BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ TƯ PHÁP
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
NGUYỄN PHƯƠNG THẢO
THỰC TIỄN GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP
VỂ HỢP ĐỒNG BẢO LÃNH THEO QUY ĐỊNH CỦA
PHÁP LUẬT DÂN SỰ VIỆT NAM
Chuyên ngành : Luật Dân sự và Tố tụng dân sự
Mã số
: 8380103
Người hướng dẫn khoa học: TS. Nguyễn Minh Oanh
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
(Định hướng ứng dụng)
HÀ NỘI - 2018
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học độc lập của riêng
tôi dưới sự hướng dẫn khoa học của TS. Nguyễn Minh Oanh.
Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công
trình nào khác. Các tư liệu trong Luận văn là trung thực, có nguồn gốc rõ ràng,
được trích dẫn theo đúng quy định.
Tôi xin chịu trách nhiệm về tính chính xác và trung thực của Luận văn
Hội đồng quản trị
HĐXX
Hội đồng xét xử
Nghị định số 102/2017/NĐ-CP
Nghị định số 102/2017/NĐ-CP
ngày 01/9/2017 của Chính phủ về
đăng ký biện pháp bảo đảm.
Nghị định số 163/2000/NĐ-CP
Nghị định số 163/2000/NĐ-CP
ngày 29/12/2006 của Chính phủ về
“Giao dịch bảo đảm”.
QSDĐ
Quyền sử dụng đất
TAND
Tòa án nhân dân
Thông tư số 257/2016/TT-BTC
Thông tư số 257/2016/TT-BTC
ngày 11/11/2016 của Bộ Tài chính
1.1.1.2.
Đặc điểm của hợp đồng bảo lãnh ................................................... 8
1.1.2.
Pháp luật về hợp đồng bảo lãnh.......................................................... 9
1.1.2.1.
Chủ thể của hợp đồng bảo lãnh ...................................................... 9
1.1.2.2.
Đối tượng của hợp đồng bảo lãnh ................................................11
1.1.2.3.
Hình thức hợp đồng bảo lãnh........................................................13
1.1.2.4.
Phạm vi bảo lãnh...........................................................................13
1.1.2.5.
Hiệu lực của hợp đồng bảo lãnh ...................................................18
1.1.2.6.
Giải quyết tranh chấp về phạm vi bảo lãnh trong hợp đồng ...........38
2.2.4.
Giải quyết tranh chấp về bản chất của hợp đồng ............................47
2.2.5.
Giải quyết tranh chấp về căn cứ chấm dứt bảo lãnh .......................53
2.3. Đánh giá thực trạng giải quyết tranh chấp về hợp đồng bảo lãnh ..........56
2.3.1. Những yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả giải quyết tranh chấp về hợp
đồng bảo lãnh ................................................................................................57
2.3.2. Một số vướng mắc, bất cập trong việc áp dụng pháp luật để giải
quyết tranh chấp hợp đồng bảo lãnh .............................................................58
2.4. Nguyên nhân phát sinh tranh chấp hợp đồng bảo lãnh ...........................62
2.4.1.
Nguyên nhân khách quan .................................................................62
2.4.2.
Nguyên nhân chủ quan .....................................................................63
Chương 3: MỘT SỐ KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VÀ NÂNG
CAO HIỆU QUẢ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG BẢO LÃNH
..............................................................................................................................67
3.1. Một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật về hợp đồng bảo lãnh ................67
3.2. Một số kiến nghị nâng cao hiệu quả giải quyết tranh chấp hợp đồng bảo
chủ thể có liên quan, trong quá trình hợp tác, các bên thường áp dụng thỏa thuận
sử dụng biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ.
Trong phần lớn các biện pháp bảo đảm được quy định tại Bộ luật Dân sự
năm 2015, người có nghĩa vụ dùng tài sản thuộc quyền sở hữu, quyền sử dụng
hợp pháp của mình để bảo đảm cho nghĩa vụ của chính mình. Tuy nhiên, không
phải lúc nào bên có nghĩa vụ cũng có tài sản hoặc có đủ khả năng để bảo đảm
việc thực hiện nghĩa vụ nên cần có một người khác có khả năng đứng ra bảo đảm
2
nghĩa vụ thay, được gọi là bảo lãnh. Bảo lãnh là một trong những biện pháp bảo
đảm khá hiệu quả, là miếng ghép làm cho các biện pháp bảo đảm trong BLDS
2015 thêm hoàn chỉnh và ngày càng được sử dụng phổ biến.
Thực tế, những cá nhân có nhu cầu vay vốn nhưng không có tài sản bảo
đảm thì có thể thỏa thuận với người thứ ba đứng ra bảo lãnh để giúp mình vay
vốn phát triển sản xuất, kinh doanh. Trên cơ sở đó, bên thứ ba đứng ra bảo lãnh
và bên có quyền thỏa thuận xác lập nên hợp đồng bảo lãnh.
Mặc dù đã có Bộ luật Dân sự năm 2015, Luật các tổ chức tín dụng năm
2010 và một số văn bản pháp luật khác điều chỉnh quan hệ hợp đồng bảo lãnh,
tuy nhiên để đáp ứng yêu cầu của nền kinh tế đang trong quá trình hội nhập
mạnh mẽ, các quy định về hoạt động bảo lãnh cần tiếp tục được hoàn thiện để
tạo điều kiện thuận lợi cho việc áp dụng và giải quyết tranh chấp phát sinh liên
quan tới loại hợp đồng này.
Để có cơ sở cho việc xây dựng và hoàn thiện hơn nữa quy định pháp luật
về hợp đồng bảo lãnh, việc nghiên cứu đề tài “Thực tiễn giải quyết tranh chấp
về hợp đồng bảo lãnh theo quy định của pháp luật dân sự Việt Nam” trên cơ
sở lý luận và thực tiễn là cần thiết trong điều kiện hiện nay.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Liên quan đến việc nghiên cứu các quy định của pháp luật về biện pháp
hơn những vấn đề lý luận cơ bản, đánh giá được thực trạng tranh chấp về hợp
đồng bảo lãnh để từ đó có những đóng góp nâng cao giá trị khoa học và hiệu quả
áp dụng của việc giải quyết tranh chấp hợp đồng này trên thực tiễn.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu:
Đối tượng nghiên cứu của Luận văn này là thực tiễn việc áp dụng pháp
luật dân sự Việt Nam để giải quyết các tranh chấp về hợp đồng bảo lãnh tại Tòa
án nhân dân.
- Phạm vi nghiên cứu:
Trong khuôn khổ luận văn này, tác giả không đi sâu nghiên cứu tất cả các
loại tranh chấp về hợp đồng bảo lãnh. Luận văn chỉ tập trung nghiên cứu khái
quát một số vấn đề lý luận, quy định của pháp luật dân sự Việt Nam, và việc áp
dụng pháp luật để giải quyết một số tranh chấp hợp đồng bảo lãnh điển hình
thường gặp tại Tòa án.
4
Trên cơ sở đó, luận văn rút ra những khó khăn, vướng mắc nhất định khi
giải quyết tranh chấp hợp đồng bảo lãnh trên thực tế và đưa ra một số kiến nghị
nhằm tạo hành lang pháp lý vững chắc cho quan hệ hợp đồng bảo lãnh và nâng
cao hiệu quả của việc giải quyết tranh chấp hợp đồng bảo lãnh.
4. Phương pháp nghiên cứu
Việc nghiên cứu luận văn dựa trên cơ sở các quan điểm của chủ nghĩa
Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, chính sách của Đảng Cộng sản
Việt Nam về xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và cải cách tư
pháp, cải cách pháp luật. Cụ thể, đề tài sử dụng xen kẽ các phương pháp nghiên
cứu như sau: phương pháp hệ thống, diễn giải, quy nạp, liệt kê, phân tích - tổng
hợp, khai thác và sử dụng các tư liệu thực tiễn.
5. Mục tiêu, nhiệm vụ của việc nghiên cứu đề tài
Với đề tài “Thực tiễn giải quyết tranh chấp về hợp đồng bảo lãnh theo
quy định của pháp luật dân sự Việt Nam”, ngoài phần mở đầu, kết luận và
danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được kết cấu thành ba chương như sau:
Chương 1: Một số vấn đề lý luận và pháp luật về giải quyết tranh chấp
hợp đồng bảo lãnh.
Chương 2: Thực tiễn áp dụng pháp luật trong việc giải quyết tranh chấp
hợp đồng bảo lãnh.
Chương 3: Một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả
giải quyết tranh chấp hợp đồng bảo lãnh.
6
PHẦN NỘI DUNG
Chương 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT VỀ GIẢI QUYẾT
TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG BẢO LÃNH
1.1. Một số vấn đề lý luận và pháp luật về hợp đồng bảo lãnh
1.1.1. Một số vấn đề lý luận về hợp đồng bảo lãnh
1.1.1.1. Khái niệm hợp đồng bảo lãnh
Bảo đảm nghĩa vụ dân sự nói chung và bảo lãnh nói riêng là biện pháp
bảo đảm thông thường gắn liền với một hợp đồng nhất định, là một bộ phận, một
điều khoản của hợp đồng chính.
Bộ luật Dân sự (BLDS) năm 1995 lần đầu tiên mới chỉ ghi nhận cụm từ
“hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất”, còn chỉ quy định việc cầm cố, thế chấp
hay bảo lãnh “phải được lập thành văn bản, có thể lập riêng hoặc ghi trong hợp
đồng chính…”1 mà chưa hề sử dụng cụm từ “hợp đồng cầm cố”, “hợp đồng thế
chấp” hay “hợp đồng bảo lãnh”. Đến Thông tư số 01/TT-LB ngày 03/7/1996 của
liên Bộ Ngân hàng Nhà nước – Tài chính – Tư pháp hướng dẫn thủ tục về thế
chấp, cầm cố tài sản đối với doanh nghiệp Nhà nước và thủ tục công chứng hợp
Bảo lãnh không tồn tại độc lập mà luôn phụ thuộc và gắn liền với nghĩa vụ
chính, có tồn tại quan hệ nghĩa vụ chính thì mới đặt ra vấn đề thiết lập quan hệ
bảo lãnh.
Khoản 12 Điều 2 Thông tư số 07/2015/TT-NHNN ngày 25/6/2015 của
Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định về bảo lãnh ngân hàng có quy định:
Cam kết bảo lãnh có thể tồn tại dưới dạng thư bảo lãnh hoặc hợp đồng bảo lãnh.
Theo dó: Thư bảo lãnh là văn bản cam kết của bên bảo lãnh với bên nhận bảo
lãnh về việc bên bảo lãnh sẽ thực hiện nghĩa vụ tài chính thay cho bên được bảo
lãnh khi bên được bảo lãnh không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa
vụ đã cam kết với bên nhận bảo lãnh. Vậy thư bảo lãnh có được coi là hợp đồng
bảo lãnh hay không?
Ở đây cần phải hiểu dù được thể hiện dưới hình thức nào thì phải nhìn
nhận cam kết bảo lãnh là một hợp đồng chứ không phải hành vi pháp lý đơn
phương vì nó kéo theo sự trao đổi là việc bên nhận bảo lãnh chấp nhận nghĩa vụ
bảo lãnh của bên bảo lãnh.
Theo quy định tại Điều 385 BLDS năm 2015: “Hợp đồng là sự thỏa
thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân
sự”.
3
Điểm b khoản 1 Điều 27, Luật người Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng năm 2006.
8
Như vậy có thể hiểu, theo nghĩa rộng thì: Hợp đồng bảo lãnh là phương
tiện pháp lý quan trọng mang tính chất dự phòng, dự phạt, bổ sung cho hợp đồng
chính nhằm đảm bảo việc thực hiện nghĩa vụ của bên được bảo lãnh đối với bên
nhận bảo lãnh.
phải có quan hệ nghĩa vụ phát sinh từ hợp đồng chính thì mới đặt ra vấn đề các
bên thỏa thuận thiết lập hợp đồng bảo lãnh.
Thứ ba, hợp đồng bảo lãnh được xác lập giữa bên có quyền (bên nhận bảo
lãnh) với bên bảo lãnh, mà không phụ thuộc vào bên có nghĩa vụ, tức là hợp
đồng bảo lãnh được giao kết ngay cả khi bên có nghĩa vụ (bên được bảo lãnh)
không biết, không yêu cầu. Bởi hợp đồng bảo lãnh là sự thỏa thuận giữa bên
nhận bảo lãnh và bên bảo lãnh mà không phụ thuộc vào ý chí của bên được bảo
lãnh.
1.1.2. Pháp luật về hợp đồng bảo lãnh
1.1.2.1. Chủ thể của hợp đồng bảo lãnh
Chủ thể của hợp đồng bảo lãnh gồm: Bên bảo lãnh và bên nhận bảo lãnh.
Chủ thể của hợp đồng bảo lãnh có thể là cá nhân hoặc pháp nhân.
Chủ thể là cá nhân:
Theo quy định của pháp luật, cá nhân tham gia giao dịch dân sự nói
chung, giao dịch bảo đảm nói riêng thì phải có năng lực pháp luật dân sự và năng
lực hành vi dân sự. Do đó khi tham gia với tư cách một bên trong quan hệ hợp
đồng bảo lãnh thì cá nhân cũng phải đáp ứng điều kiện trên.
BLDS năm 2015 hiện chỉ thừa nhận hai chủ thể trong các quan hệ dân sự
là cá nhân và pháp nhân4. Điều 110 BLDS năm 2015 việc tham gia quan hệ dân
sự của hộ gia đình, tổ hợp tác, tổ chức khác không có tư cách pháp nhân như sau:
- Trường hợp hộ gia đình, tổ hợp tác, tổ chức khác không có tư cách pháp
nhân tham gia quan hệ dân sự thì các thành viên của hộ gia đình, tổ hợp tác, tổ
chức khác không có tư cách pháp nhân là chủ thể tham gia xác lập, thực hiện
giao dịch dân sự hoặc ủy quyền cho người đại diện tham gia xác lập, thực hiện
giao dịch dân sự. Việc ủy quyền phải được lập thành văn bản, trừ trường hợp có
thỏa thuận khác. Khi có sự thay đổi người đại diện thì phải thông báo cho bên
tham gia quan hệ dân sự biết.
4
theo pháp luật hoặc người đại diện theo ủy quyền.
Người đại diện theo pháp luật của pháp nhân có thể thuộc một trong các
trường hợp sau: người được pháp nhân chỉ định theo Điều lệ, người có thẩm
5
Khoản 2 Điều 76, BLDS năm 2015.
11
quyền đại diện theo quy định của pháp luật và người do Tòa án chỉ định trong
quá trình tố tụng tại Tòa án. Một pháp nhân có thể có nhiều người đại diện theo
pháp luật và mỗi người đại diện có quyền đại diện cho pháp nhân phù hợp với
quyền, nghĩa vụ của mình được xác định rõ theo Điều lệ hoặc quyết định của cơ
quan có thẩm quyền6
Người đại diện theo ủy quyền của pháp nhân có thể là người thuộc nội bộ
pháp nhân đó hoặc người bên ngoài pháp nhân được ủy quyền theo hợp đồng ủy
quyền.
Tuy nhiên, không phải cứ có tư cách pháp nhân là có thể trở thành chủ thể
của hợp đồng bảo lãnh. Đối với doanh nghiệp, nếu chủ thể tham gia kí kết hợp
đồng bảo lãnh không có thẩm quyền thì hợp đồng có nguy cơ bị vô hiệu toàn bộ.
Luật Doanh nghiệp năm 2014 có nhiều điều khoản quy định về trách nhiệm thực
hiện các quyền và nghĩa vụ được giao một cách trung thực, cẩn trọng, tốt nhất
nhằm đảm bảo lợi ích hợp pháp của doanh nghiệp; không lạm dụng địa vị, chức
vụ và sử dụng tài sản của doanh nghiệp để tư lợi hoặc phục vụ lợi ích của tổ
chức, cá nhân khác7.
Do đó, nếu Hội đồng quản trị (HĐQT), Chủ tịch Hội đồng thành viên,
Giám đốc, Tổng giám đốc hoặc người đại diện theo pháp luật của công ty cam
kết bảo lãnh cho cá nhân, doanh nghiệp khác vay tiền thì rất dễ bị vô hiệu do vi
phạm nghiêm trọng nghĩa vụ của người quản lý, người đại diện theo pháp luật
được.
3. Tài sản bảo đảm có thể là tài sản hiện có hoặc tài sản hình thành
trong tương lai.
4. Giá trị của tài sản bảo đảm có thể lớn hơn, bằng hoặc nhỏ hơn
giá trị nghĩa vụ được bảo đảm.
Theo quy định trên thì tất cả tài sản thuộc quyền sở hữu của bên bảo lãnh
đều có thể dùng để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh trước bên nhận bảo
lãnh. Về nguyên tắc, bảo lãnh là một biện pháp bảo đảm mang tính đối nhân, tức
là quyền của bên nhận bảo lãnh có được đáp ứng hay không hoàn toàn phụ thuộc
vào bên bảo lãnh. Do đó, để nâng cao tinh thần trách nhiệm của bên bảo lãnh
trong việc nghiêm túc thực hiện nghĩa vụ, pháp luật dự liệu quy định khi các bên
thỏa thuận tiếp tục áp dụng một biện pháp bảo đảm bằng tài sản khác trong quan
hệ bảo lãnh để ràng buộc tính chất dự phòng, dự phạt hơn nữa. Ví dụ: A cam kết
bảo lãnh cho B vay tiền của C. Để ràng buộc trách nhiệm của A cũng như đảm
bảo tối đa quyền và lợi ích của mình trong quan hệ cho vay, C thỏa thuận A phải
dùng tài sản của A để chuyển giao cho C (cầm cố) nhằm đảm bảo thực hiện
nghĩa vụ bảo lãnh của A.
Tài sản thuộc quyền sở hữu của bên bảo lãnh được dùng để bảo đảm thực
hiện nghĩa vụ bảo lãnh có thể bao gồm cả tài sản hình thành trong tương lai.
13
Nếu đối tượng của nghĩa vụ là việc thực hiện một công việc mà chỉ thông
qua việc thực hiện công việc đó, quyền lợi của bên có quyền mới được thỏa mãn
thì bên bảo lãnh phải thực hiện một công việc. Trong trường hợp này, bên bảo
lãnh phải là người có khả năng thực hiện công việc đó.
1.1.2.3. Hình thức hợp đồng bảo lãnh
BLDS năm 2015 không quy định về hình thức bảo lãnh. Trong khi đó,
Điều 362 năm BLDS 2005 quy định bắt buộc việc bảo lãnh phải được lập thành
của hợp đồng bảo đảm cũng chỉ là để người có nghĩa vụ thực hiện nghĩa vụ trong
một phạm vi đã xác định.
Quy định về phạm vi bảo lãnh trong BLDS năm 2015 tại Điều 336 có 4
khoản thì có tới 3 khoản có điểm mới so với BLDS năm 2005, trong đó khoản 3,
4 là mới hoàn toàn.
Thứ nhất, nghĩa vụ có thể được bảo đảm một phần hoặc toàn bộ theo thỏa
thuận hoặc theo quy định của pháp luật; nếu không có thỏa thuận và pháp luật
không quy định phạm vi bảo đảm thì nghĩa vụ coi như được bảo đảm toàn bộ, kể
cả nghĩa vụ trả lãi, tiền phạt và bồi thường thiệt hại10. Bên bảo lãnh có thể cam
kết bảo lãnh một phần hoặc toàn bộ nghĩa vụ cho bên được bảo lãnh11.
Theo các quy định trên, các bên có thể thỏa thuận về phạm vi bảo lãnh
trong hợp đồng là một phần hay toàn bộ nghĩa vụ của bên được bảo lãnh.
Tuy nhiên, cũng chính vì xuất phát từ sự tự nguyện, thỏa thuận của các
bên nên quan hệ pháp luật dân sự thường rất đa dạng và phong phú. Từ một
nghĩa vụ ban đầu có thể phát sinh nhiều nghĩa vụ khác. Ví dụ: thỏa thuận trong
hợp đồng vay, ngoài nghĩa vụ trả tiền vay của bên vay, các bên còn có thể thỏa
thuận: Lãi trong hạn, lãi quá hạn, tiền phạt, tiền bồi thường thiệt hại… Với sự đa
dạng này, pháp luật cũng dự liệu đối với phạm vi bảo lãnh. Theo đó, nếu các bên
không có thỏa thuận nào khác và pháp luật cũng không có quy định thì nghĩa vụ
được coi như bảo đảm toàn bộ, bao gồm cả nghĩa vụ trả lãi, tiền phạt và bồi
thường thiệt hại. Tiền lãi ở đây có thể là lãi theo quy định của pháp luật hoặc lãi
theo thỏa thuận. Trường hợp lãi theo thỏa thuận thì mức lãi này phải tuân theo
quy định của pháp luật (Điều 466, 468 BLDS năm 2015).
BLDS năm 2015 đã mở rộng thêm nghĩa vụ bảo lãnh gồm cả “lãi trên số
tiền chậm trả” so với quy định cũ chỉ có “tiền lãi trên nợ gốc, tiền phạt, tiền bồi
thường thiệt hại, trừ trường hợp có thoả thuận khác” ở BLDS năm 2005.
10
11
thì mới phải đưa tài sản thuộc quyền sở hữu của mình để thanh toán13. Nếu bên
thứ ba có tài sản bảo đảm chuyển giao cho bên nhận bảo lãnh thì được gọi là cầm
cố, còn nếu có tài sản bảo đảm nhưng không chuyển giao cho bên nhận bảo lãnh
thì được gọi là thế chấp.
12
13
Khoản 2 Điều 366, BLDS năm 1995.
Điều 369 BLDS năm 2005.
16
BLDS năm 2015 đưa quy định về bảo lãnh quay trở lại giống với quy định
của BLDS năm 1995 và khác với quy định của BLDS năm 2005. Đó là quy định
bảo lãnh có thể không bằng tài sản hoặc bảo lãnh bằng tài sản. Nhiều ý kiến cho
rằng việc quy định bảo lãnh có thể bằng tài sản hoặc không bằng tài sản đồng
nghĩa với việc thừa nhận bảo lãnh vừa mang tính đối nhân, vừa mang tính đối
vật. Tuy nhiên tác giả cho rằng bản chất của bảo lãnh vẫn là đối nhân. Khi quy
định về xử lý tài sản bảo đảm thì Điều 342 BLDS năm 2015 đã khẳng định bên
nhận bảo lãnh không có quyền xử lý tài sản của bên bảo lãnh trong trường hợp
bên bảo lãnh không thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh, mà chỉ có quyền yêu cầu thanh
toán giá trị nghĩa vụ vi phạm và bồi thường thiệt hại. Quy định này thể hiện tính
đối nhân triệt để của bảo lãnh. Đối với hình thức bảo lãnh bằng tài sản, bên bảo
lãnh có thể dùng cầm cố, thế chấp để đảm bảo thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh thì
tính chất đối vật thể hiện ở chính biện pháp cầm cố, thế chấp chứ không phải ở
biện pháp bảo lãnh. Bản chất của hình thức này là bên bảo lãnh đứng ra cam kết
với bên nhận bảo lãnh về việc thực hiện nghĩa vụ thay cho bên được bảo lãnh,
tuy nhiên để làm tăng thêm sự tin tưởng và chắc chắn cho lời “cam kết” thì các
vụ bảo lãnh.
Thứ ba, Nghĩa vụ được bảo đảm có thể là nghĩa vụ hiện tại, nghĩa vụ
trong tương lai hoặc nghĩa vụ có điều kiện. Trường hợp bảo đảm nghĩa vụ trong
tương lai thì nghĩa vụ được hình thành trong thời hạn bảo đảm là nghĩa vụ được
bảo đảm, trừ trường hợp có thỏa thuận khác15.
Nếu nghĩa vụ bảo lãnh phát sinh trong tương lai thì phạm vi của bảo lãnh
cũng không bao gồm nghĩa vụ phát sinh sau khi cá nhân là người bảo lãnh chết
hoặc pháp nhân bảo lãnh chấm dứt hoạt động16, vì các chủ thể này không còn
năng lực chủ thể trong các quan hệ pháp luật nói chung và quan hệ bảo lãnh nói
riêng.
Theo phân tích ở trên, nếu các bên không có thỏa thuận nào khác và pháp
luật cũng không có quy định thì nghĩa vụ được bảo đảm bao gồm cả nghĩa vụ trả
lãi, tiền phạt và bồi thường thiệt hại. Trong khi đó, số tiền lãi phải trả phụ thuộc
vào thời gian, thời gian càng dài thì mức lãi phải trả càng lớn. Do đó pháp luật
quy định “trường hợp bảo đảm nghĩa vụ trong tương lai thì nghĩa vụ được hình
thành trong thời hạn bảo đảm là nghĩa vụ được bảo đảm, trừ trường hợp có thỏa
thuận khác” là hợp lý. Bởi thực chất sau thời hạn bảo lãnh đã thỏa thuận, hợp
đồng bảo lãnh chấm dứt nhưng không đồng nghĩa với việc nghĩa vụ bảo lãnh
chấm dứt. Đối với nghĩa vụ phát sinh cho đến trước khi hết thời hạn bảo lãnh
vẫn thuộc phạm vi bảo lãnh và bên bảo lãnh vẫn phải chịu trách nhiệm; còn
những nghĩa vụ phát sinh sau khi hết thời hạn bảo lãnh, tức là sau thời điểm hợp
15
16
Khoản 2, 3 Điều 293; BLDS năm 2015.
Khoản 4 Điều 336, BLDS năm 2015.
18
Điều 297 và khoản 2 Điều 298, BLDS năm 2015.
19
Tuy nhiên, theo quy định tại Nghị định số 102/NĐ-CP, hợp đồng bảo lãnh
không thuộc trường hợp bắt buộc phải đăng ký. Do đó, với các hợp đồng bảo
lãnh- thế chấp hoặc hợp đồng bảo lãnh- cầm cố thì thởi điểm phát sinh hiệu lực
đối kháng với người thứ ba được xác định tương tự như với hợp đồng cầm cố,
thế chấp tài sản để đảm bảo thực hiện nghĩa vụ của người khác. Chẳng hạn, với
hợp đồng bảo lãnh- cầm cố thì việc cầm cố có hiệu lực đối kháng với người thứ
ba kể từ thời điểm bên nhận cầm cố nắm giữ tài sản cầm cố. Trường hợp bất
động sản là đối tượng của cầm cố theo quy định của luật thì việc cầm cố bất
động sản có hiệu lực đối kháng với người thứ ba kể từ thời điểm đăng ký. Đối
với hợp đồng bảo lãnh- thế chấp thì có hiệu lực đối kháng với người thứ ba kể từ
thời điểm đăng ký theo quy định tại Nghị định số 102/NĐ-CP.
Trong quá trình thực hiện hợp đồng bảo lãnh, có thể một trong các bên
bảo lãnh hoặc nhận bảo lãnh bị thay đổi, hoặc không còn tồn tại nữa. Khi đó, chủ
thể nào sẽ tiếp tục chịu trách nhiệm về nghĩa vụ bảo lãnh? Có thể nói, việc giải
quyết vấn đề này tương tự như đối với các hợp đồng nói chung. Thay đổi một
hoặc các bên tham gia hợp đồng bảo lãnh không làm thay đổi thời điểm giao
dịch bảo đảm có giá trị pháp lý với người thứ ba18.
Nếu cá nhân là bên bảo lãnh chết thì những người thừa kế có trách nhiệm
thực hiện nghĩa vụ tài sản trong phạm vi di sản do người chết để lại: tương ứng
nhưng không vượt quá phần tài sản mà mình đã nhận, trừ trường hợp có thỏa
thuận khác19.
Pháp nhân là bên bảo lãnh nếu do chia, tách, sáp nhập, hợp nhất, chuyển
đổi hình thức pháp nhân mà dẫn đến chấm dứt hoạt động thì luôn có ít nhất một
pháp nhân kế thừa trách nhiệm20. Riêng trường hợp chấm dứt tồn tại hoàn toàn