại phiên tòa dân sự sơ thẩm.
3. MỤC ĐÍCH VÀ NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI
Việc nghiên cứu đề tài nhằm làm sáng tỏ các vấn đề lý luận cơ bản về
tranh tụng tại phiên tòa dân sự, phân tích và đánh giá các quy định của pháp
luật TTDS về tranh tụng, thực tiễn áp dụng pháp luật TTDS về tranh tụng tại
tranh tụng dưới góc độ là một quá trình. Luận văn không nghiên cứu tranh
tụng dưới góc độ là một nguyên tắc TTDS cũng như không nghiên cứu tranh
tụng là một phương thức giải quyết tranh chấp tại Tòa án.
- Luận văn phân tích những quy định tranh tụng tại phiên tòa theo quy
định tại BLTTDS năm 2015 để chỉ rõ những những mặt tích cực cũng như
những hạn chế, bất cập về tranh tụng tại phiên tòa dân sự sơ thẩm và đưa ra
những giải pháp để góp phần nâng cao hiệu quả tranh tụng tại phiên tòa sơ
thẩm tại TAND huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn.
6
5. PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Đề tài được thực hiện trên cơ sở phương pháp luận của Chủ nghĩa MácLênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và các quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về
pháp luật TTDS tại phiên tòa dân sự sơ thẩm.
Ngoài ra còn sử dụng nhiều phương pháp khác như thống kê, phân tích,
tổng hợp… để làm sáng tỏ những nội dung cần nghiên cứu.
6. NHỮNG ĐIỂM MỚI VÀ ĐÓNG GÓP CỦA ĐỀ TÀI
Việc nghiên cứu đề tài “Tranh tụng tại phiên tòa dân sự sơ thẩm và
thực tiễn tại Tòa án nhân dân huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn” sẽ có những
điểm mới như sau:
- Luận văn làm sáng tỏ những lý luận cũng như thực tiễn của tranh tụng
tại phiên tòa dân sự sơ thẩm trong TTDS, góp phần nâng cao nhận thức về
tranh tụng tại phiên tòa dân sự sơ thẩm trong TTDS.
- Phân tích, đánh giá các quy định của pháp luật về tranh tụng tại phiên
tòa dân sự sơ thẩm trong TTDS và thực tiễn thực hiện, chỉ ra những hạn chế
còn tồn tại, những nguyên nhân của những hạn chế, vướng mắc đó, để từ đó
đưa ra những kiến nghị đề xuất nhằm nâng cao hiệu quả tranh tụng tại phiên
gia tố tụng4.
Ở nước ta, “tranh tụng” là một vấn đề còn mới mẻ, ít được đề cập trong
khoa học pháp lý. Những năm gần đây các nhà khoa học nghiên cứu về tranh
tụng với rất nhiều quan điểm khác nhau. Tranh tụng lần đầu tiên được đề cập
chính thức trong Nghị quyết số 08/-NQ/TW ngày 02 tháng 01 năm 2002 của
Bộ chính trị về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian
tới. Vì vậy, cần hiểu rõ về khái niệm tranh tụng để góp phần vào việc hoàn
thiện hệ thống pháp luật TTDS, đổi mới mô hình tố tụng ở nước ta.
Theo từ điển Hán Việt thì tranh tụng có nghĩa là “cãi lẽ, cãi nhau để
tranh lấy phải”5 còn theo từ điển tiếng Việt thì tranh tụng có nghĩa là “kiện
4
https://luatminhkhue.vn/tu-van-luat-hinh-su/ban-chat-cua-tranh-tung-tai-phien-toa-pgs-ts-tran-van-do.aspx
Trung tâm ngôn ngữ và văn hóa Việt nam Bộ giáo dục và đào tạo (1998), Đại từ điển tiếng Việt, Nxb Văn
hóa - thông tin, Hà Nội, tr. 621.
5
8
tụng”6. Như vậy, theo cách hiểu chung nhất thì tranh tụng là quá trình mà các
bên tham gia xét xử đưa ra các quan điểm của mình và tranh luận để bác bỏ
một phần hoặc toàn bộ quan điểm của phía bên kia. Trên cơ sở kết quả tranh
tụng, Tòa án đưa ra phán quyết cuối cùng đảm bảo tính khách quan của vụ án.
Về mặt lý luận, hiện nay có nhiều quan điểm khác nhau về tranh tụng
trong TTDS.
Quan điểm thứ nhất cho rằng: “Tranh tụng trong TTDS là phương pháp
giải quyết tranh chấp dân sự tại Tòa án, diễn ra trong quá trình tố tụng, theo
đó các bên đương sự xuất trình, trao đổi chứng cứ, lý lẽ, căn cứ pháp lý để
chứng minh, biện luận cho yêu cầu của mình; phản bác yêu cầu đối lập trước
phương pháp giải quyết tranh chấp tại Tòa án, các bên đương sự xuất trình,
trao đổi chứng cứ, lý lẽ, căn cứ pháp lý để chứng minh… chưa nói lên được
bản chất, ý nghĩa của tranh tụng. Tranh tụng là cả một quá trình nhằm xác
định sự thật khách quan của vụ án.
Nếu tranh tụng trong TTDS được hiểu theo quan điểm thứ hai tuy phần
nào nói lên được bản chất của tranh tụng nhưng nội hàm của chúng lại quá
hẹp. Nội dung quan điểm đã chỉ ra được bản chất của tranh tụng nhưng lại
không chỉ ra được giới hạn của quá trình tranh tụng, nó được bắt đầu và kết
thúc ở thời điểm nào trong quá trình giải quyết vụ án dân sự.
Quan điểm thứ ba về tranh tụng là khá toàn diện. Quan điểm đã chỉ rõ
được bản chất của tranh tụng cũng như giới hạn của hoạt động tranh tụng.
Tranh tụng trong TTDS là việc các bên đương sự được đưa ra, trao đổi các
chứng cứ, các căn cứ pháp lí, lập luận, đối đáp lại nhau, tranh luận với nhau
trên cơ sở các quy định của pháp luật TTDS để bảo vệ quyền lợi của mình
dưới sự giám sát của Tòa án. Thông qua việc tranh tụng, các tình tiết của vụ
án được làm sáng tỏ, Tòa án nhận thức được sự thật khách quan của vụ án và
căn cứ vào kết quả tranh tụng để đưa ra phán quyết.
Tuy nhiên, để làm rõ khái niệm tranh tụng cần phân biệt rõ “tranh tụng”
với “chứng minh” và “tranh tụng” với “tranh luận”.
Tranh tụng không hoàn toàn đồng nhất với chứng minh. Chứng minh có
thể diễn ra một cách đơn chiều, chỉ tồn tại một mối quan hệ giữa các đương
sự với Tòa án khi đương sự cung cấp các chứng cứ, tài liệu cho Tòa án để
9
Nguyễn Thị Thu Hà (Chủ nhiệm đề tài) (2011), Tranh tụng trong TTDS Việt Nam trước yêu cầu của cải
cách tư pháp, Đề tài nghiên cứu khoa học cấp trường, Mã số: LH - 2010 - 09/ĐHL - HN, Hà Nội, tr. 8.
10
đề nghị của các bên tham gia tố tụng. Tòa án tiến hành xác định sự thật khách
quan của vụ án, đưa ra phán quyết giải quyết vụ án đúng đắn, đầy đủ, khách
quan và đúng pháp luật.
Tranh tụng tại phiên tòa sơ thẩm dân sự là một quá trình, theo đó các bên
trình bày yêu cầu, chứng cứ, hỏi, đối đáp, trả lời và phát biểu quan điểm, lập
luận và đánh giá chứng cứ, tình tiết của vụ án dân sự. Tranh tụng tại phiên tòa
sơ thẩm dân sự được tiến hành công khai bằng lời nói để làm rõ các yêu cầu,
căn cứ thực tiễn và pháp lý của các yêu cầu đó cũng như các tình tiết khác
nhau của vụ án. HĐXX với tư cách là người trọng tài, phân xử tranh chấp sẽ
điều khiển quá trình tranh tụng theo đúng quy định của pháp luật và tập trung
vào những vấn đề các bên đương sự còn tranh chấp, mâu thuẫn. HĐXX sẽ căn
cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa sơ thẩm để xác định đúng các quyền,
nghĩa vụ của mỗi bên theo quy định của pháp luật.
Như vậy, tranh tụng tại phiên tòa sơ thẩm dân sự là quá trình làm rõ sự
thật khách quan của vụ án tại phiên tòa, theo đó, các bên đương sự dưới sự
điều khiển của HĐXX, trực tiếp trình bày yêu cầu, chứng cứ, tranh luận và
đối đáp với nhau về chứng cứ, căn cứ pháp lí, lý lẽ, lập luận để chứng minh
rằng yêu cầu, phản yêu cầu, phản đối yêu cầu của mình đối với đương sự phía
bên kia là có căn cứ và hợp pháp. Trên cơ sở kết quả tranh tụng của các bên
đương sự, HĐXX ra phán quyết về việc giải quyết vụ án dân sự.
1.1.2. Đặc điểm của tranh tụng tại phiên tòa sơ thẩm dân sự
Từ khái niệm tranh tụng nêu trên, ta có thể đưa ra một số đặc điểm của
tranh tụng tại phiên tòa sơ thẩm dân sự như sau:
- Quá trình tranh tụng tại phiên tòa được tiến hành một cách công khai,
trực tiếp và bằng lời nói
Tại phiên tòa, các bên đương sự được trực tiếp trình bày các yêu cầu,
đưa ra các chứng cứ, lý lẽ, căn cứ pháp lý bằng lời nói. Việc các bên đương sự
13
đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.
Đương sự có vai quan trọng nhất trong hoạt động tranh tụng và có tính
chất quyết định đến hoạt động tranh tụng của các chủ thể tiến hành và tham
gia tố tụng khác. Tính quan trọng của đương sự được khẳng định vì đương sự
chính là các chủ thể của quan hệ pháp luật nội dung đang tranh chấp, họ hiểu
vụ án hơn bất kỳ chủ thể nào khác tham gia tố tụng. Tòa án chỉ có thể nhận
thức được vụ án thông qua những chứng cứ, lập luận do đương sự cung cấp.
Những chủ thể tham gia tố tụng khác thì xuất phát từ vị trí, chức năng tố tụng
của mình mà có những quyền và nghĩa vụ phối hợp làm rõ một phần vụ án
như người làm chứng, người giám định… Còn đương sự hiểu rõ vụ án hơn
bất kỳ ai nên có thể tiếp cận một cách dễ dàng các chứng cứ đang có trong tay
cũng như biết được cần thiết phải lấy các chứng cứ khác ở đâu khi có yêu cầu.
Tranh tụng buộc các đương sự phải nỗ lực, tích cực trong việc tham gia tố
tụng.
Trong các đương sự thì chủ thể tranh tụng trước hết và chủ yếu là
nguyên đơn và bị đơn. Họ là những chủ thể có mâu thuẫn về quyền và lợi ích,
họ đứng ở vị trí tố tụng đối lập nhau. Trong suốt quá trình tranh tụng tại phiên
tòa, nguyên đơn và bị đơn bình đẳng với nhau và liên tục trao đổi với nhau
những chứng cứ, lý lẽ, căn cứ pháp lí để chứng minh, biện luận cho quyền lợi
hợp pháp của mình trước Tòa án trên cơ sở các quy định của pháp luật TTDS.
Ngoài nguyên đơn và bị đơn, tham gia vào quá trình tranh tụng tại phiên tòa
còn có người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Trong trường hợp này họ cũng
được coi là chủ thể tranh tụng, bởi họ cũng có lợi ích liên quan đến vụ án,
tham gia tranh tụng để bảo vệ quyền lợi của mình. Người có quyền lợi, nghĩa
vụ liên quan cũng có quyền đưa ra yêu cầu, phản đối yêu cầu của nguyên đơn,
bị đơn. Do vậy họ cũng được đưa ra chứng cứ, căn cứ pháp lý, lý lẽ và lập
luận để chứng minh cho yêu cầu của mình hay phản đối yêu cầu của các
Nguyễn Thị Thu Hà (Chủ nhiệm đề tài) (2011), Tranh tụng trong TTDS Việt Nam trước yêu cầu của cải
cách tư pháp, Đề tài nghiên cứu khoa học cấp trường, Mã số: LH - 2010 - 09/ĐHL - HN, Hà Nội, tr. 10.
15
tiết cần chứng minh của vụ án, bảo vệ được quyền và lợi ích hợp pháp của
đương sự thì các đương sự phải được tranh luận về chứng cứ, khẳng định giá
trị chứng minh của chứng cứ mà mình xuất trình trước HĐXX, trình bày quan
điểm, lập luận của mình về các tình tiết của vụ án nhằm mục đích để HĐXX
giải quyết các yêu cầu của đương sự, ra các quyết định chính xác nhất về việc
giải quyết vụ án.
- Phạm vi tranh tụng tại phiên tòa sơ thẩm là giới hạn những vấn đề mà
chủ thể tranh tụng phải làm rõ bằng các chứng cứ, căn cứ pháp lý và các lý
lẽ, lập luận
Phạm vi tranh tụng được xác định là giới hạn mà ở đó các chủ thể tiến
hành tranh tụng làm rõ các chứng cứ, căn cứ pháp lý, đưa ra lập luận để xác
định sự thật khách quan của vụ án. Trong TTDS, đương sự có quyền và nghĩa
vụ cung cấp chứng cứ và chứng minh để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp
của mình, được biết và ghi chép, sao chụp các chứng cứ do các đương sự khác
xuất trình hoặc do Tòa án thu thập. Do đó, đương sự phía bên này nếu chấp
nhận yêu cầu và nhận thấy yêu cầu, chứng cứ mà đương sự phía bên kia cung
cấp là hoàn toàn đúng đắn, có cơ sở và họ thừa nhận chứng cứ đó thì sẽ giải
phóng cho đương sự phía bên kia khỏi nghĩa vụ chứng minh. Ngược lại, nếu
những yêu cầu mà các bên hoặc một bên không chấp nhận và những thông
tin, tài liệu mà các bên không đồng ý hoặc một bên đương sự không đồng ý là
chứng cứ thì khi phiên tòa diễn ra chỉ tập trung vào những vấn đề các bên
hoặc một bên không công nhận. Những vấn đề khác nếu các bên không từ
chối thì coi như đã giải quyết và những chứng cứ nào các bên đương sự đã
trong xét xử các vụ án”11. Điều này có nghĩa là, các bên được tranh tụng với
nhau về yêu cầu, căn cứ pháp lý, chứng cứ, đề xuất ý kiến và lập luận trên cơ
sở chứng cứ, quy định của pháp luật để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của
11
Viện chính sách công và pháp luật, Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam (2014), Bình luận
khoa học Hiến pháp nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Nxb Lao động xã hội, Hà Nội, tr. 507.
17
mình. Tùy theo tư cách tố tụng của mình mà phạm vi tranh tụng, đề xuất ý
kiến của mỗi người tham gia tố tụng cũng có khác nhau.
Có thể nói, thông qua quá trình tranh tụng tại phiên tòa giúp Tòa án hiểu
rõ yêu cầu của các đương sự, có được các chứng cứ, lý lẽ, căn cứ pháp lý để
xác định chân lý khách quan của vụ kiện trên cơ sở đó Tòa án giải quyết các
yêu cầu của đương sự, xác định đúng các quyền, nghĩa vụ của mỗi bên theo
quy định của pháp luật. Quá trình tranh tụng tại phiên tòa trong TTDS thể
hiện bản chất dân chủ và nhân đạo nhằm bảo vệ các quyền con người. Bên
cạnh đó, tranh tụng không chỉ bảo đảm sự công bằng, bình đẳng về mặt pháp
lý cho mọi cá nhân, tổ chức mà còn tạo điều kiện cho việc đạt được sự bình
đẳng, công bằng về thực tế của các cá nhân, tổ chức đó.
1.2. ĐIỀU KIỆN ĐẢM BẢO THỰC HIỆN TRANH TỤNG TẠI PHIÊN TÒA
SƠ THẨM DÂN SỰ
1.2.1. Các quy định của pháp luật về tranh tụng tại phiên tòa sơ
thẩm dân sự
Pháp luật là công cụ quản lý nhà nước và xã hội, xây dựng một xã hội có
trật tự, kỷ cương, văn minh, mà còn hướng đến bảo vệ và phát triển các giá trị
chân chính, trong đó có quyền con người, quyền công dân. Vì vậy, nhà nước
để thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình. Tòa án phải bảo đảm quyền
bình đẳng cho các đương sự tham gia tranh tụng tại phiên tòa điều đó có nghĩa
Tòa án phải bảo đảm cho đương sự được bình đẳng trong việc đưa ra yêu cầu,
bổ sung yêu cầu, cung cấp chứng cứ, căn cứ pháp lý, lý lẽ, được đề nghị Tòa
án xác minh, thu thập chứng cứ về những tình tiết cụ thể mà tự mình không
thể thực hiện được hoặc đề nghị Tòa án triệu tập người làm chứng, được biết
chứng cứ, căn cứ pháp lý, lý lẽ chứng minh do bên kia cung cấp hoặc chứng
cứ do Tòa án thu thập và được tranh luận trước Tòa án...
Tòa án có vai trò quan trọng và quyết định trong việc bảo đảm sự bình
đẳng của các chủ thể tham gia tranh tụng và giải quyết đúng đắn vụ kiện.
19
Chức năng chủ yếu của Thẩm phán là người trọng tài “cầm cân công lý” để
phân xử giữa hai bên tham gia tranh tụng, duy trì trật tự phiên tòa và quá trình
tranh tụng giữa hai bên, hướng quá trình tranh tụng vào việc giải quyết các
yêu cầu của các đương sự, các căn cứ thực tiễn và pháp lý của các yêu cầu đó
cũng như các tình tiết của vụ án. Tòa án có quyền thẩm vấn các bên hoặc các
nhân chứng trong trường hợp đặc biệt cần thiết để làm rõ thêm lời trình bày
của họ.
Như vậy, Toà án bảo đảm cho các đương sự thực hiện quyền tranh tụng
tại phiên tòa sơ thẩm dân sự một cách bình đẳng, công khai và đúng pháp
luật. Bản án, quyết định của Tòa án phải căn cứ vào kết quả tranh tụng tại
phiên tòa.
1.2.3. Sự hỗ trợ đƣơng sự tranh tụng của các cá nhân, cơ quan, tổ
chức
Đương sự có vai trò quan trọng nhất để thực hiện việc tranh tụng tại
phiên tòa. Để đương sự có điều kiện tốt nhất để bảo vệ quyền và lợi ích của
mình cũng như góp phần quan trọng giúp Tòa án tìm ra sự thật khách quan