Thực tiễn chia tài sản chung khi ly hôn trong trường hợp vợ chồng sống chung với gia
đình ở Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Đồng Tháp
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA LUẬT
----------
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN LUẬT
KHÓA 38 (2012 – 2015)
Đề tài:
THỰC TIỄN CHIA TÀI SẢN CHUNG KHI LY HÔN
TRONG TRƯỜNG HỢP VỢ CHỒNG CHUNG SỐNG
VỚI GIA ĐÌNH TẠI TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH ĐỒNG THÁP
Giảng viên hướng dẫn:
Huỳnh Thị Trúc Giang
Sinh viên thực hiện:
Phan Lâm Hoàng Huynh
MSSV: S120027
Lớp: Luật VB2- Đồng Tháp
Cần Thơ, 11/2014
GVHD: Huỳnh Thị Trúc Giang
1
SVTH: Phan Lâm Hoàng Huynh
.................................................................................................................................
.................................................................................................................................
.................................................................................................................................
.................................................................................................................................
.................................................................................................................................
.................................................................................................................................
.................................................................................................................................
GVHD: Huỳnh Thị Trúc Giang
2
SVTH: Phan Lâm Hoàng Huynh
Thực tiễn chia tài sản chung khi ly hôn trong trường hợp vợ chồng sống chung với gia
đình ở Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Đồng Tháp
NHẬN XÉT CỦA HỘI ĐỒNG PHẢN BIỆN
.................................................................................................................................
.................................................................................................................................
.................................................................................................................................
.................................................................................................................................
.................................................................................................................................
.................................................................................................................................
.................................................................................................................................
.................................................................................................................................
.................................................................................................................................
.................................................................................................................................
MỤC LỤC
LỜI NÓI ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài .................................................................................................... 1
2. Mục tiêu nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu ....................................................... 2
3 .Phương pháp nghiên cứu ...................................................................................... 2
4. Kết cấu của luận văn .............................................................................................. 2
CHƯƠNG I
KHÁI QUÁT VỀ CHIA TÀI SẢN CHUNG KHI LY HÔN TRONG
TRƯỜNG HỢP VỢ CHỒNG CHUNG SỐNG VỚI GIA ĐÌNH
1.1. Một số khái niệm chung ................................................................................ 4
1.1.1 Khái niệm ly hôn ...................................................................................... 4
1.1.2 Khái niệm chia tài sản chung của vợ chồng ............................................. 5
1.1.3 Khái niệm vợ chồng sống chung với gia đình .......................................... 6
1.1.4 Khái niệm chia tài sản chung trong trường hợp vợ chồng sống chung với
gia đình mà ly hôn .......................................................................................................... .7
1.2. Ý nghĩa của quy định về chia tài sản chung khi ly hôn trong trường hợp
vợ chồng sống chung với gia đình ................................................................................ 8
1.3. Lược sử phát triển quy định pháp luật về chia tài sản chung khi ly hôn
trong trường hợp vợ chồng sống chung với gia đình ............................................... 10
1.3.1 Chế định chia tài sản chung khi ly hôn trong trường hợp vợ chồng sống
chung với gia đình trong Luật Cổ đại ............................................................................ 10
1.3.2 Chế định chia tài sản chung khi ly hôn trong trường hợp vợ chồng sống
chung với gia đình trong Luật Cận đại .......................................................................... 10
1.3.3 Chế định chia tài sản chung khi ly hôn trong trường hợp vợ chồng sống
chung với gia đình trong Luật Hiện đại ......................................................................... 11
1.3.3.1 Theo Luật Hôn nhân và gia đình năm 1959 .................................... 12
1.3.3.2 Luật Hôn nhân và gia đình năm 1986 ............................................. 12
GVHD: Huỳnh Thị Trúc Giang
Kết luận ................................................................................................................... 38
GVHD: Huỳnh Thị Trúc Giang
5
SVTH: Phan Lâm Hoàng Huynh
Thực tiễn chia tài sản chung khi ly hôn trong trường hợp vợ chồng sống chung với gia
đình ở Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Đồng Tháp
LỜI NÓI ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Gia đình là tế bào của xã hội, sự ổn định và phát triển lành mạnh của gia đình sẽ
góp phần vào sự phát triển chung của toàn bộ xã hội. Mỗi gia đình được xây dựng dựa
trên những sợi dây liên kết của hôn nhân, huyết thống và nuôi dưỡng trong đó quan hệ
hôn nhân có thể xem là quan hệ nền tảng của mỗi gia đình.
Nhận định được vị trí của gia đình trong xã hội, Đảng và Nhà nước ta luôn chú
trọng quan tâm đến việc xây dựng gia đình hòa thuận, hạnh phúc. Biểu hiện ở việc,
Nhà nước ban hành các quy phạm pháp luật, điều chỉnh quan hệ hôn nhân và gia đình
cho phù hợp với sự phát triển của xã hội.
Trong quan hệ vợ chồng, bên cạnh đời sống tình cảm, tình yêu thương lẫn nhau
không thể không quan tâm tới đời sống vật chất. Quan hệ tài sản giữa vợ chồng là một
vấn đề hết sức quan trọng, nó là một trong những tiền đề giúp cho vợ chồng xây dựng
cuộc sống hạnh phúc, đáp ứng những nhu cầu về vật chất tinh thần cho gia đình.
Xuất phát từ bản chất của quan hệ hôn nhân và gia đình là các yếu tố nhân thân
và tài sản gắn liền với các chủ thể nhất định, không thể tách rời và không có tính đền
bù ngang giá. Chính sự ràng buộc này làm nảy sinh các quyền và nghĩa vụ pháp lý
sáng tỏ những vấn đề lý luận của các quy định pháp luật về tài sản chung, chia tài sản
chung và hậu quả pháp lý của việc chia tài sản chung trong trường hợp vợ chồng
chung sống với gia đình mà ly hôn theo Pháp luật hôn nhân và gia đình Việt Nam hiện
hành. Đồng thời qua thực tiễn áp dụng Luật, phát hiện những bất cập và đưa ra những
kiến nghị nhằm bổ sung hoàn thiện các quy định của pháp luật trong lĩnh vực chia tài
sản chung trong trường hợp vợ chồng sống chung với gia đình mà ly hôn.
3. Phương pháp nghiên cứu
Cơ sở phương pháp luận của việc nghiên cứu đề tài là dựa trên phép biện chứng
của lý luận khoa học Mác – Lê-Nin và tư tưởng Hồ Chí Minh, các quan điểm của
Đảng và Nhà nước ta trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình, phương pháp nghiên cứu,
phân tích luật viết. Ngoài ra, đề tài còn sử dụng một số phương pháp nghiên cứu khác
như so sánh, tổng hợp…
4. Kết cấu của luận văn :
Chương 1: Khái quát về chia tài sản chung khi ly hôn trong trường hợp vợ
chồng sống chung với gia đình
Trong chương này tác giả tập trung nghiên cứu tìm hiểu một số khái niệm, ý
nghĩa và lịch sử phát triển chế định chia tài sản chung trong trường hợp vợ chồng
chung sống với gia đình mà ly hôn nhằm nêu khái quát về chia tài sản chung khi vợ
chồng chung sống với gia đình.
Chương 2 : Chia tài sản chung khi ly hôn của vợ chồng trong trường hợp vợ
chồng chung sống với gia đình theo luật hôn nhân và gia đình Việt Nam
GVHD: Huỳnh Thị Trúc Giang
7
SVTH: Phan Lâm Hoàng Huynh
Thực tiễn chia tài sản chung khi ly hôn trong trường hợp vợ chồng sống chung với gia
Hôn nhân là sự liên kết suốt đời giữa vợ và chồng, bởi vì nó được xây dựng trên
cơ sở tình yêu chân chính giữa hai bên nam và nữ gắn bó và thỏa mãn những tình cảm
trong đời sống gia đình, xây dựng gia đình bền vững hạnh phúc. Nhưng sau khi kết
hôn, trong thời gian chung sống, giữa vợ chồng phát sinh những mâu thuẫn trầm trọng,
mục đích hôn nhân không đạt được và cả hai vợ chồng không thể tiếp tục cuộc sống
chung được nữa thì pháp luật quy định cho phép chấm dứt quan hệ vợ chồng bằng việc
giải quyết ly hôn.
Theo từ điển tiếng Việt, ly hôn được hiểu nôm na là vợ chồng bỏ nhau một cách
hợp pháp1, về mặt pháp lý, theo luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 sửa đổi bổ sung
năm 2010 (sau đây gọi là Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000) ly hôn là chấm dứt
quan hệ hôn nhân do Tòa án công nhận hoặc quyết định theo yêu cầu của vợ hoặc của
chồng hoặc cả hai vợ chồng. 2
Vậy theo các nhà làm luật, ly hôn được giải thích cặn kẽ và chi tiết hơn, đó là việc
chấm dứt quan hệ hôn nhân do người vợ hoặc người chồng yêu cầu hoặc do hai bên
thuận tình, được tòa án nhân dân công nhận bằng bản án xử cho ly hôn hoặc bằng quyết
định thuận tình ly hôn. Hay nói cách khác: Ly hôn là việc chấm dứt quan hệ vợ chồng
trước pháp luật.
Ly hôn dựa trên sự tự nguyện của vợ chồng, nó là kết quả của hành vi có ý chí
của vợ chồng khi thực hiện quyền ly hôn của mình. Nhà nước bằng pháp luật không thể
cưỡng ép nam, nữ phải yêu nhau và kết hôn với nhau, thì cũng không thể bắt buộc vợ
chồng phải chung sống với nhau, phải duy trì quan hệ hôn nhân khi tình cảm yêu
thương gắn bó giữa họ đã hết và mục đích của hôn nhân đã không thể đạt được.
1
Tra từ Tiếng Việt, http://tratu.soha.vn/dict/vn
2
Khoản 8, Điều 8, Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000, sửa đổi, bổ sung năm 2010
1.1.2. Khái niệm chia tài sản chung của vợ chồng
Khi ly hôn việc chia tài sản chung của vợ chồng là cần thiết, việc chia tài sản
chung đáp ứng được nhu cầu vật chất khi chấm dứt mối quan hệ hôn nhân giữa hai vợ
chồng.
“Chia tài sản chung của vợ chồng là việc vợ chồng tự thoả thuận hoặc yêu cầu
Toà án giải quyết việc chia tài sản chung của vợ chồng 3, dựa trên những điều kiện
nhất định nhằm bảo đảm cho các bên tự chủ trong việc sử dụng, định đoạt, tài sản
của mình trong khối tài sản chung”
Trong đời sống gia đình Việt Nam, việc có nhiều thế hệ cùng chung sống trong
một mái nhà trở nên phổ biến. Do một mặt về truyền thống báo đáp công sinh thành
nên các cặp vợ chồng sau khi kết hôn vẫn chung sống với cha mẹ bên vợ hoặc chồng để
3
Khoản 1 Điều 95, Luật Hôn nhân và gia đình 2000
Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ chồng tạo ra, thu nhập do lao
động, hoạt động sản xuất kinh doanh và những thu nhập hợp pháp khác của vợ chồng
trong thời kỳ hôn nhân. Việc quy định chế định chia tài sản chung của vợ chồng trở
GVHD: Huỳnh Thị Trúc Giang
10
SVTH: Phan Lâm Hoàng Huynh
Thực tiễn chia tài sản chung khi ly hôn trong trường hợp vợ chồng sống chung với gia
đình ở Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Đồng Tháp
thành một nhu cầu tất yếu đáp ứng được nhu cầu thực tế đặt ra. Một mặt giải toả được
như chú, bác, cô, dì, cậu, mợ, v.v...
Mối quan hệ giữa các thành viên trong gia đình, trong gia đình, trong đó mối quan
hệ của vợ chồng được pháp luật thừa nhận và bảo vệ . Các thành viên cùng sống chung
GVHD: Huỳnh Thị Trúc Giang
11
SVTH: Phan Lâm Hoàng Huynh
Thực tiễn chia tài sản chung khi ly hôn trong trường hợp vợ chồng sống chung với gia
đình ở Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Đồng Tháp
trong gia đình đều có nghĩa vụ quan tâm, giúp đỡ nhau, cùng nhau chăm lo đời sống
chung của gia đình, đóng góp công sức, tiền và tài sản khác để duy trì đời sống chung
phù hợp với thu nhập, khả năng thực tế của mình.Các thành viên trong gia đình có
quyền được hưởng sự chăm sóc, giúp đỡ nhau. Quyền, lợi ích hợp pháp của các thành
viên trong gia đình được tôn trọng và được pháp luật bảo vệ.Nhà nước khuyến khích và
tạo điều kiện để các thế hệ trong gia đình chăm sóc, giúp đỡ nhau nhằm giữ gìn và phát
huy truyền thống tốt đẹp của gia đình Việt Nam.
Tóm lại, vợ chồng chung sống với gia đình là khi hai vợ chồng cùng chung sống
với các thành viên trong gia đình cha mẹ và con cái, ông nội, bà nội hoặc ông ngoại, bà
ngoại và cháu cùng chung sống trong gia đình và những thân thuộc khác.
1.1.4. Khái niệm chia tài sản chung trong trường hợp vợ chồng sống chung với
gia đình mà ly hôn
Việc chia tài sản chung trong trường hợp vợ chồng sống chung với gia đình mà
ly hôn là việc vợ chồng tự thoả thuận hoặc yêu cầu Toà án giải quyết việc chia tài sản
chung của vợ chồng khi chung sống với gia đình bên chồng hoặc bên vợ.
Tài sản chung mà hai vợ chồng có được khi hôn nhân được xác lập khi cả hai về
nhà cha mẹ chồng hay cha mẹ vợ chung sống, cùng nhau đóng góp công sức tạo dựng
thông qua công tác xét xử và nhằm hướng tới việc đảm bảo cao nhất quyền và lợi ích
của các bên.
Vấn đề khó khăn ở đây là khi họ cùng chung sống với gia đình bên chồng hoặc
vợ, khi ly hôn việc chia tài sản chung trong trường hợp vợ chồng sống chung với gia
đình mà ly hôn gặp rất nhiều khó khăn, do tính chất của cuộc sống chung vợ chồng, tài
sản chung của vợ chồng không nhất thiết phải là tài sản do cả hai vợ chồng cùng tạo ra
trong thời kỳ hôn nhân, mà chỉ cần vợ hoặc chồng tạo ra trong thời kỳ hôn nhân cũng
sẽ là tài sản chung của vợ chồng.
Tài sản do vợ, chồng tạo ta có thể là tài sản tự tay vợ hoặc chồng tạo ra phục vụ
cho nhu cầu của gia đình, thể hiện dưới dạng vật chất cụ thể như nhà cửa, xe cộ, vật
dụng trong gia đình…Hiểu theo nghĩa rộng tài sản do vợ chồng tạo ra không chỉ là
những tài sản do chính tay vợ hoặc chồng tạo ra, mà còn là những tài sản mà vợ hoặc
chồng bỏ tiền vàng, công sức để vun đắp cho gia đình.
Tóm lại, chia tài sản chung trong trường hợp vợ chồng chung sống vớigia đình
ly hôn là việc vợ chồng tự thoả thuận hay yêu cầu toà án chia tài sản chung khi khối tài
sản chung đó nằm trong khối tài sản chung của gia đình bên chồng hoặc bên vợ.
1.2 Ý nghĩa của quy định về chia tài sản chung trong trường hợp vợ chồng sống
chung với gia đình mà ly hôn
Đối tượng của luật Hôn nhân và gia đình là các quan hệ hôn nhân và gia đình,
tức là các quan hệ về nhân thân và tài sản (bao gồm quan hệ về kết hôn, ly hôn, quan hệ
giữa vợ và chồng, giữa cha mẹ và đưa ra quy định về chia tài sản chung trong trường
hợp vợ chồng sống chung với gia đình và con cái, v.v...
Luật hôn nhân và gia đình 2000 ly hôn dựa trên những điều kiện nhất định, nhằm
bảo đảm cho các bên tự chủ trong việc sử dụng, định đoạt, tài sản của mình trong khối
tài sản chung khi hai vợ chồng cùng chung sống với gia đình ông bà cha mẹ và con cái,
có thể có những người thân thuộc khác cùng sống chung lâu dài và ổn định trong gia
đình với tư cách là một thành viên của gia đình, có sự liên kết của nhiều người dựa trên
cơ sở về hôn nhân, huyết thống, nuôi dưỡng, có quyền và nghĩa vụ tương ứng với nhau,
cùng quan tâm giúp đỡ lẫn nhau.
Gia đình là cái nôi nuôi dưỡng con người, là môi trường quan trọng để hình
công sức mình bỏ ra phù hợp với quyền lợi giúp họ mưu cầu hạnh phúc sau này.
Đối với gia đình cha mẹ khi đón con trở về sau ly hôn về tinh thần phần nào suy
sụp thì khi nhà nước ta quy định chế định chia tài sản chung trường hợp sống chung với
gia đình mà ly hôn thì bù đắp phần nào khi trong tay những đứa con của họ có trong tay
một số tài sản nhất định phần nào giảm bớt gánh nặng cho gia đình, bản thân họ.
Về mặt xã hội cũng đảm bảo được tính công bằng xã hội khi lao động đóng góp
xây dựng gia đình thì khi không cùng chung sống nữa thì được đền bù công sức đã bỏ
ra góp phần ổn định cuộc sống làm cho xã hội ngày càng phát triển
Việc quy định chế định này có ý nghĩa quan trọng đối với các vị thẩm phán khi
tiến hành xét xử hay chia tài sản của vợ chồng khi ly hôn, nhất là khi vợ chồng chung
sống với gia đình.
1.3 Lịch sử phát triển quy định pháp luật về chia tài sản chung khi ly hôn trong
trường hợp vợ chồng sống chung với gia đình
1.3.1 Chế định chia tài sản chung khi ly hôn trong trường hợp vợ chồng sống
chung với gia đình trong Luật Cổ đại
GVHD: Huỳnh Thị Trúc Giang
14
SVTH: Phan Lâm Hoàng Huynh
Thực tiễn chia tài sản chung khi ly hôn trong trường hợp vợ chồng sống chung với gia
đình ở Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Đồng Tháp
Ở thời kỳ này quan hệ gia đình mang nặng tính chất gia trưởng, quyền uy, phục
tùng trong đó người vợ phụ thuộc tuyệt đối vào người chồng. Chế độ sở hữu chung của
vợ chồng cũng được xác lập nhưng vẫn còn hạn chế.
Tiêu biểu ở giai đoạn này là hai bộ luật: Quốc Triều Hình Luật dưới triều Lê và
GVHD: Huỳnh Thị Trúc Giang
15
SVTH: Phan Lâm Hoàng Huynh
Thực tiễn chia tài sản chung khi ly hôn trong trường hợp vợ chồng sống chung với gia
đình ở Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Đồng Tháp
mà người vợ được chia sẽ bị bớt đi một nửa. Nếu người vợ ly hôn mà không có con thì
sẽ được lấy lại kỷ phần của mình và một nửa tài sản chung.
Trường hợp chia tài sản chung của vợ chồng khi một bên chết trước, Bộ dân luật
năm 1931 quy định không chia mà giữ nguyên, chỉ đặt ra vấn đề chia khi người vợ còn
sống mà cải giá.
Trong bộ dân luật Giản yếu 1883 không thừa nhận chế độ cộng đồng tạo sản, toàn
bộ tài sản trong gia đình đều thuộc sở hữu của người chồng. Do đó không đặt ra vấn đề
chia tài sản.
Như vậy chế độ hôn nhân của nước ta ở thời kỳ Pháp thuộc là công cụ pháp lý của
giai cấp thống trị nhằm củng cố và bảo vệ lợi ích của mình. Thời kỳ này quyền lợi của
người phụ nữ, người vợ hầu như không đươc pháp luật xem xét, coi trọng nên quy định
về chia tài sản chung trong trường hợp vợ chồng sống chung với gia đình mà ly hôn
không được nhà làm luật soạn thảo.
1.3.3 Chế định chia tài sản chung khi ly hôn trong trường hợp vợ chồng sống
chung với gia đình trong Luật Hiện đại
Cách mạng Tháng Tám thành công, nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hoà ra đời.
Dù còn bận chống thù trong giặc ngoài, nhưng Đảng và Nhà nước ta vẫn chú trọng tới
việc soạn thảo xây dựng hệ thống pháp luật nhằm củng cố và bảo vệ thành quả của
Cách mạng.
Năm 1950 Nhà nước ta đã ban hành hai sắc lệnh đầu tiên về hôn nhân gia đình là:
phải bảo vệ quyền lợi của người vợ, của con cái và lợi ích của việc sản xuất.
Luật Hôn nhân và gia đình năm 1959 có 4 Chương, 35 Điều, đã khắc phục được
những hạn chế của hai sắc lệnh khi quy định rõ nguyên tắc chia tài sản chung của vợ
chồng. Đồng thời khẳng định được bản chất pháp luật xã hội chủ nghĩa, là công cụ pháp
lý của Nhà nước, phục vụ nhân dân lao động, là nền móng để từng bước xây dựng
nghành luật hôn nhân và gia đình trong hệ thống pháp luật Xã hội chủ nghĩa của Nhà
nước ta. Việc quy định ở Điều 29 Luật Hôn nhân và gia đình năm 1959 quy định : “
Khi ly hôn, việc chia tài sản sẽ căn cứ vào sự đóng góp về công sức của mỗi bên, vào
tình hình tài sản và tình trạng cụ thể của gia đình. Lao động trong gia đình được kể như
lao động sản xuất. Khi chia phải đảm bảo quyền lợi của người vợ và lợi ích của việc
sản xuất.” .Tuy chưa phân định rõ quy định chia tài sản trong trường hợp vợ chồng
chung sống với gia đình mà ly hôn, nhưng quy định chia tài sản khi ly hôn trong gian
đoạn này tạm thời giải quyết những khó khăn bất cập trong việc chia tài sản chung của
vợ chồng.
1.3.3.2 Luật Hôn nhân và gia đình năm 1986
Luật Hôn nhân và gia đình năm 1986 được Nhà nước ban hành vào những năm
đầu của thời kỳ đổi mới.
Về quy định chia tài sản chung của vợ chồng so với Luật Hôn nhân và gia đình
năm 1959 có điểm tiến bộ hơn, đó là quy định chia tài sản chung của vợ chồng trong ba
trường hợp: Chia khi ly hôn, chia khi một bên chết trước và chia trong thời kỳ hôn
nhân. Về nguyên tắc chia tài sản khi ly hôn sẽ theo nguyên tắc chia đôi.Trong Điều 42
Luật Hôn nhân và gia đình năm 1986 quy định: “Khi ly hôn, việc chia tài sản do hai
bên thoả thuận, và phải được Toà án nhân dân công nhận. Nếu hai bên không thoả
thuận được với nhau thì Toà án nhân dân quyết định.
Việc chia tài sản khi ly hôn, về nguyên tắc, phải theo những quy định dưới đây:
a) Tài sản riêng của bên nào thì vẫn thuộc quyền sở hữu của bên ấy;
b) Tài sản chung của vợ chồng được chia đôi, nhưng có xem xét một cách hợp lý
đến tình hình tài sản, tình trạng cụ thể của gia đình và công sức đóng góp của mỗi bên;
GVHD: Huỳnh Thị Trúc Giang
vào đời sống chung của gia đình. Việc chia một phần trong khối tài sản chung do vợ
chồng thoả thuận với gia đình; nếu không thoả thuận được thì yêu cầu Toà án giải
quyết.
2. Trong trường hợp vợ chồng sống chung với gia đình mà tài sản của vợ chồng
trong khối tài sản chung của gia đình có thể xác định được theo phần thì khi ly hôn,
phần tài sản của vợ chồng được trích ra từ khối tài sản chung đó để chia.”
Do có những thay đổi về điều kiện kinh tế-xã hội trong tiến trình chủ động hội
nhập kinh tế quốc tế của đất nước, luật Hôn nhân và gia đình năm 2000, sửa đổi bổ
sung năm 2010 có những thay đổi khắc phục những bất cặp của các văn bản luật Hôn
nhân và gia đình trước, việc quy định chế định chia tài sản chung của vợ chồng trong
trường hợp vợ chồng sống chung với gia đình mà ly hôn là một ví dụ, nhằm làm luật
Hôn nhân và gia đình nước ta hoàn thiện hơn.
GVHD: Huỳnh Thị Trúc Giang
18
SVTH: Phan Lâm Hoàng Huynh
Thực tiễn chia tài sản chung khi ly hôn trong trường hợp vợ chồng sống chung với gia
đình ở Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Đồng Tháp
1.3.3.4 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014
Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 gồm 9 chương, 133 điều, có hiệu lực từ
01/01/2015. Luật này đã được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
khóa XIII, kỳ họp thứ 7 thông qua ngày 19 tháng 6 năm 2014
Trong Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 việc chia tài sản trong trường hợp
vợ chồng chung sống với gia đình được quy định tại Điều 61 như sau:
“ 1. Trong trường hợp vợ chồng sống chung với gia đình mà ly hôn, nếu tài sản của
vợ chồng trong khối tài sản chung của gia đình không xác định được thì vợ hoặc chồng
CHUNG SỐNG VỚI GIA ĐÌNH TRONG LUẬT HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH
2.1. Căn cứ chia tài sản chung của vợ chồng trong trường hợp vợ chồng chung
sống với gia đình ly hôn
Chia tài sản chung khi vợ chồng chung sống với gia đình là một trong những
trường hợp chia tài sản sau khi ly hôn.
Điều 96 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 quy định:
“1. Trong trường hợp vợ, chồng sống chung với gia đình mà ly hôn, nếu tài sản
của vợ chồng trong khối tài sản chung của gia đình không xác định được thì vợ hoặc
chồng được chia một phần trong khối tài sản chung của gia đình căn cứ vào công sức
đóng góp của vợ chồng vào việc tạo lập, duy trì phát triển khối tài sản chung cũng như
vào đời sống chung của gia đình. Việc chia một phần trong khối tài sản chung do vợ
chồng thoả thuận với gia đình; nếu không thoả thuận được thì yêu cầu Toà án giải
quyết.
2. Trong trường hợp vợ chồng sống chung với gia đình mà tài sản của vợ chồng
trong khối tài sản chung của gia đình có thể xác định được theo phần thì khi ly hôn,
phần tài sản của vợ chồng được trích ra từ khối tài sản chung đó để chia.”
Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 quy định tại Điều 96 việc chia tài sản
chung của vợ chồng khi ly hôn trong trường hợp vợ chồng chung sống với gia đình.
Theo nội dung điều luật thấy rằng căn cứ để chia tài sản chung khi ly hôn trong trường
hợp vợ chồng chung sống với gia đình là dựa vào công sức đóng góp của mỗi người
vào việc tạo lập duy trì phát triển khối tài sản chung đó.
Thực ra nếu dựa vào câu chữ của điều luật, ta thấy rằng việc chia tài sản chung
khi ly hôn trong trường hợp vợ chồng chung sống với gia đình sẽ có hai căn cứ, phụ
thuộc vào từng trường hợp cụ thể:
-Trường hợp thứ nhất, nếu tài sản của vợ chồng trong khối tài sản chung của gia
đình không xác định được thì vợ hoặc chồng được chia một phần trong khối tài sản
chung của gia đình căn cứ vào công sức đóng góp của vợ chồng vào việc tạo lập, duy
trì phát triển khối tài sản chung cũng như vào đời sống chung của gia đình
Khi cùng chung sống với gia đình thì việc cùng lao động đóng góp sức lực tiền
của để xây dựng gia đình, cải thiện đời sống là nhu cầu thiết yếu của các cặp vợ chồng,
trong khối tài sản chung của gia đình có thể xác định được theo phần thì khi ly hôn,
phần tài sản của vợ chồng được trích ra từ khối tài sản chung đó để chia theo quy định
tại Điều 59 của Luật này.”
Như vậy Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 vẫn giữ nguyên nội dung tại
khoản 1 Điều 96 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000: “ Trong trường hợp vợ chồng
sống chung với gia đình mà ly hôn, nếu tài sản của vợ chồng trong khối tài sản chung
của gia đình không xác định được thì vợ hoặc chồng được chia một phần trong khối tài
sản chung của gia đình căn cứ vào công sức đóng góp của vợ chồng vào việc tạo lập,
duy trì, phát triển khối tài sản chung cũng như vào đời sống chung của gia đình. Việc
chia một phần trong khối tài sản chung do vợ chồng thỏa thuận với gia đình; nếu
không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết.
Kế thừa Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000, Luật Hôn nhân và gia đình năm
2014 quy định căn cứ để chia tài sản chung khi ly hôn vẫn dựa vào công sức đóng góp
của vợ chồng vào việc tạo lập, duy trì, phát triển khối tài sản chung cũng như vào đời
sống chung của gia đình. Chia ra hai trường hợp chia tài sản chung khi ly hôn trong
GVHD: Huỳnh Thị Trúc Giang
21
SVTH: Phan Lâm Hoàng Huynh
Thực tiễn chia tài sản chung khi ly hôn trong trường hợp vợ chồng sống chung với gia
đình ở Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Đồng Tháp
trường hợp vợ chồng chung sống với gia đình : nếu tài sản của vợ chồng trong khối tài
sản chung với gia đình không xác định được thì dựa vào công sức đóng góp để chia;
nếu tài sản của vợ chồng trong khối tài sản chung với gia đình xác định được thì dựa
vào phần quyền của vợ chồng trong khối tài sản để chia theo Khoản 2 Điều 61 Luật
Hôn nhân và gia đình năm 2014 : “ trường hợp vợ chồng sống chung với gia đình mà
22
SVTH: Phan Lâm Hoàng Huynh
Thực tiễn chia tài sản chung khi ly hôn trong trường hợp vợ chồng sống chung với gia
đình ở Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Đồng Tháp
4. Tài sản riêng của vợ, chồng thuộc quyền sở hữu của người đó, trừ trường hợp tài
sản riêng đã nhập vào tài sản chung theo quy định của Luật này.
Trong trường hợp có sự sáp nhập, trộn lẫn giữa tài sản riêng với tài sản chung
mà vợ, chồng có yêu cầu về chia tài sản thì được thanh toán phần giá trị tài sản của
mình đóng góp vào khối tài sản đó, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác.
5. Bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của vợ, con chưa thành niên, con đã thành niên
mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để
tự nuôi mình.
6. Tòa án nhân dân tối cao chủ trì phối hợp với Viện kiểm sát nhân dân tối cao và
Bộ Tư pháp hướng dẫn Điều này.”
Khi quan hệ hôn nhân tồn tại, hai bên cùng chung sức xây dựng cơ sở vật chất
cho gia đình bên chồng hay bên vợ mà vợ chồng sống chung, việc xác định phần trong
khối tài sản chung dựa trên công sức đóng góp là rất khó khăn, thường là người vợ
trong vai trò là lao động gia đình như nội trợ, chăm sóc con cái vẫn được xem là lao
động có thu nhập. Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 đưa ra căn cứ xác minh công
sức đóng góp, nhưng thực tế đây không phải là việc đơn giản. Bởi vì khi kết hôn, ít ai
ghi chép thành văn bản ngày công lao động, như làm nội trợ hay công sức lao động bản
thân với gia đình, đóng góp cho gia đình, để sau này khi ly hôn có căn cứ chứng minh
rằng mình đã lao động đóng góp như thế nào để thoả thuận với gia đình hay đưa ra
chứng cứ để yêu cầu toà án chia tài sản chung khi ly hôn. Do vậy, khi gia đình tan vỡ,
nếu các bên không tìm thấy ở nhau một sự thông cảm nào (gia đình bên chồng và “nàng
Để đảm bảo tính công bằng, sự phù hợp với nguyên tắc phân phối theo lao động,
không phải trường hợp nào khi quyết định Toà án đều chia đôi tài sản chung của vợ
chồng cho mỗi bên, mà vẫn cân nhắc và xem xét đến công sức đóng góp, hoàn cảnh cụ
thể mỗi bên cho thấu tình đạt lý. Toà án chỉ quyết định chia đôi tài sản chung của vợ
chồng cho mỗi bên khi xét thấy công sức tạo lập, phát triển tài sản chung của vợ chồng
ngang nhau. Toà án vẫn có thể quyết định chia phần nhiều hơn hoặc ít hơn cho mỗi bên
vợ, chồng khi ly hôn.
Khi xã hội Việt Nam còn mang nặng tính gia trưởng, người trụ cột trong gia đình
thường là người chồng, người vợ tuy cùng đóng góp công sức (có thể bằng hoặc hơn
chồng) vun vén cho gia đình nhưng khi ly hôn không chứng minh được mình đã bỏ
công sức tiền của và cả tâm huyết của mình vào khối tài sản chung đó. Việc xác định
công sức đóng góp gặp rất nhiều khó khăn, đương sự phải tự mình chứng minh công
sức đóng góp bản thân vào khối gia sản. Khi đã phát sinh nhiều mâu thuẫn, thì việc chia
tài sản như là việc giành quyền lợi về vật chất, ai cũng muốn giành quyền lợi cho bản
thân. Chính lúc này hôn nhân giữa hai vợ chồng đã chấm dứt tình cảm thì cần có sự
sòng phẳng về tài sản. Thực tiễn Toà án giải quyết các vụ án ly hôn nhất là vợ chồng
chung sống với gia đình mà ly hôn thì vẫn căn cứ vào hoàn cảnh của mỗi bên, nuôi con
nhỏ và tình trạng tài sản chung của gia đình.
2.2 Nguyên tắc chia tài sản chung của vợ chồng trong trường hợp vợ chồng
chung sống với gia đình ly hôn
Trong thực tế xã hội nước ta hiện nay, sau khi kết hôn nhiều cặp vợ chồng vẫn
chung sống với cha mẹ gia đình chồng hoặc vợ.
Trong các văn bản cũ của pháp luật phong kiến Việt Nam, do ảnh hưởng của tư
tưởng trọng nam, khinh nữ nên các vụ ly hôn có sự thiệt thòi về phần tài sản cho người
phụ nữ. Pháp luật nước ta ngày nay thừa nhận sự bình đẳng của vợ chồng trong mọi
lĩnh vực, ngay cả khi vợ chồng sống chung với gia đình bên chồng hay bên vợ, đều
được đảm bảo quyền lợi trước pháp luật. Theo quy định tại Điều 95 Luật Hôn nhân và
GVHD: Huỳnh Thị Trúc Giang
24
3. Tài sản chung của vợ chồng được chia bằng hiện vật, nếu không chia được bằng
hiện vật thì chia theo giá trị; bên nào nhận phần tài sản bằng hiện vật có giá trị lớn
hơn phần mình được hưởng thì phải thanh toán cho bên kia phần chênh lệch.
4. Tài sản riêng của vợ, chồng thuộc quyền sở hữu của người đó, trừ trường hợp tài
sản riêng đã nhập vào tài sản chung theo quy định của Luật này.
Trong trường hợp có sự sáp nhập, trộn lẫn giữa tài sản riêng với tài sản chung
mà vợ, chồng có yêu cầu về chia tài sản thì được thanh toán phần giá trị tài sản của
mình đóng góp vào khối tài sản đó, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác.
5. Bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của vợ, con chưa thành niên, con đã thành niên
mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để
tự nuôi mình.
GVHD: Huỳnh Thị Trúc Giang
25
SVTH: Phan Lâm Hoàng Huynh