VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN THỊ THỦY
THỰC TIỄN GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP
KINH DOANH THƯƠNG MẠI TẠI TÒA ÁN
NHÂN DÂN TỈNH GIA LAI
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT KINH TẾ
HÀ NỘI, 2020
VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN THỊ THỦY
THỰC TIỄN GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP
KINH DOANH THƯƠNG MẠI TẠI TÒA ÁN
NHÂN DÂN TỈNH GIA LAI
Ngành: Luật kinh tế
Mã số: 8 38 01 07
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS.PHAN THỊ THANH THỦY
HÀ NỘI, 2020
Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ GIẢI QUYẾT
TRANH CHẤP KINH DOANH THƯƠNG MẠI TẠI TÒA ÁN VÀ SỰ
ĐIỀU CHỈNH CỦA PHÁP LUẬT .......................................................... 5
1.1. Khái quát về tranh chấp kinh doanh thương mại và các biện pháp
giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại....................................... 5
1.2. Các thức giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại tại Tòa
án. ........................................................ Error! Bookmark not defined.
Chương 2: THỰC TRẠNG GIẢI QUYẾT CÁC TRANH CHẤP KINH
DOANH THƯƠNG MẠI TẠI TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH GIA
LAI ............................................................................................................ 34
2.1. Thực trạng tranh chấp kinh doanh thương mại trên địa bàn tỉnh Gia
Lai........................................................................................................ 35
2.2. Thực trạng giải quyết các tranh chấp kinh doanh thương mại tại
Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai .............................................................. 45
Chương 3: GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VÀ NÂNG CAO
HIỆU QUẢ CÔNG TÁC GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP KINH
DOANH THƯƠNG MẠI TẠI TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH GIA
LAI ............................................................................................................ 64
3.1. Giải pháp hoàn thiện quy định pháp luật về giải quyết tranh chấp
kinh doanh thương mại bằng Toà án. ................................................. 64
3.2. Giải pháp về tổ chức thực hiện pháp luật về giải quyết tranh chấp
kinh doanh thương mại tại Tòa án ...................................................... 69
3.3. Các giải pháp nâng cao chất lượng xét xử kinh doanh thương mại
tại Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai. ........................................................ 72
KẾT LUẬN .............................................................................................. 75
TÀI LIỆU THAM KHẢO ...................................................................... 76
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
STT
LTM
Luật Thương mại
6
NN & PTNT
Nơng nghiệp và phát triển nơng thơn
7
TAND
Tịa án nhân dân
8
UBND
Ủy ban nhân dân
9
VKSND
Viện Kiểm Sát Nhân Dân
chênh lệch giữa các địa bàn trong tỉnh. Điều này cũng làm cho các tranh chấp
kinh doanh , thương mại trên địa bàn Tỉnh gia tăng trong những năm vừa qua
về cả số lượng và mức độ phức tạp, địi hỏi phải có sự can thiệp và giải quyết
1
của cơ quan uy tín chất lượng, để giúp các doanh nghiệp tránh được những hậu
quả tiêu cực do mâu thuẫn và xung đột lợi ích gây ra do nhiều ngun nhân
khác nhau. Chính vì vậy, việc giải quyết các tranh chấp phát sinh là điều cần
thiết để đảm bảo một môi trường kinh doanh lành mạnh cho các chủ thể kinh
doanh. Đây là mối quan tâm của nhiều người trong điều kiện kinh tế ngày càng
phát triển như hiện nay. Trước tình hình ngày càng phức tạp cũng như tranh
chấp giữa các doanh nghiệp ngày càng nhiều gây nên các xung đột khơng đáng
có, chính từ thực tiễn này nên tôi đã lựa chọn vấn đề để“Thực tiễn giải quyết
tranh chấp kinh doanh thương mại tại Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai” làm
đề tài luận văn thạc sỹ của mình.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Hiện tại, có rất nhiều đề tài nghiên cứu và cả các cơng trình khoa học đã
nghiên cứu về nội dung giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại (KDTM)
bằng tòa án, hoặc trọng tài thương mại hoặc bằng con đường hòa giải hay
thương lượng hoặc bằng nhiều phương thức khác. Tuy nhiên các cơng trình
nghiên cứu về thực tiễn áp dụng BLTTDS 2015 vào thực tiễn để giải quyết
tranh chấp KDTM tại các địa phương trên cả nước chưa có nhiều. Qua tìm hiểu
học viên thấy có một số cơng trình nổi bật sau:
- Bài viết “Thực tiễn áp dụng pháp luật trong việc giải quyết các tranh chấp
KDTM tại Tòa án” của tác giả Triệu Thị Quỳnh Hoa;
- Luận văn: Pháp luật về giải quyết tranh chấp KDTM theo thủ tục tố tụng
Tòa án Việt Nam hiện nay của Đinh Thị Trang – Trường Đại Học Quốc Gia
Hà Nội năm 2013.
Trong đề tài luận văn thạc sỹ này, mục đích là làm rõ cơ sở lý luận về
việc thẩm quyền giải quyết tranh KDTM tại Tịa án; phân tích, đánh giá về thực
trạng giải quyết các tranh chấp kinh doanh, thương mại Tịa án nhân dân tỉnh
Gia Lai. Và từ đó em xin đề xuất một số giải pháp nhằm phần nào nâng cao
3
hiệu quả trong việc giải quyết tranh chấp KDTM tại Tòa án nhân dân tỉnh Gia
Lai.
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Để nội dung được phong phú, sát với thực tế và những thông tin đưa ra
được đầy đủ, khách quan bao quát được vấn đề, học viên sử dụng một số phương
pháp nghiên cứu truyền thống của khoa học xã hội và luật học như sau:
- Phương pháp phân tích, tổng hợp;
- Phương pháp so sánh, đối chiếu;
- Phương pháp thống kê và phương pháp nghiên cứu tình huống.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn
Về mặt lý luận: Đề tài luận văn này góp phần làm rõ cơ sở lý luận về việc
giải quyết tranh chấp KDTM tại Tòa án;
Về mặt thực tiễn: Đề tài luận văn này phân tích, đánh giá một cách tồn
diện có hệ thống về thực trạng áp dụng pháp luật, giải quyết các tranh chấp
KDTM Tòa án Nhân dân tỉnh Gia Lai và hướng tới đề xuất một số giải pháp
nhằm phần nào nâng cao hiệu quả trong việc giải quyết tranh chấp KDTM tại
Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai.
7. Kết cấu của luận văn
Chuyên đề trình bày các nội dung chính sau: ngồi phần mở đầu, kết luận
và tài liệu tham khảo, nội dung được trình bày theo 3 chương:
Chương 1: Những vấn đề lý luận cơ bản về việc giải quyết tranh chấp
KDTM tại Tòa án và sự điều chỉnh của pháp luật.
thần của luật doanh nghiệp và tranh chấp thương mại theo tinh thần của luật
thương mại.
Tranh chấp KDTM là một trong những hệ quả thiết yếu của hoạt động
thương mại trong nền kinh tế hiện nay, diễn ra phổ biến và thường xuyên trong
hoạt động của nền kinh tế thị trường. Do tính chất, bản chất thường xuyên cũng
5
như hậu quả xảy ra của nó gây ra cho các chủ thể tham gia tranh chấp nói riêng
và cho cả nền kinh tế thị trường hiện nay nói chung, pháp luật Việt Nam cũng
đã sớm tìm hiểu và cũng có những quan tâm nhất định đến hoạt động tranh chấp
KDTM cũng như các phương thức giải quyết của tranh chấp này. Tranh chấp
kinh doanh thương mại (hay tranh chấp kinh doanh) là thuật ngữ, vốn từ đã rất
quen thuộc và gần gũi trong đời sống kinh tế - xã hội cũng như trên nhiều
phương diện ở tất cả các nước trên thế giới. Khái niệm này các nhà kinh doanh
mới được biết đến và đồng thời được đưa vào sử dụng rộng rãi và phổ biến một
cách hoàn toàn ở nước ta trong những năm gần đây và ngày càng được biết
nhiều hơn trên diện rộng, chiếm giữ vị trí “thống lĩnh” bởi sự nhường bước của
khái niệm tranh chấp kinh tế - một khái niệm đã quá quen thuộc của cơ chế kế
hoạch hóa đã sử dụng quen thuộc lâu năm và đã ăn sâu trong tiềm thức suy nghĩ
và tư duy pháp lý của người Việt Nam.
Ngày nay, có thể nói tranh chấp kinh doanh thương mại là một hiện tượng
bình thường trong nền kinh tế thị trường. Tranh chấp có thể biểu hiện ở những
dạng sau:
- Tranh chấp trong kinh doanh: Được diễn ra giữa các chủ thể tham gia
kinh doanh, đó là những tranh chấp phát sinh trong các khoản đầu tư, sản xuất
đến tiêu thụ trên thị trường hoặc thực hiện dịch vụ trên thị trường nhằm mục
đích sinh lợi.
- Tranh chấp giữa nhà đầu tư với nước tiếp nhận đầu tư: Loại tranh chấp
Lợi ích vật chất ở đây thường được xem xét dưới góc độ là giá trị của tranh
chấp thương mại kinh tế. Và nếu so với các tranh chấp khác trong xã hội thì
tranh chấp thương mại thường là loại tranh chấp có giá trị lớn.Tranh chấp trong
kinh doanh thương mại phải hội đủ các yếu tố sau đây:
7
- Là những mâu thuẫn - bất đồng về quyền và nghĩa vụ giữa các bên với nhau
trong mối quan hệ cụ thể tranh chấp KDTM;
- Những mâu thuẫn - bất đồng đó phải phát sinh và xảy ra từ hoạt động kinh
doanh thương mại hoặc có liên quan đến hoạt động kinh doanh thương mại
trong các hoạt đồn mà các bên tham gia.
- Những mâu thuẫn - bất đồng đó phát sinh chủ yếu xảy ra giữa các thương
nhân trong tranh chấp KDTM(cá nhân,tổ chức có đăng ký kinh doanh hay đăng
ký doanh nghiệp).
Có những tranh chấp đặc biệt thuộc về cả phạm trù pháp luật kinh doanh và
dân sự, đó là tranh chấp giữa thương nhân với người tiêu dùng trong q trình
mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ. Tuy nhiên do phạm vi đã giới hạn, luật
văn không đề cập đến loại tranh chấp này.
1.1.1.2. Đặc điểm của tranh chấp kinh doanh, thương mại
Các tranh chấp thương mại nhìn chung có những đặc điểm sau đây:
Thứ nhất, chủ yếu của tranh chấp thương mại là thương nhân:
Quan hệ thương mại có thể hiểu là được thiết lập giữa các thương nhân với
nhau hoặc giữa thương nhân với bên không phải là thương nhân trong tranh
chấp KDTM. Một tranh chấp được coi là tranh chấp thương mại khi có ít nhất
một bên là thương nhân. Ngồi ra cũng có một số trường hợp, các cá nhân tổ
chức khác cũng có thể là chủ thể của tranh chấp kinh doanh thương mại: tranh
chấp xảy ra giữa công ty – thành viên công ty; tranh chấp xảy ra giữa các thành
viên công ty với nhau liên quan đến việc thành lập, hoạt động, hợp nhất, giải
chấp, giáo dục ý thức tôn trọng pháp luật của cơng dân, thực hiện đúng theo
pháp luật, góp phần ngăn ngừa sự vi phạm pháp luật và làm trái pháp luật trong
hoạt động kinh doanh thương mại, bảo đảm trật tự pháp luật, kỷ cương xã hội.
1.1.2. Các phương thức giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại
theo quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành.
9
Có bốn phương thức giải quyết tranh chấp cơ bản như sau: thương lượng,
hòa giải, trọng tài thương mại và tòa án.
1.1.2.1. Thương lượng
Thương lượng là phương thức đơn giản nhất trong giải quyết tranh chấp
KDTM thông qua việc các bên tham gia tranh chấp cùng nhau bàn bạc, tự thảo
luận với nhau, tháo gỡ những bất đồng, mâu thuẫn phát sinh để loại bỏ tranh
chấp mà khơng có sự trợ giúp của ai hay phán quyết của bất kì bên thứ 3 nào
nhằm đơn giản hóa giải quyết một cách nhanh chóng và khơng tốn thời gian
cũng như nhiều chi phí phát sinh.
Đặc điểm:
Hình thức giải quyết tranh chấp này có đặc điểm sau:
+ Các bên tranh chấp sẽ tự thỏa thuận để tìm kiếm giải pháp trên tinh
thần tự nguyện, thiện chí, hợp tác mà khơng có sự tham gia của bất kỳ bên thứ
ba nào. Khi tiến hành thương lượng, các bên có thể trình bày quan niệm của
mình, tìm hiểu nguyên nhân dẫn đến tranh chấp và tìm kiếm giải pháp chấm
dứt xung đột. Tuy nhiên, cũng có thể xảy ra trường hợp các bên khơng đạt được
thỏa thuận nào nhằm giải quyết tranh chấp đã phát sinh mà có thể làm cho
chúng trở nên trầm trọng hơn hoặc làm phát sinh nhiều tranh chấp khác. Trong
những trường hợp thương lượng không thành công như vậy, các bên có thể tiếp
tục lựa chọn hình thức giải quyết tranh chấp khác phù hợp để giải quyết tranh
chấp phát sinh giữa họ.
chỉ là người hỗ trợ, giúp đỡ cho các bên trong việc tìm ra giải pháp tốt nhất để
giải quyết tranh chấp, còn việc giải quyết tranh chấp vẫn là do các bên quyết
định.
+ Hoà giải viên đương nhiên phải là người khơng có quyền lợi liên quan
đến vụ tranh chấp và phải hoàn toàn trung lập. Tính trung lập của hồ giải viên
tạo nên sự tin cậy của các bên tranh chấp khi yêu cầu hồ giải bất đồng của
mình.
11
+ Hịa giải cũng khơng chịu sự chi phối của bất kỳ một thủ tục tố tụng
pháp lý hay trình tự thủ tục nào mà do các bên tranh chấp tự quyết định và giải
quyết với nhau làm sao cho phù hợp và lợi ích của cả hai bên tham gia. Kết quả
của q trình hịa giải thành cũng chỉ là sự thỏa thuận của các bên có tranh chấp
và việc thực hiện thỏa thuận này cũng hoàn toàn phụ thuộc vào sự tự nguyện
của các bên mà khơng có bất kỳ một quyết định pháp lý nào. Hiện nay ở Việt
Nam có hai loại hịa giải là (1) hịa giải ngồi tịa án do các trung tâm hịa giải
thành lập tên cơ sở Nghị định 22/2017/NĐ-CP về hòa giải thương mại đứng ra
giải quyết theo yêu cầu của các bên và (2) Hòa giải tại tòa án theo Luật Hòa
giải, đối thoại tại tòa án 2020…
1.1.2.3. Trọng tài thương mại
Trọng tài thương mại là hình thức giải quyết tranh chấp kinh doanh thông
qua hoạt động của Hội đồng trọng tài hoặc trọng tài viên với tư cách là bên thứ
ba độc lập, có quyền tối cao nhằm giải quyết mâu thuẫn tranh chấp bằng việc
đưa ra phán quyết có giá trị bắt buộc các bên phải thi hành và làm theo bản án
đã quyết định. Việc giải quyết tranh tại trọng tài chỉ được tiến hành khi cả hai
bên tranh chấp tự nguyện và thực hiện theo.
Đặc điểm:
Trọng tài thương mại có các đặc điểm sau đây:
của tòa án được nhà nước đảm bảo thi hành theo đúng thời gian và đúng quy
định.
Đặc điểm:
+ Giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại bằng Tòa án là phương
thức giải quyết tranh chấp trên cơ sở đơn khởi kiện của một bên, bên tranh chấp
yêu cầu Tịa án có thẩm quyền giải quyết vụ án theo Bộ luật tố tụng dân sự
2015.
13
+ Tòa án là cơ quan tài phán nhân danh quyền lực nhà nước để giải quyết
tranh chấp KDTM một cách cơng khai và minh bạch. Do đó, phán quyết của
Tịa án (bản án hay quyết định) có giá trị bắt buộc thi hành bằng sức mạnh
cưỡng chế của nhà nước khơng có kháng cáo.
+ Việc giải quyết tranh chấp KDTM tại Tòa án phải được tuân thủ một
cách triệt để về trình tự, thủ tục tố tụng theo luật định hiện hành. Thủ tục tố
tụng được áp dụng cho việc giải quyết tranh chấp KDTM dựa trên nền thủ tục
tố tụng dân sự thông qua quy định tại Bộ Luật Tố tụng dân sự 2015. Giải quyết
tranh chấp KDTM có thể thơng qua hai cấp xét xử cơ bản nhất là sơ thẩm và
phúc thẩm. Trong nhiều trường hợp giải quyết tranh chấp KDTM, bản án hoặc
quyết định của Tịa án có thể bị giám đốc thẩm, tái thẩm khi có các căn cứ theo
pháp luật hợp lý để đảm bảo cho phán quyết của Tịa án được chính xác, khách
quan và đúng pháp luật đã ban hành.
+ Tòa án giải quyết theo nguyên tắc xét xử tập thể và quyết định theo đa
số; xét xử theo nguyên tắc cơng khai trừ trường hợp giữ bí mật nghề nghiệp bí
mật kinh doanh theo yêu cầu chính đáng của các bên thì Tịa sẽ xét xử kín
nhưng tun án cơng khai.
=> Việc đưa tranh chấp ra xét xử tại tòa án có nhiều ưu điểm được nêu
ra như:
tham gia, đảm bảo vai trò quan trọng trong hoạt động quản lý xã hội, công bằng
đối với các bên chủ thi khi tham gia giariq uyết tranh chấp.
Là một bộ phận của Tòa án nhân dân, Tòa kinh tế phải tuân thủ theo các
nguyên tắc tổ chức và hoạt động của cơ quan tịa án nói chung được quy định
trong Hiến pháp năm 2013 và Luật tổ chức Tịa án nhân dân năm 2014. Bên
cạnh đó, với tư cách là một Tòa chuyên trách độc lập trong hệ thống Tòa án
nhân dân, Tòa kinh tế cũng phải tuân thủ những nguyên tắc riêng khi tiến hành
giải quyết các tranh chấp thuộc thẩm quyền của mình. Một số các nguyên tắc
15
chung được quy định cụ thể trong Hiến pháp năm 2013 và Luật Tổ chức Tòa
án nhân dân năm 2014 như: nguyên tắc khi xét xử, Thẩm phán và Hội thẩm
nhân dân độc lập và chỉ tuân theo pháp luật; Tịa án xét xử cơng khai, xét xử
tập thể và quyết định theo đa số; Tòa án đảm bảo cho đương sự được dùng tiếng
nói và chữ viết của dân tộc mình trước tịa; .v.v..Trên cơ sở các ngun tắc
chung này, thủ tục giải quyết các vụ án kinh doanh, thương mại được xây dựng
với những đặc thù riêng của mình. Các ngun tắc riêng mà Tịa kinh tế phải
tn thủ trong hoạt động giải quyết các tranh chấp kinh doanh, thương mại đó
là:
-Ngun tắc tơn trọng quyền tự định đoạt của các đương sự
Trong pháp luật tố tụng, quyền tự định đoạt của đương sự biểu hiện ở
khả năng khi tham gia tố tụng, các đương sự tự do định đoạt các quyền, phương
tiện tố tụng nhằm bảo vệ quyền lợi một cách hợp pháp của mình trước các xâm
hại đến lợi ích của mình. Ngun tắc này được ghi nhận tại Điều 5, BLTTDS
2015. Theo đó, các đương sự có quyền quyết định việc khởi kiện, yêu cầu tịa
án có thẩm quyền giải quyết vụ việc dân sự khi có đơn khởi kiện, yêu cầu giải
quyết vụ việc của đương sự và chỉ giải quyết trong phạm vi đơn khởi kiện, đơn
u cầu đó; trong q trình giải quyết vụ việc dân sự, các đương sự có quyền
trình sản xuất kinh doanh đều bình đẳng theo quy định của pháp luật. Quyền
bình đẳng khơng chỉ thể hiện khi các bên tham gia vào quan hệ kinh doanh mà
còn thể hiện khi họ tham gia vào quan hệ tố tụng tại Tịa án. Tịa án có trách
nhiệm tạo điều kiện cho các đương sự thực hiện các quyền và nghĩa vụ của
mình trong q trình tố tụng.
Có thể nói ngun tắc bình đẳng trước pháp luật có ý nghĩa quan trọng vì
nó khơng chỉ thể hiện sự bình đẳng giữa các thành phần kinh tế mà cịn góp phần
thúc đẩy nền kinh tế phát triển. Với nguyên tắc này, các tổ chức, các nhân sẽ yên
tâm và mạnh dạn hơn trong đầu tư, sản xuất kinh doanh; từ đó khuyến khích, tạo
17
động lực thúc đẩy hoạt động của các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế;
góp phần khơng nhỏ tạo sự tăng trưởng kinh tế - xã hội.
-Nguyên tắc hòa giải
Trong hoạt động thương mại ngày nay, vấn đề xảy ra tranh chấp là điều
không mong muốn của cả cá nhân, tổ chức tham gia kinh doanh và của cả xã
hội. Việc kiện nhau ra tịa do khơng giải quyết được các mâu thuẫn, xung đột
một cách ổn thỏa sẽ khơng đem lại sự thuận lợi cho q trình hoạt động, kinh
doanh của các bên, gây ra sự căng thẳng, mất đồn kết, làm giảm uy tín của các
chủ thể trong mơi trường kinh doanh. Chính vì vậy, ngun tắc hòa giải theo
quy định của pháp luật nước ta là một nguyên tắc quan trọng của pháp luật tố
tụng, xuất phát từ quyền tự định đoạt của đương sự và trách nhiệm của Tòa án
trong việc bảo vệ quyền lợi của công dân; giúp các bên giải quyết mâu thuẫn
một cách ổn thỏa; góp phần hạn chế thiệt hại khơng đáng có do hậu quả của các
tranh chấp gây ra.
Hịa giải là sự thỏa thuận của các đương sự trong việc giải quyết vụ án.
Việc các đương sự thỏa thuận giải quyết tranh chấp trong mọi giai đoạn tố tụng
luôn được Nhà nước khuyến khích; bởi vì, khi các đương sự thỏa thuận với