BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ TƢ PHÁP
TRƢỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
MÃ NGỌC CẨM
BẢO VỆ QUYỀN LỢI CỦA NGƢỜI VỢ KHI LY HÔN
VÀ THỰC TIỄN TẠI TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CHỢ ĐỒN, TỈNH BẮC KẠN
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
(Định hướng ứng dụng)
HÀ NỘI - 2018
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ TƢ PHÁP
TRƢỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
MÃ NGỌC CẨM
BẢO VỆ QUYỀN LỢI CỦA NGƢỜI VỢ KHI LY HÔN
VÀ THỰC TIỄN TẠI TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CHỢ ĐỒN, TỈNH BẮC KẠN
Chuyên ngành:
Mã Ngọc Cẩm
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học độc lập của riêng
tôi. Các kết quả nêu trong luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào
khác. Các số liệu trong luận văn là trung thực, có nguồn gốc rõ ràng, được trích dẫn
theo đúng quy định. Tôi xin chịu trách nhiệm về tính chính xác và trung thực của luận
văn này.
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
Mã Ngọc Cẩm
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
GCN
Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
HN&GĐ
Hôn nhân và gia đình
NHCSXH
Ngân hàng Chính sách xã hội huyện Chợ Đồn
NHNN&PTNT
Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển
nhân và gia đình năm 2014
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU ................................................................................................................................... 1
Chƣơng 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT VỀ BẢO VỆ QUYỀN
LỢI CỦA NGƢỜI VỢ KHI LY HÔN ............................................................................... 7
1.1. Khái niệm và ý nghĩa của việc bảo vệ quyền lợi của ngƣời vợ khi ly hôn ....7
1.1.1. Khái niệm..........................................................................................................7
1.1.2. Ý nghĩa của việc bảo vệ quyền lợi của người vợ khi ly hôn .........................10
1.2. Khung pháp luật về bảo vệ quyền lợi của ngƣời vợ khi ly hôn ...................12
1.2.1. Bảo vệ quyền tự do ly hôn ..............................................................................12
1.2.2. Bảo vệ quyền làm mẹ của người vợ khi ly hôn .............................................15
1.2.3. Bảo vệ quyền đối với tài sản của vợ khi ly hôn .............................................20
1.2.4. Bảo vệ quyền có chỗ ở của người vợ khi ly hôn ...........................................26
1.2.5. Bảo vệ quyền được cấp dưỡng của người vợ khi ly hôn ..............................28
1.3. Các điều kiện bảo đảm thực hiện pháp luật về bảo vệ quyền lợi của ngƣời
vợ khi ly hôn ............................................................................................................29
1.3.1. Điều kiện bảo đảm về pháp luật ....................................................................29
1.3.2. Điều kiện đảm bảo thông qua năng lực của người tiến hành tố tụng ........31
1.3.3. Điều kiện về nhận thức pháp luật hôn nhân và gia đình của người dân ...32
Tiểu kết chƣơng 1 ....................................................................................................34
Chƣơng 2 THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ BẢO VỆ QUYỀN LỢI CỦA NGƢỜI
VỢ KHI LY HÔN, THỰC TIỄN VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ ÁP
DỤNG TẠI TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ ĐỒN, TỈNH BẮC KẠN .......... 35
2.1. Thực trạng pháp luật về bảo vệ quyền lợi của ngƣời vợ khi ly hôn .................... 35
2.1.1. Những thành tựu cơ bản ........................................................................................... 35
2.1.2. Một số bất cập chủ yếu ..................................................................................37
nam nữ khi kết hôn và trao cho họ những quyền và nghĩa vụ pháp lý của vợ, chồng
thì ly hôn chính là sự kiện pháp lý chấm dứt quan hệ đó. Trong bối cảnh mà quyền
con người, đặc biệt là quyền của phụ nữ ngày càng được quan tâm như hiện nay, khi
hôn nhân chấm dứt sẽ đặt ra một vấn đề đó là bảo vệ quyền lợi của người vợ sau khi
ly hôn.
Thực tế ở Việt Nam trong những năm gần đây cho thấy, tình trạng ly hôn ngày
càng gia tăng và có xu hướng “trẻ hóa”. “Trẻ hóa” ở đây thể hiện không chỉ ở việc
“tuổi thọ” hôn nhân của nhiều cặp vợ chồng ngày càng ngắn mà còn ở độ tuổi kết
hôn, ly hôn ngày càng trẻ. Nhiều cặp vợ chồng kết hôn khi chỉ mới đủ tuổi kết hôn,
những người vợ ở đây chưa thực sự chín chắn và trưởng thành trong lối sống và cách
suy nghĩ, chưa có vị thế trong xã hội, vẫn còn sống dựa vào bố mẹ. Dẫn đến việc sau
khi ly hôn, đời sống của họ gặp nhiều khó khăn hơn. Sau khi ly hôn, người vợ không
chỉ gặp khó khăn trong đời sống kinh tế mà còn phải chịu những tổn thất tinh thần
nhất định, khi phải hứng chịu dư luận xã hội. Chính vì vậy, khi ly hôn xảy ra đặt ra
nhiều vấn đề cần quan tâm đối với người vợ. Đó là việc đảm bảo đời sống của
người vợ sau ly hôn, bảo đảm các quyền nhân thân, quyền đối với tài sản, đảm bảo
việc chăm sóc con …
Với những đặc thù về giới tính, tâm sinh lý của mình, pháp luật đã ghi nhận
nhiều quyền lợi đặc thù gắn với phụ nữ như bảo đảm chế độ bảo hiểm thai sản đối
với các bà mẹ, tuổi nghỉ hưu thấp hơn so với nam giới,…đặc biệt trong lĩnh vực hôn
nhân và gia đình, quyền lợi của người vợ ngày càng được bảo đảm chặt chẽ hơn.
Dưới góc độ pháp luật, việc bảo vệ quyền lợi của người vợ khi ly hôn cần được nhìn
nhận cụ thể và rõ ràng hơn thông qua các quy định của pháp luật cũng như nhìn
nhận cụ thể qua thực tiễn đời sống.
2
Trên địa bàn huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn, trong hơn hai năm trở lại đây,
tình trạng ly hôn qua các năm càng gia tăng (Năm 2016: 77 vụ; Năm 2017: 93 vụ;
nghiên cứu như: Lường Ánh Nhàn (2016), Bảo vệ quyền phụ nữ trong quan hệ hôn
nhân và gia đình, Luận văn Thạc sỹ Luật học; Doãn Thanh Thủy (2015), Bảo vệ
quyền lợi của người vợ khi ly hôn - Một số vấn đề lý luận và thực tiễn, Luận văn
Thạc sỹ Luật học; Nguyễn Thị Thu Hà (2017), Thực tiễn giải quyết tranh chấp chia
tài sản của vợ chồng khi ly hôn tại Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội, Luận văn
thạc sỹ luật học; Bài viết “Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 với việc bảo vệ
người phụ nữ” của PGS.TS Trần Thị Huệ trên Đặc san Phụ nữ, Tạp chí Luật học
2004; Bài viết “Quyền của phụ nữ theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình Việt
Nam” của Thạc sĩ Nguyễn Thị Lan, Tạp chí Luật học số 3 năm 2004; Phạm Thị
Ngân (2012), Bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của con khi cha mẹ ly hôn, Khóa
luận tốt nghiệp, Trường Đại học Luật Hà Nội; …
Như vậy, mặc dù có nhiều công trình khoa học nghiên cứu về việc bảo vệ
quyền lợi của người phụ nữ trong quan hệ hôn nhân và gia đình nhưng vẫn còn ít
công trình nghiên cứu cụ thể về bảo vệ quyền và lợi ích của người vợ khi ly hôn
thông qua nghiên cứu thực tiễn áp dụng tại Tòa án. Do vậy, việc lựa chọn đề tài
“Bảo vệ quyền lợi của người vợ khi ly hôn và thực tiễn tại Tòa án nhân dân huyện
Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn” sẽ góp phần làm rõ thêm nội hàm của vấn đề trên, cũng
như đánh giá được thực trạng pháp luật và áp dụng luật, để qua đó đưa ra những
phương hướng và giải pháp cụ thể, có giá trị đối với việc hoàn thiện pháp luật và
nâng cao hiệu quả áp dụng trong thực tiễn của Tòa án nhân dân.
3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu đề tài
3.1. Mục đích nghiên cứu đề tài
Làm rõ một số vấn đề lý luận pháp luật về bảo vệ quyền lợi của phụ nữ khi ly
hôn, đánh giá thực trạng pháp luật về bảo vệ quyền lợi của phụ nữ khi ly hôn và
thực tiễn bảo vệ quyền lợi của phụ nữ khi ly hôn qua hoạt động xét xử của Tòa án
nhân dân Chợ Đồn tỉnh Bắc Kạn, từ đó đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp
4
5
Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn thông qua những số liệu thống kê và một số vụ án cụ thể.
Đề tài không bao gồm những vấn đề ly hôn có yếu tố nước ngoài.
5. Cơ sở phƣơng pháp luận và phƣơng pháp nghiên cứu
Luận văn được nghiên cứu trên cơ sở phương pháp luận của triết học Mác Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng và Nhà nước về hôn nhân và
gia đình.
Luận văn được thực hiện thông qua các phương pháp nghiên cứu sau:
- Phương pháp phân tích: Được sử dụng để làm rõ những vấn đề thuộc phạm
vi nghiên cứu.
- Phương pháp so sánh: Được sử dụng để nghiên cứu xem xét pháp luật Việt
Nam qua các thời kỳ về việc bảo vệ quyền lợi của người vợ khi ly hôn; đồng thời
nghiên cứu so sánh pháp luật Việt Nam với pháp luật của một số nước khác về vấn
đề trên.
- Phương pháp tổng hợp: Được sử dụng để khái quát hóa nội dung cần
nghiên cứu, đưa ra hướng nghiên cứu một cách có lô-gic đểlàm sáng tỏ vấn đề cần
nghiên cứu.
- Phương pháp thống kê: Thống kê các số liệu có liên quan đến vấn đề cần
nghiên cứu. Từ đó, phân tích và tổng hợp số liệu để rút ra các nhận định phù hợp, làm
cơ sở thực tiễn cho việc đưa ra các kiến nghị về việc hoàn thiện pháp luật và nâng cao
chất lượng áp dụng pháp luật trên thực tiễn tại Tòa án nhân dân địa phương.
6. Những đóng góp mới của luận văn
Tiếp cận một cách khoa học một số vấn đề lý luận pháp luật về bảo vệ quyền
lợi của người vợ khi ly hôn.
Đánh giá khách quan về thực trạng pháp luật về bảo vệ quyền lợi của người
vợ khi ly hôn.
Thực tiễn áp dụng pháp luật về bảo vệ quyền lợi của người vợ khi ly hôn tại
Tòa án nhân dân huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn.
Từ định nghĩa trên, các nhà làm luật đã thay đổi đề phù hợp với thực tiễn xã hội và
đưa ra quy định: “Ly hôn là việc chấm dứt quan hệ vợ chồng theo bản án, quyết định
có hiệu lực pháp luật của Tòa án” (Khoản 14 Điều 3 Luật HN&GĐ năm 2014).
Qua những định nghĩa trên có thể thấy, ly hôn là sự kiện pháp lý làm chấm dứt
quan hệ vợ, chồng. Việc ly hôn không chỉ ảnh hưởng trực tiếp đến quan hệ vợ, chồng
mà còn ảnh hưởng đến quyền và lợi ích của các con và của xã hội nên ly hôn cần được
đặt dưới sự kiểm soát chặt chẽ của Nhà nước. Do vậy, Nhà nước ta đã quy định Tòa án
là cơ quan có thẩm quyền giải quyết ly hôn.
Từ những phân tích trên có thể hiểu: Ly hôn là sự kiện pháp lý do Tòa án
quyết định trên cơ sở những quy định của pháp luật hôn nhân và gia đình và tiến
hành thủ tục Tố tụng dân sự theo luật định, thể hiện bằng bản án hoặc quyết định
V.I.Lê Nin (1981), “Ly hôn - về một sự biếm họa của chủ nghĩa Mác và về chủ nghĩa kinh
tế đế quốc”, Toàn tập, Tập 30, Nxb, Tiến Bộ, tr. 163.
2
Viện Nghiên cứu khoa học pháp lý - Bộ Tư pháp (2006), Từ điển Luật học, Nxb. Tư
pháp, Hà Nội, tr. 460.
1
8
có hiệu lực pháp luật làm chấm dứt các quyền, nghĩa vụ pháp lý của vợ, chồng
trước pháp luật.
Ly hôn có ảnh hưởng tiêu cực đến mọi mặt đời sống của các thành viên gia
đình, đặc biệt đối với phụ nữ bởi họ thuộc nhóm yếu thế trong xã hội. Được gọi là
“phái yếu” trong xã hội, cùng với những đặc thù về giới tính, tâm sinh lý, khi ly
hôn, người vợ không chỉ chịu đựng sự tổn thất về tinh thần khi bị tổn thương về mặt
tình cảm mà còn đứng trước gánh nặng về tài chính, vật chất khi không có người
cùng san sẻ về kinh tế cũng như các biến cố trong cuộc sống. Do vậy, quyền lợi của
chấm dứt quan hệ hôn nhân xảy ra, với những ảnh hưởng mà người phụ nữ với tư
cách là người vợ lúc này có thể phải hứng chịu, việc bảo vệ quyền lợi của họ vô
cùng cần thiết.
Theo từ điển Tiếng Việt, bảo vệ được hiểu là “Chống lại mọi sự xâm phạm
để giữ cho luôn luôn được nguyên vẹn”4. Có thể hiểu bảo vệ chính là việc ngăn
ngừa, hạn chế, chống lại những hành vi xâm phạm đến đối tượng được bảo vệ.
Thiết thực nhất để có thể tác động đến hành vi của con người chính là bằng pháp
luật. Là một trong những đối tượng yếu thế trong xã hội, đặc biệt là khi ly hôn,
quyền lợi của người vợ cần được quan tâm và bảo vệ. Lúc này quyền lợi của
người vợ khi ly hôn chính là việc khi ly hôn các quyền về nhân thân, về tài sản,
quyền được chăm sóc nuôi dưỡng con của mình và việc bảo đảm được đời sống
sau khi ly hôn của người vợ được đáp ứng tốt nhất dựa trên những quy định của
pháp luật. Và bảo vệ được quyền lợi của họ có thể hiểu chính là bảo đảm được các
quyền lợi của người vợ khi ly hôn trên thực tế, ngăn ngừa cũng như xử lý kịp thời
những hành vi xâm phạm đến quyền lợi đó. Để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp
của người vợ khi ly hôn tốt nhất cần có một cơ chế, cách thức, biện pháp bảo vệ
toàn diện, đồng bộ.
Qua đó mặc dù chưa được pháp luật quy định một cách cụ thể nhưng có thể
hiểu “Bảo vệ quyền lợi của người vợ khi ly hôn là hệ thống những cơ chế, biện
pháp, cách thức theo quy định của pháp luật nhằm đảm bảo quyền, lợi ích hợp pháp
của người vợ và chống lại hoặc ngăn chặn, xử lý các hành vi xâm phạm đến quyền
và lợi ích hợp pháp đó của người vợ khi ly hôn được thực hiện bởi chủ thể tiến hành
và tham gia giải quyết ly hôn”.
4
Viện Ngôn ngữ học (2003), Đại từ điển tiếng Việt, Nxb. Đà Nẵng, tr. 40.
10
11
người mẹ đơn thân sau khi ly hôn vẫn đảm bảo về mặt kinh tế, nhưng những trường
hợp này còn chiếm số ít. Do vậy, việc bảo vệ quyền lợi liên quan đến tài sản, quyền
được đảm bảo đời sống sau ly hôn là cần thiết và có ý nghĩa đối với người vợ sau
khi ly hôn. Hơn nữa, sau khi ly hôn người vợ phải một mình đối mặt với những áp
lực của cuộc sống, không có chỗ dựa vững chắc về tinh thần. Nhiều người mẹ đơn
thân sau ly hôn có thể sẽ phải đối diện với sự khinh bỉ của những người khác.
Những tổn thương tinh thần này sẽ gây tác động xấu cho đời sống của người phụ
nữ. Đứng dưới góc độ về mặt xã hội, cần phải có sự bảo đảm cho những tổn thất về
mặt tinh thần của người vợ khi ly hôn, đó là sự đảm bảo quyền con người về danh
dự, nhân phẩm của họ. Từ đó sau khi ly hôn, họ có thể tự tin hơn và có cơ hội tìm
lại hạnh phúc.
Thứ ba, việc bảo vệ quyền lợi của người vợ khi ly hôn có ý nghĩa trong việc
bảo đảm quyền lợi cho các nhóm chủ thể khác trong xã hội. Dưới góc độ gia đình,
việc quyền và lợi ích hợp pháp của người vợ khi ly hôn nếu được bảo vệ tốt éẽgiúp
cho vị thế của người phụ nữ bình đẳng hơn trong mối quan hệ gia đình. Hiện nay,
người vợ không những phải làm tốt công việc trong gia đình mà còn phải hoàn
thành tốt công việc xã hội. Pháp luật bảo đảm cho quyền lợi của họ khi ly hôn cũng
là một kênh tác động tốt đến đời sống gia đình, giúp ổn định đời sống gia đình, đảm
bảo quyền bình đẳng nam và nữ. Đối với xã hội, bảo vệ tốt quyền lợi của người vợ
khi ly hôn góp phần đảm bảo cho xã hội được ổn định hơn. Thể hiện ở việc xã hội
sẽ tiết kiệm được chi phí giải quyết các tranh chấp liên quan đến ly hôn, hạn chế
được một số lượng đối tượng tham gia vào tệ nạn xã hội khi thực tế cho thấy, có
nhiều trường hợp người con của những gia đình có hôn nhân đổ vỡ dễ bị lôi kéo, dụ
dỗ sa chân vào tệ nạn.
Như vậy, việc pháp luật ghi nhận bảo vệ quyền lợi của phụ nữ khi ly hôn là
hết sức cần thiết và có ý nghĩa. Khi được pháp luật bảo vệ, người vợ sẽ có cơ hội
thoát khỏi những cuộc hôn nhân bế tắc, không hạnh phúc mà vẫn được bảo đảm
cuộc sống sau khi ly hôn. Tuy nhiên, để bảo đảm các quyền lợi nó được thực hiện
Điều 55 Luật HN&GĐ năm 2014.
13
Thứ hai, người vợ được quyền đơn phương ly hôn. Trong trường hợp này,
pháp luật ghi nhận quyền yêu cầu ly hôn xuất phát từ phía người vợ, cụ thể trong
những trường hợp sau đây:
Trường hợp người vợ chứng minh được người chồng vi phạm quyền và
nghĩa vụ làm chồng hoặc người chồng có hành vi bạo lực đối với vợ, dẫn tới hôn
nhân không đạt được mục đích, pháp luật cho phép người vợ được quyền yêu cầu ly
hôn. Các hành vi bạo lực trong trường hợp này đã được quy định cụ thể trong Luật
phòng, chống bạo lực gia đình năm 2007 như: Hành hạ, ngược đãi, đánh đập hoặc
thực hiện các hành vi khác xâm hại đến sức khỏe, tính mạng; Cưỡng ép quan hệ
tình dục…
Trường hợp vợ chồng cùng thuận tình ly hôn, nhưng người vợ đang có thai,
sinh con hoặc đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi, pháp luật không cho phép giải
quyết thuận tình ly hôn. Tuy nhiên, người vợ vẫn muốn yêu cầu Tòa án giải quyết ly
hôn thì phải thực hiện thủ tục “đơn phương ly hôn”. Sau khi xét thấy ly hôn là cần
thiết để đảm bảo quyền lợi cho người, Tòa án sẽ giải quyết cho người vợ đơn
phương ly hôn.
Trường hợp người chồng bị Tòa án tuyên bố là mất tích, người vợ được thực
hiện quyền yêu cầu ly hôn. Sự kiện pháp lý khác trở thành điều kiện tiên quyết
trong trường hợp này. Trường hợp người chồng mất tích, người vợ phải một mình
vượt qua mọi khó khăn trong cuộc sống, tự mình đảm bảo đời sống và chăm sóc
con cái (Nếu có), không có ai cùng san sẻ gánh nặng kinh tế, có chỗ dựa về tinh
thần. Do đó, quy định này của Luật HN&GĐ 2014 đã tạo điều kiện cho người vợ
đảm bảo về mặt pháp lý để giải quyết các hậu quả phát sinh từ việc ly hôn, giúp họ
có một cuộc sống mới, tạo lập hạnh phúc gia đình mới.
Cha, mẹ hoặc người thân thích khác của người vợ thực hiện quyền
Điều kiện thứ hai, người vợ phải là nạn nhân của bạo lực gia đình. Có nghĩa
là, phải có hành vi bạo lực của người chồng của chính người người vợ bị mắc bệnh
tâm thần hoặc bệnh khác. Việc xác định bạo lực gia đình để làm căn cứ cho cá nhân
ngoài người vợ có quyền ly hôn cần được chứng minh bằng nhân chứng hoặc văn
15
bản xác nhận có hành vi bạo lực gia đình (Như biên bản xử lý hành chính đối với
người chồng có hành vi bạo lực).
Điều kiện thứ ba, mối quan hệ nhân quả giữa hành vi của người chồng gây ra
bạo lực gia đình và việc đó dẫn đến hậu quả nghiêm trọng tới tính mạng, sức khỏe,
tinh thần của người vợ. Để chứng minh được điều kiện này, thiết nghĩ cần phải dựa
trên kết luận giám định pháp y thương tích, qua đó kết luận rằng những thương tích
của người vợ là kết quả của hành vi bạo lực gây ra và vì những thương tích đó mà
tính mạng, sức khỏe, tinh thần của người vợ bị ảnh hưởng nghiêm trọng.
1.2.2. Bảo vệ quyền làm mẹ của người vợ khi ly hôn
Sinh con là chức năng sinh học tự nhiên không thể thay thế được đối của
người phụ nữ với tư cách làm mẹ, đó cũng là thiên chức cao quý và thiêng liêng
nhất. Việc thực hiện chức năng đó không chỉ vì lợi ích của riêng người mẹ, mà còn
vì lợi ích giống nòi của cả gia đình, dòng họ và quốc gia, dân tộc. Do vậy, quyền
làm mẹ luôn được quan tâm bảo vệ ở mọi thời đại và trong mọi lĩnh vực. Pháp luật
hôn nhân và gia đình hiện hành ghi nhận việc bảo vệ quyền làm mẹ khi ly hôn thể
hiện trong những trường hợp như sau:
Hạn chế quyền yêu cầu ly hôn của người chồng khi người vợ đang
mang thai, sinh con hoặc nuôi con dưới 12 tháng tuổi
Có lẽ chỉ những người phụ nữ mới thấu cảm được nỗi đau đớn, vất vả của
người mẹ khi mang thai và sinh con. “Mang nặng, đẻ đau” và chịu đựng bao khó
nhọc, nguy hiểm trong cả quá trình đó cũng nhau đánh đổi bằng sức khỏe của chính
người mẹ về sau để thực hiện thiên chức làm mẹ. Trong thai kỳ, người phụ nữ rất
quy định một trong những điều kiện để Tòa án công nhận thuận tình ly hôn là các
thỏa thuận của vợ, chồng phải “dựa trên cơ sở bảo đảm quyền lợi chính đáng của
vợ và con”. Khi cả vợ, chồng cùng nhận thấy việc ly hôn là cần thiết. Họ cùng nhau
yêu cầu Tòa án giải quyết việc ly hôn và cùng đồng thuận về việc giải quyết các hậu
quả của việc ly hôn. Và tất cả những thỏa thuận đó cần phải thật sự bảo đảm quyền
5
Yến My (2015), “Bố nói chuyện với thai nhi đem lại lợi ích gì?”,
www.beyeume.vn, ngày 06/8/2015.
17
lợi chính đáng cho cả người vợ và con - những đối tượng dễ bị tổn thương trong xã
hội. Do vậy, có thể hiểu dù người vợ cũng đồng nhất quan điểm phân chia tài sản
hay những quyền và nghĩa vụ khác, nhưng nếu Tòa án nhận thấy việc thỏa thuận
như vậy quyền lợi của người vợ và con không được đảm bảo, có thể dẫn tới những
khó khăn nhất định cho họ sau khi ly hôn hoặc ảnh hưởng xấu tới việc thực hiện
quyền làm mẹ hay cho sự phát triển của con cái, thì Tòa án cũng không quyết định
công nhận thuận tình ly hôn. Trong trường hợp này, quyền làm mẹ của người vợ khi
ly hôn được đã được ghi nhận, bảo vệ.
Thứ hai, xem xét bảo vệ quyền làm mẹ của người vợ trong trường hợp đơn
phương ly hôn. Đối với trường hợp này pháp luật hôn nhân và gia đình đã có những
quy định cụ thể và đảm bảo quyền lợi của người vợ. Luật HN&GĐ năm 2014 đã
quy định rõ ràng về các trường hợp ly hôn theo yêu cầu của một bên tại Điều 56.
Vậy tại sao có thể khẳng định được quyền làm mẹ được bảo vệ trong trường hợp
này? Như đã nói ở trên, làm mẹ là thiên chức thiêng liêng cao quý nhất của người
phụ nữ. Bảo vệ quyền làm mẹ chính là việc bảo đảm môi trường tốt nhất có thể cả
về vật chất và tinh thần để người phụ nữ có thể thực hiện chức năng sinh con, sau
cho người con. Trong trường hợp vợ chồng không thỏa thuận được, Tòa án sẽ phân
xử xem ai được quyền nuôi con dựa trên quyền lợi về mọi mặt của con dựa trên các
điều kiện chăm sóc, nuôi dưỡng con cái của hai bên vợ, chồng. Nếu con từ đủ 07
tuổi trở lên, việc phân định người trực tiếp nuôi con cần xem xét đến nguyện vọng
của người con (Theo Khoản 2 Điều 81 Luật HN&GĐ năm 2014), thể hiện sự tôn
trọng nguyện vọng của trẻ, không áp đặt, tạo điều kiện tốt hơn cho đời sống của
người con sau khi cha mẹ ly hôn. Vậy quyền làm mẹ trong việc giải quyết quan hệ
đối với con khi ly hôn được ghi nhận như thế nào?
Thứ nhất, quyền được trực tiếp nuôi con của người mẹ. Pháp luật ghi nhận
người vợ và chồng sau ly hôn bình đẳng với nhau trong việc trông nom, chăm sóc,
nuôi dưỡng, giáo dục con chưa thành niên, con đã thành niên mà mất năng lực hành
vi dân sự hoặc không có tài sản để tự nuôi mình (Theo Khoản 1 Điều 81 Luật
HN&GĐ 2014). Như vậy, quyền làm mẹ đối với người con sau ly hôn đã được ghi
nhận. Thêm vào đó, quyền làm mẹ còn được ghi nhận thể hiện ở sự ưu tiên trong
việc trực tiếp nuôi con. Khoản 3 Điều 81 Luật HN&GĐ năm 2014 quy định người