THỰC TIỄN GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP VỀ HỢP ĐỒNG VAY TÀI SẢN TẠI TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUẢNG TRẠCH TỈNH QUẢNG BÌNH - Pdf 54

ĐẠI HỌC HUẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT

CHUYÊN ĐỀ THỰC TẬP CUỐI KHÓA
ĐỀ TÀI:
THỰC TIỄN GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP VỀ HỢP
ĐỒNG VAY TÀI SẢN TẠI TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN QUẢNG TRẠCH TỈNH QUẢNG BÌNH
Thời gian thực tập: 18/6/2018 – 17/6/2018
Địa điểm thực tập: Tòa án Nhân dân huyện Quảng Trạch, Quảng Bình
Sinh viên thực hiện: Lương Thế Hùng
Lớp: Luật K39D
Mã số sinh viên: 15A5011180

Huế, tháng 9 năm 2018


A. PHẦN MỞ ĐẦU
Đế giải quyết những khó khăn tạm thời về kinh tế cũng như đáp ứng
nguồn vốn đế sản xuất kinh thì hơp đồng vay tài sản là phương tiện pháp lý để
thỏa mãn các nhu cầu đó. Hơp đồng vay tài sản có vị trí quan trọng trong đời
sống xã hội, đặc biệt trong bối cảnh kinh tế ngày càng phát triển, các giao dịch
dân sự, thương mại ngày càng đa dạng. Các quy định về hơp đồng vay tài sản
đươc quy định trong Bộ luật dân sự đã góp phần đảm bảo sự ôn định của xã hội,
đảm bảo lơi ích chung của cộng đồng cũng như quyền và lơi ích hơp pháp của
các chủ thể tham gia quan hệ hơp đồng vay.
Tuy nhiên, các quy định trong pháp luật dân sự quy định về hơp đồng vay
tài sản còn nhiều vấn đề cần giải quyết và thực tiễn áp dụng pháp luật không
tránh khỏi những vướng mắc. Trong quá trình thực tập tại Tòa án nhân dân
(TAND) huyện Quảng Trạch, nhận thấy trong thời gian gần đây số lương thụ lý
các vụ án dân sự về tranh chấp hơp đồng vay tài sản ngày càng tăng lên. Mỗi vụ

thức đấu tranh phòng ngừa và chống phạm tội và các hành vi vi phạm pháp luật
khác.
Thực hiện Nghị quyết số 125/NQ-CP ngày 20/12/2013 của Chính phủ về
việc điều chỉnh địa giới hành chính, chia tách, thành lập mới đơn vị hành chính
huyện Quảng Trạch thành thị xã Ba Đồn và huyện Quảng Trạch nên TAND cũng
đươc chia tách thành TAND thị xã Ba Đồn và TAND huyện Quảng Trạch ngày
03/4/2015. Do chia tách nên cơ cấu tô chức, biên chế cán bộ của TAND huyện
Quảng Trạch cũng có sự thay đôi, hiện tại TAND huyện Quảng Trạch có 10 cán
bộ công chức, người lao động, bao gồm: 03 Thẩm phán, trong đó Chánh án cũng
đồng thời là Thẩm phán, 04 Thư ký, 01 Kế toán, 02 nhân viên hơp đồng theo
nghị định 68/NĐ-CP là 01 bảo vệ và 01 văn thư lưu trữ kiêm tạp vụ.


Về trình độ chuyên môn, lý luận chính trị: Có 09 đồng chí trình độ cử
nhân luật, 01 cử nhân kinh tế. Trong số cán bộ công chức có 02 đồng chí đã tốt
nghiệp cao cấp chính trị và 02 đồng chí trung cấp chính trị.
Biên chế đơn vị hầu hết đươc đào tạo cơ bản, trẻ trung, năng động có
nhiệt huyết; Đội ngũ lãnh đạo, Thẩm phán có kinh nghiệm nhiều năm trong công
tác chuyên môn, có bản lĩnh chính trị, chuyên môn nghiệp vụ vững vàng.
Qua những năm qua tuy điều kiện còn nhiều khó khăn về đội ngũ cán bộ,
kinh phí đào tạo cũng như cơ sở vật chất còn thiếu thốn chưa đáp ứng cho hoạt
động của ngành Tòa án, nhưng TAND huyện Quảng Trạch đã khắc phục mọi
khó khăn, dần dần xây dựng đội ngũ cán bộ hoàn thành tốt nhiệm vụ đươc giao.
II, Những vấn đề cơ bản về hợp đồng vay tài sản:
1, Khái niệm:
Theo điều 463 Bộ luật dân sự 2015 quy định: “Hơp đồng vay tài sản là sự
thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên cho vay giao tài sản cho bên vay; khi đến
hạn trả, bên vay phải hoàn trả cho bên cho vay tài sản cùng loại theo đúng số
lương, chất lương và phải chi trả lãi nếu có thỏa thuận hoặc pháp luật có quy
định.”

mà hơp đồng đươc chia thành hai loại là hơp đồng song vụ và hơp đồng đơn
vụ. Theo quy định tại khoản 1 Điều 402 Bộ luật Dân sự năm 2015 thì: "Hơp
đồng song vụ là hơp đồng mà mỗi bên đều có nghĩa vụ đối với nhau". Nghĩa
là trong quan hệ này mỗi bên đều có quyền và đồng thời có nghĩa vụ đối với
bên còn lại. Còn theo quy định tại khoản 2 Điều 402 Bộ luật Dân sự năm
2015 thì: "Hơp đồng đơn vụ là hơp đồng mà chỉ một bên có nghĩa vụ". Tức là
trong quan hệ này một bên chỉ có quyền mà không có nghĩa vụ và một bên có
nghĩa vụ mà không có quyền.
Trong quan hệ này, một bên chỉ có quyền mà không có nghĩa vụ, còn
bên có nghĩa vụ mà không có quyền. Có ý kiến cho rằng, nếu dựa vào mối
quan hệ giữa quyền và nghĩa vụ của bên cho vay và bên vay thì hơp đồng vay
là hơp đồng song vụ, quyền của bên vay tương ứng với nghĩa vụ của bên cho
vay và ngươc lại, hoặc có thể là đơn vụ khi một bên trong hơp đồng chỉ có


nghĩa vụ mà không có quyền với bên kia.
Xét về nguyên tắc, hơp đồng vay tài sản là đơn vụ đối với những
trường hơp vay không lãi suất, bên cho vay có quyền yêu cầu bên vay hoàn trả
vật cùng loại tương ứng với số lương, chất lương của tài sản vay. Bên vay
không có quyền đối với bên cho vay. Tuy nhiên, đối với hơp đông vay có lãi
suất thì bên cho vay có nghĩa vụ chuyển tiền đúng hạn, nếu vi phạm thì phải
chịu trách nhiệm dân sự.
Thứ ba, hợp đồng vay tài sản là một hợp đồng có đền bù hoăc
không có đền bù.
Hơp đồng vay tài sản là hơp đồng có tính đền bù khi mà một bên sau
khi đã thực hiện cho bên kia một lơi ích sẽ nhận lại một lơi ích tương ứng.
Đây là một dạng thường thấy trong các hoạt động tín dụng của ngân hàng.
Khi các tô chức tín dụng cho vay tiền đều có quy định mức lãi suất tương ứng
tùy thuộc vào từng thời điểm, tính chất và đặc điểm của hơp đồng vay tài sản.
Hoặc trong trường hơp bên này cho bên kia vay và có thỏa thuận là vay có lãi

3, Quy định chung về hợp đồng vay tài sản:
Hình thức của hợp đồng
Hình thức của hơp đồng do các bên thỏa thuận: có thể bằng lời nói hoặc
bằng văn bản. (Điều 119 Bộ luật dân sự 2015).
Đối tượng của hợp đồng vay tài sản là tài sản
Điều 105 Bộ luật dân sự 2015:
“1. Tài sản là vật, tiền, giấy tờ có giá và quyền tài sản.
2. Tài sản bao gồm bất động sản và động sản. Bất động sản và động sản
có thể là tài sản hiện có và tài sản hình thành trong tương lai.”
Thông thường là một khoản tiền nhưng thực tế cũng có thể là vàng, kim
khi, đá quý hoặc một số lương tài sản khác. Tuy nhiên, nếu vay bằng vật thì đối
tương của hơp đồng phải là vật cùng loại.


Nghĩa vụ của bên cho vay (Điều 465 Bộ luật dân sự 2015)
- Giao tài sản cho bên vay đầy đủ, đúng chất lương, số lương vào thời
điểm và địa điểm đã thỏa thuận.
- Bồi thường thiệt hại cho bên vay, nếu bên cho vay biết tài sản không bảo
đảm chất lương mà không báo cho bên vay biết, trừ trường hơp bên vay biết mà
vẫn nhận tài sản đó.
- Không đươc yêu cầu bên vay trả lại tài sản trước thời hạn, trừ trường
hơp quy định tại Điều 470 của Bộ luật này hoặc luật khác có liên quan quy định
khác.
Nghĩa vụ trả nợ của bên vay (Điều 466 Bộ luật dân sự 2015)
- Bên vay tài sản là tiền thì phải trả đủ tiền khi đến hạn; nếu tài sản là vật
thì phải trả vật cùng loại đúng số lương, chất lương, trừ trường hơp có thỏa
thuận khác.
- Trường hơp bên vay không thể trả vật thì có thể trả bằng tiền theo trị giá
của vật đã vay tại địa điểm và thời điểm trả nơ, nếu đươc bên cho vay đồng ý.
- Địa điểm trả nơ là nơi cư trú hoặc nơi đặt trụ sở của bên cho vay, trừ

Các bên trong hợp đồng còn có thể thỏa thuận việc tài sản vay phải sử
dụng đúng mục đích vay và bên cho vay có quyền kiểm tra việc sử dụng tài
sản đã cho vay (Điều 467 Bộ luật dân sự 2015)
Nếu bên vay sử dụng tài sản vay không đúng mục đích mà bên cho vay đã
nhắc nhở nhưng vẫn sử dụng tài sản đó trái mục đích vay, thì bên vay có tiền đòi
lại tiền, tài sản đã cho vay trước thời hạn.


III, Nhận xét, đánh giá các hoạt động áp dụng pháp luật của Tòa án Nhân
dân huyện Quảng Trạch về giải quyết tranh chấp hợp đồng vay tài sản:
1.

Hoạt động áp dụng pháp luật tại Tòa án Nhân dân huyện Quảng Trạch
về giải quyết tranh chấp hợp đồng vay tài sản:
Từ năm 2016 đến 06 tháng đầu năm 2018, số lương án dân sự, kinh doanh
thương mại về tranh chấp hơp đồng vay tài sản mà đơn vị đã thụ lý là 83 vụ án
trong tông số 315 vụ án tòa án đã thụ lý, đạt tỷ lệ 26,35%. Có thể thấy các tranh
chấp về hơp đồng vay tài sản ngày càng gia tăng về số lương và mức độ phức
tạp qua số liệu sau:
Bảng 1.1: Thống kê các vụ án về tranh chấp hợp đồng vay tài sản được
TAND huyện Quảng Trạch thụ lý từ năm 2016 đến 06 tháng đầu năm 20181
Năm
Số vụ án tranh chấp hơp
đồng vay vay tài sản
Số vụ đã giải quyết
Tỷ lệ (%)

2018

2016

Số vụ bị đình chỉ

2016

2017

1

1

2018
(06 đầu năm)
1

Tổng
3

1 Nguồn: Thống kê thụ lý và giải quyết vụ án dân sự, kinh doanh thương mại
năm 2016, 2017 và 06 tháng đầu năm 2018 của TAND huyện Quảng Trạch
2 Nguồn: Thống kê thụ lý và giải quyết vụ án dân sự, kinh doanh thương mại
năm 2016, 2017 và 06 tháng đầu năm 2018 của TAND huyện Quảng Trạch


Số vụ công nhận sự thỏa

7

4

4

giao lưu vốn giữa các cá nhân, tô chức và tô chức tín dụng đã làm cho quan hệ
dân sự diễn ra ngày càng nhiều và phức tạp từ đó phát sinh các tranh chấp là
điều tất yếu.
2. Những ưu điểm và khó khăn, vướng mắc trong hoạt động áp dụng
pháp luật của Tòa án nhân dân huyện Quảng Trạch về giải quyết tranh
chấp hợp đồng vay tài sản:
a, Những ưu điểm trong hoạt động áp dụng pháp luật của Tòa án
nhân dân huyện Quảng Trạch về giải quyết tranh chấp hợp đồng vay tài
sản:
Thứ nhất, việc áp dụng pháp luật của TAND Quảng Trạch luôn đạt đươc
những hiệu quả nhất định. Công tác xét xử nói chung, việc giải quyết các vụ án
tranh chấp hơp đồng vay tài sản nói riêng tại TAND huyện Quảng Trạch luôn
đươc tiến hành kịp thời, đảm bảo tuân theo quy định của pháp luật. Các vụ án,
việc đều đươc giải quyết kịp thời, không có án quá thời hạn giải quyết theo luật
định, chất lương xét xử đảm bảo, đúng quy định của pháp luật.
Thứ hai, hầu hết các tranh chấp về hơp đồng vay tài sản mà chủ yếu là
hơp đồng vay tiền luôn đươc TAND huyện Quảng Trạch tiến hành giải quyết
thông qua công tác hòa giải giữa các đương sự và công nhận sự thỏa thuận của
đương sự. Đa số các tranh chấp về hơp đồng vay tài sản trên địa bàn huyện có


một bên tham gia là các tô chức tín dụng trong quan hệ hơp đồng vay tiền, khi
giải quyết các tranh chấp này thi khả năng hòa giải thành của Tòa án là rất lớn.
Thứ ba, việc thu thập tài liệu giúp làm rõ hơn các tình tiết của vụ án là
công việc đầu tiên giúp công tác giải quyết vụ án đươc dễ dàng hơn và chính
xác hơn. Với sự linh hoạt và chuyên môn tương đối vững, tùy theo từng đương
sự mà các Thư ký, Thẩm phán TAND huyện Quảng Trạch luôn có cách giải
quyết khác nhau nên công tác tiếp xúc trực tiếp với đương sự luôn thu đươc kết
quả, thu thập tài liệu một cách rõ ràng.
Thứ tư, TAND huyện Quảng Trạch không ngừng nâng cao chất lương xét

nhằm mục đích trốn tránh nghĩa vụ trả nơ cho bên cho vay. Từ ý thức trách
nhiệm của bên vay không đảm bảo nên việc đảm bảo thu hồi vốn gặp rất nhiều
khó khăn.
Về đánh giá chứng cứ: Thông thường, trong các vụ án về tranh chấp hơp
đồng vay tài sản, chứng cứ các bên xuất trình chỉ có giấy biên nhận vay tiền rất
sơ sài. Do vậy, có trường hơp bị đơn không thừa nhận chữ ký, chữ viết trong
giấy biên nhận vay tiền hoặc bị đơn cố tình trốn tránh. Trường hơp các đương sự
có các lời khai mâu thuẫn với nhau thì mỗi bên phải chứng minh lời khai của
mình là đúng, nếu các đương sự không chứng minh đươc sự tồn tại quyền và lơi
ích hơp pháp của họ thì không thể thuyết phục đươc Tòa án bảo vệ quyền cho
mình. Trong việc này đòi hỏi thẩm phán phải có kinh nghiệm dày dặn, chuyên
môn cao, phán đoán tình hình trong việc giải quyết tranh chấp.
Về việc tống đạt các văn bản tố tụng của tòa án: khi thực hiện vẫn gặp
một số khó khăn nhất định trong việc triệu tập đương sự nhất là trong trường
hơp đương sự cố tình trốn tránh không nhận giấy triệu tập của tòa án, không
chịu kí vào các văn bản giao nhận tố tụng của Tòa án. Mặt khác, sự hỗ trợ của
các cơ quan hành chính địa phương (UBND xã, phường, thị trấn) trong việc
tống đạt giấy triệu tập của tòa án cho đương sự chưa đươc quan tâm đúng mức.
Về hòa giải: Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã gửi thông báo về phiên hòa
giải và giấy triệu tập nhiều lần yêu cầu bị đơn đến làm bản tư khai, cung cấp


chứng cứ và hòa giải để bảo vệ quyền và lơi ích hơp pháp của mình. Nhưng
nhiều bị đơn cố tình không chấp hành, hoặc đến Tòa nhưng tỏ thái độ bất hơp
tác. Do đó, vụ án không tiến hành hòa giải đươc.
3.

Đề xuất, kiến nghị:
a, Đề xuất, kiến nghị chung:
Thứ nhất, tiếp tục đôi mới thủ tục hành chính – tư pháp nhằm đảm bảo

trang bị thêm cơ sở vật chất là điều cần thiết nhằm phục vụ cho việc nâng cao
hiệu quả xét xử cũng như nhu cầu làm việc của cán bộ, công chức Tòa án.
Thứ tư, cần tăng cường công tác xét xử lưu động, đây là biện pháp nhằm
tuyên truyền và hiểu biết pháp luật mang lại hiệu quả trực tiếp. Việc xét xử lưu
động góp phần nâng cao ý thức chấp hành pháp luật cho người dân.


C, KẾT LUẬN:
Giải quyết tranh chấp về dân sự nói chung và tranh chấp về hơp đồng vay
tài sản nói riêng là một hình thức áp dụng pháp luật nhưng là hình thức đặc thù,
vì các chủ thể là cá nhân đươc Nhà nước giao quyền như Thẩm phán, Hội thẩm
nhân dân,… trong hoạt động giải quyết án dân sự. Trong quá trình giải quyết họ
đươc thực hiện những quyền mà Nhà nước giao cho nhưng phải tuân theo
nguyên tắc của pháp luật tố tụng dân sự, nhằm lựa chọn các quy phạm pháp luật
đúng đắn, bảo đảm quyền lơi hơp pháp của các bên đương sự. Việc nghiên cứu
thực tiễn áp dụng pháp luật trong việc giải quyết tranh chấp về hơp đồng vay tài
sản là vấn đề cần. Đây là loại hơp đồng thông dụng trong đời sống dân sự, có vai
trò quan trọng trong việc lưu thông nguồn vốn, góp phần thúc đẩy kinh tế - xã
hội phát triển; đồng thời thể hiện tinh thần thân ái, giúp đỡ nhau trong nhân dân.
Việc giải quyết các tranh chấp phát sinh từ quan hệ này là nhằm bảo vệ quyền và
lơi ích hơp pháp của các bên, bảo vệ sự lành mạnh trong giao lưu dân sự, bảo vệ
truyền thống tốt đẹp của dân tộc.
Sau thời gian hai tháng đươc thực tập tại TAND huyện Quảng Trạch, đây là
khoảng thời gian tuy không phải là dài nhưng với sự giúp đỡ tận tình của lãnh
đạo cùng với toàn thể cán bộ Tòa án và nỗ lực bản thân, đã giúp cho em tích lũy
đươc nhiều kinh nghiệm và kiến thức bô ích. Kết quả thu đươc trong quá trình
thực tập đươc phản ánh phần nào qua chuyên đề này. Tuy nhiên, trong quá trình
thực tập tại TAND huyện Quảng Trạch do kinh nghiệm còn hạn chế trong việc
tìm hiểu, thu thập và đánh giá thông tin nên chuyên đề thực tập cuối khóa còn
nhiều điểm thiếu sót. Vì vậy em rất mong nhận đươc sự đóng góp bô sung của

Bản án số 04/2016/TCDS-ST ngày 31 tháng 3 năm 2016 của Tòa án Nhân

5.

dân huyện Quảng Trạch giữa:
Nguyên đơn: (bà) Nguyễn Thị Thanh Tùng
Bị đơn: (bà) Cao Thị Hường
Quyết định số 08/2016/QĐST-TCDS ngày 24 tháng 11 năm 2016 của Tòa án
Nhân dân huyện Quảng Trạch về việc “Công nhận sự thỏa thuận của các

6.

đương sự”:
Nguyên đơn: (bà) Nguyễn Thị Hảo
Bị đơn: (ông) Lê Quốc Nam và (bà) Trần Thị Hồng Mỹ
Quyết định số 11/2016/QĐST-DS ngày 25 tháng 3 năm 2016 của Tòa án
Nhân dân huyện Quảng Trạch về việc “Công nhận sự thỏa thuận của các

7.

đương sự”:
Nguyên đơn: (bà) Nguyễn Thị Dưỡng
Bị đơn: (ông) Lê Quốc Nam và (bà) Trần Thị Hồng Mỹ
Quyết định số 02/2017/QĐST-TCDS ngày 24 tháng 01 năm 2017 của Tòa án
Nhân dân huyện Quảng Trạch về việc “Công nhận sự thỏa thuận của các
đương sự”:
Nguyên đơn: (bà) Cao Thị Huệ
Bị đơn: (bà) Trần Thị Tuyết



Nguyên đơn: Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam
Bị đơn: (ông) Trần Tuấn Anh và (bà) Hồ Thị Mỹ Hạnh
Bản án số 04/2018/DS-ST ngày 14 tháng 5 năm 2018 của Tòa án Nhân dân

13.

huyện Quảng Trạch giữa:
Nguyên đơn: (bà) Nguyễn Thị Oanh
Bị đơn: (bà) Võ Thị Thu Hà
Quyết định số 07/2018/QĐST-ĐC ngày 25 tháng 6 năm 2018 của Tòa án
Nhân dân huyện Quảng Trạch về việc “Đình chỉ giải quyết vụ án dân sự”:
Nguyên đơn: (bà) Nguyễn Thị Thanh Tùng
Bị đơn: (bà) Võ Thị Thu Hà




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status