BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ TƢ PHÁP
TRƢỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
------------------
HOÀNG THỊ TRANG
CHIA TÀI SẢN KHI LY HÔN TRONG TRƢỜNG HỢP VỢ
CHỒNG SỐNG CHUNG VỚI GIA ĐÌNH THEO
PHÁP LUẬT VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
HÀ NỘI -2017
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ TƢ PHÁP
TRƢỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
------------------
HOÀNG THỊ TRANG
CHIA TÀI SẢN KHI LY HÔN TRONG TRƢỜNG HỢP VỢ
CHỒNG SỐNG CHUNG VỚI GIA ĐÌNH THEO
PHÁP LUẬT VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Chuyên ngành : Luật dân sự và tố tụng dân sự
Mã số
1.1.2. Căn cứ xác định tài sản chung của vợ chồng .................................... 9
1.1.3. Nội dung quyền sở hữu của vợ chồng ............................................ 16
1.2. Mục đích và điều kiện chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn
trong trường hợp sống chung với gia đình......................................... ... ......21
1.2.1. Khái niệm gia đình.............................................................. .... .......21
1.2.2. Khái niệm sống chung với gia đình.......................................... ......24
1.2.3. Mục đích chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn trong trường
hợp sống chung với gia đình........................................................... .... .... 25
1.2.4. Điều kiện chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn trong trường
hợp sống chung với gia đình ..................................................................... 25
KẾT LUẬN CHƢƠNG 1..............................................................................27
Chƣơng 2: NỘI DUNG PHÁP LUẬT HIỆN HÀNH VỀ CHIA TÀI SẢN
KHI LY HÔN CỦA VỢ CHỒNG TRONG TRƢỜNG HỢP SỐNG
CHUNG VỚI GIA ĐÌNH..............................................................................28
2.1. Căn cứ chia tài sản................................................................. ..... .........28
2.1.1. Căn cứ pháp lý ............................................................................... .28
2.1.2. Căn cứ thực tiễn ............................................................................. .29
2.2. Xác định tài sản của vợ chồng khi ly hôn trong tài sản chung của gia
đình................................................................................................ ..... .........29
2.2.1. Căn cứ xác định tài sản của gia đình .............................................. 29
2.2.2. Căn cứ xác định tài sản của vợ chồng khi ly hôn trong tài sản chung
của gia đình………………... .................................................................... 31
2.3. Nguyên tắc chia tài sản khi ly hôn trong trường hợp vợ chồng sống
chung với gia đình…………...................................................................... . ..32
2.3.1. Trong trường hợp tài sản của vợ chồng trong khối tài sản chung của
gia đình không xác định được……………………................................... 32
2.3.2. Trong trường hợp vợ chồng sống chung với gia đình mà tài sản của
vợ chồng trong khối tài sản chung của gia đình có thể xác định được theo
BTP
:
Bộ tư pháp
HN&GĐ
:
Hôn nhân và gia đình
TAND
: Tòa án nhân dân
TANDTC
: Tòa án nhân dân tối cao
TTLT
:
Thông tư liên tịch
VKSND
:
Xuất phát từ thực tiễn đó, quy định về chia tài sản của vợ chồng trong
trường hợp sống chung với gia đình ra đời đã giải quyết được vấn đề trên, bảo
vệ quyền lợi cho vợ, chồng khi sống chung với gia đình.
Vốn dĩ, quan hệ tài sản giữa vợ, chồng là quan hệ tài sản gắn liền với
nhân thân, đã rất khó để xác định được công sức đóng góp cụ thể của các bên,
và còn khó khăn hơn nữa khi khối tài sản chung đó của vợ, chồng lại nằm
trong khối tài sản chung của cả gia đình (nhà chồng hoặc nhà vợ). Khi xảy ra
tranh chấp thì việc phân chia tài sản chung của vợ, chồng trong khối tài sản
2
của gia đình là tương đối khó khăn, phức tạp, gây nhiều tranh cãi trong các vụ
án giải quyết ly hôn tại các cấp Tòa án. Hiện nay, với xu thế phát triển của xã
hội, số lượng các vụ án ly hôn có tranh chấp về tài sản ngày càng tăng, giá trị
tài sản tranh chấp giữa vợ chồng với gia đình ngày càng lớn. Thực trạng này
đã gây nhiều khó khăn và áp lực cho cơ quan tiến hành tố tụng.
Do vậy, nghiên cứu về vấn đề chia tài sản chung của vợ chồng khi
sống chung với gia đình có ý nghĩa lý luận và thực tiễn sâu sắc. Nó đem tới
cái nhìn tổng quan hơn về những quy định của pháp luật, những bất cập của
việc áp dụng pháp luật trong thực tiễn, để từ đó có những giải pháp hoàn thiện
hơn về vấn đề này. Với những lý do trên, tôi quyết định lựa chọn đề tài:
“Chia tài sản khi ly hôn trong trường hợp vợ chồng sống chung với
gia đình theo pháp luật Việt Nam” làm luận văn thạc sĩ luật học của mình.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Xuất phát từ vai trò quan trọng của gia đình trong xã hội nên việc
nghiên cứu về các tranh chấp trong quan hệ hôn nhân và gia đình luôn được
quan tâm và chú ý, được nhiều nhà nghiên cứu và các học giả đề cập.
Một số tài liệu chuyên khảo về hôn nhân và gia đình như: Giáo trình
Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam củaTrường Đại học Luật Hà Nội, Giáo
vợ chồng sống chung với gia đình nói riêng. Mặc dù vậy, với xu hướng các vụ
án ly hôn mà chia tài sản chung của vợ chồng khi sống chung với gia đình
hiện nay ngày càng tăng, đồng thời việc Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014
mới được ban hành và bước đầu đi vào áp dụng trong thực tiễn xét xử thì việc
nghiên cứu các quy định của pháp luật về về chia tài sản chung của vợ chồng
khi sống chung với gia đình là điều rất quan trọng.
Qua nghiên cứu sẽ thấy được những tiến bộ của Luật Hôn nhân và gia
đình năm 2014 và những hạn chế, bất cập trong quá trình áp dụng các quy
4
định của pháp luật để giải quyết tranh chấp về chia tài sản của vợ chồng khi
sống chung với gia đình. Từ đó, đề ra những giải pháp hoàn thiện pháp luật và
phương hướng nhằm nâng cao hiệu quả của công tác xét xử giải quyết tranh
chấp, nhằm đảm bảo được quyền và lợi ích hợp pháp của các bên vợ, chồng.
3. Đối tƣợng nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu của luận văn
3.1.
Đối tượng nghiên cứu của luận văn
Các quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành về chia tài sản của vợ
chồng trong trường hợp sống chung với gia đình.
3.2.
Phạm vi nghiên cứu của luận văn
Luận văn chủ yếu tập trung nghiên cứu các quy định của Luật hôn nhân
và gia đình năm 2014 và một số văn bản khác có liên quan về quy định chia
tài sản chung của vợ chồng khi sống chung với gia đình.
điều chỉnh quan hệ hôn nhân và gia đình.
Phương pháp nghiên cứu cụ thể: Trong quá trình nghiên cứu, tác giả sử
dụng phương pháp phân tích, so sánh, nghiên cứu các tạp chí có giải quyết
các tranh chấp về chia tài sản của vợ chồng khi sống chung với gia đình; các
bài viết, tham luận của một số tác giả về vấn đề nghiên cứu.
6. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luạn văn
Luận văn là công trình khoa học có ý nghĩa khoa học và thực tiễn. Luận
văn đã đưa ra được thực trạng xã hội và thực trạng áp dụng pháp luật về chia
tài sản khi ly hôn trong trường hợp vợ chồng sống chung với gia đình, từ đó
đưa ra được những giải pháp nhằm đảm bảo quyền và nghĩa vụ của vợ chồng
trong trường hợp này.
7. Bố cục của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo, nội
dung của luận văn gồm 3 chương:
Chƣơng 1: Những vấn đề lý luận pháp luật về chia tài sản khi ly hôn
trong trường hợp vợ chồng sống chung với gia đình
Chƣơng 2: Nội dung pháp luật hiện hành về chia tài sản khi ly hôn của
vợ chồng trong trường hợp sống chung với gia đình
6
Chƣơng 3: Thực trạng và một số giải pháp nhằm đảm bảo quyền và
nghĩa vụ của vợ chồng khi chia tài sản ly hôn trong trường hợp vợ chồng sống
chung với gia đình
7
Chƣơng 1
trường hợp. Thế nhưng phải nói rằng nếu như đối với Luật HN&GĐ không có
tính chất đền bù, ngang giá là về nguyên tắc thì đối với Luật dân sự, đó là
trường hợp ngoại lệ 2. Vì thế mà tài sản chung của vợ chồng là hình thức sở
hữu đặc biệt xuất phát từ quan hệ hôn nhân.
Khác với tài sản chung đơn thuần, tài sản chung do vợ, chồng có nguồn
gốc tạo ra từ thời kỳ hôn nhân, có thể là do vợ, chồng lao động tạo ra hoặc từ
những hành vi pháp lý diễn ra trong thời kỳ hôn nhân (thỏa thuận tài sản riêng
trở thành tài sản chung, thừa kế, tặng cho) và điểm khác biệt của chế định tài
sản chung vợ chồng là tài sản chung của vợ chồng không nhất thiết phải do
hai vợ chồng tạo ra ngang bằng nhau. Tài sản chung có thể chỉ do vợ hoặc
chồng tạo ra trong thời kỳ hôn nhân và vợ chồng đều có quyền ngang nhau
trong việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung.
Do đó, tài sản chung của vợ chồng thuộc sở hữu chung hợp nhất - “sở
hữu chung mà trong đó, phần quyền sở hữu của mỗi chủ sở hữu chung không
được xác định đối với tài sản chung”(Khoản 1, Điều 210 BLDS năm 2015).
Như vậy, phần quyền sở hữu của vợ, chồng không được xác định trước, và
cũng không xác định được tỉ lệ tài sản của mỗi người. Khi hai bên thỏa thuận
phân chia xong hoặc có quyết định của Tòa án về phân chia tài sản cho vợ
chồng thì phần tài sản của vợ, chồng trong khối tài sản chung mới được xác
định. Như vậy, chia tài sản chung của vợ chồng là phân chia tài sản chung của
vợ chồng thành từng phần thuộc sở hữu riêng của vợ và của chồng.
Sự tồn tại của chế độ tài sản chung vợ chồng phụ thuộc vào sự tồn tại
của quan hệ hôn nhân và chấm dứt khi một trong hai vợ chồng chết hoặc có
bản án, quyết định của Tòa án cho vợ chồng ly hôn. Do tính cộng đồng của
quan hệ hôn nhân, vợ chồng cùng chung sức, chung ý chí tạo dựng tài sản
2
Trường Đại học Luật Hà Nội (2008), Giáo trình Luật hôn nhân và gia đình Việt Nam, Nxb Công an nhân
dân, Hà Nội, tr. 47.
10
3. Trong trường hợp không có căn cứ để chứng minh tài sản mà vợ,
chồng đang có tranh chấp là tài sản riêng của mỗi bên thì tài sản đó được coi
là tài sản chung”
Căn cứ pháp lý để xác định khối tài sản chung của vợ chồng là sự ra
đời và tồn tại của quan hệ vợ chồng. Luật quy định, những tài sản được vợ
chồng tạo ra trong “thời kỳ hôn nhân” mới được coi là tài sản chung của vợ
chồng. “Thời kỳ hôn nhân” là thời gian quan hệ vợ chồng tồn tại trước pháp
luật, được tính từ khi hai bên nam nữ kết hôn và chấm dứt khi một bên vợ,
chồng chết hoặc hai vợ chồng ly hôn. Việc kết hôn đó được cơ quan nhà nước
có thẩm quyền công nhận theo đúng thủ tục và các điều kiện Luật định. Tài
sản chung của vợ chồng theo điều Luật trên bao gồm:
- Tài sản do vợ, chồng tạo ra thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất
kinh doanh, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng và những thu nhập hợp
pháp khác của vợ, chồng trong thời kỳ hôn nhân
Đây là tài sản chủ yếu quan trọng đối với khối tài sản được coi là tài
sản chung của vợ chồng. Trong cuộc sống vợ chồng có thể tham gia lao động,
sản xuất kinh doanh để tạo ra tài sản, nhưng đó phải là những lao động hợp
pháp. Thu nhập từ lao động là thu nhập cơ bản, chính đáng chủ yếu của người
lao động. Trong xã hội, lao động vừa là quyền vừa là nghĩa vụ của mỗi công
dân. Quyền tự do sản xuất kinh doanh của cá nhân được Nhà nước ghi nhận là
một quyền hiến định, Nhà nước luôn khuyến khích và tạo điều kiện cho các
cá nhân có điều kiện mở rộng sản xuất kinh doanh. Bởi nó một mặt vừa mang
lại tài sản để duy trì ổn định và phát triển của gia đình, mặt khác góp phần
thúc đẩy sự phát triển cũng như làm giàu cho xã hội. Việc các bên thu nhập
nhiều hay ít, cao hay thấp không phải là căn cứ để phân định công sức đóng
góp của các bên vợ chồng. Như vậy, dù vợ chồng ở nhiều ngành nghề khác
12
xã hội sâu sắc, thể hiện sự đùm bọc, che chở yêu thương của những người
thân và bạn bè dành cho vợ chồng.
Ngoài ra, vợ chồng còn được nhận di sản thừa kế, trừ thừa kế theo di
chúc, vợ chồng có quyền lợi ngang nhau trong việc hưởng phần di sản bằng
nhau khi thừa kế theo pháp luật.
Ngoài ra, tài sản chung của vợ chồng còn bao gồm tài sản riêng của
mỗi bên vợ hoặc chồng đã tự nguyện nhập vào khối tài sản chung của vợ
chồng có thế do vợ chồng thỏa thuận bằng văn bản hoặc mặc nhiên.Việc nhập
tài sản riêng của một bên vào khối tài sản chung của vợ chồng nhằm trốn
tránh nghĩa vụ tài sản của một bên thì vô hiệu. Đây là quy định rất mềm dẻo,
linh hoạt nhằm bảo vệ quyền lợi của người thứ ba tham gia vào quan hệ tài
sản đối với vợ hoặc chồng.
- Quyền sử dụng đất mà vợ, chồng có được sau khi kết hôn là tài sản
chung của vợ chồng, trừ trường hợp vợ hoặc chồng được thừa kế riêng,
được tặng cho riêng hoặc có được thông qua giao dịch bằng tài sản
riêng
Quyền sử dụng đất là một loại tài sản mang những nét đặc thù riêng.
Thông thường quyền sử dụng đất là tài sản có giá trị lớn hoặc đem lại thu
nhập chính cho vợ chồng. Vì vậy, để tránh những vướng mắc khi giải quyết
các tranh chấp về quyền sử dụng đất, Luật HN&GĐ năm 2014 đã khẳng định
quyền sử dụng đất mà vợ, chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của
vợ chồng, trừ trường hợp vợ hoặc chồng được thừa kế riêng, được tặng cho
riêng hoặc có được thông qua giao dịch bằng tài sản riêng.
Đối với những tài sản mà pháp luật quy định phải đăng ký quyền sở
hữu nhà ở, quyền sử dụng đất và các tài sản có giá trị khác thì trong giấy
chứng nhận quyền sở hữu phải ghi tên cả vợ và chồng.
14
Xuất phát từ tính chất của quan hệ hôn nhân là cùng chung ý chí, cùng
chung công sức trong việc tạo nên khối tài sản nhằm xây dựng gia đình, bảo
đảm cho gia đình thực hiện tốt chức năng xã hội của nó như phát triển kinh tế,
tạo điều kiện tốt cho nuôi dạy con, pháp luật quy định tài sản thuộc sở hữu
chung của vợ chồng chỉ căn cứ vào nguồn gốc, thời điểm phát sinh. Tài sản
của vợ chồng là sở hữu chung hợp nhất. Tài sản chung đó không nhất thiết
phải do công sức của cả hai vợ chồng trực tiếp tạo ra, mà có thể chỉ do vợ
hoặc chồng tạo ra trong thời ký hôn nhân, cũng sẽ là tài sản chung của vợ
chồng. Khác với tài sản chung đơn thuần, tài sản chung do vợ, chồng có
nguồn gốc tạo ra từ thời kỳ hôn nhân, có thể là do vợ, chồng lao động tạo ra
hoặc từ những hành vi pháp lý diễn ra trong thời kỳ hôn nhân (thỏa thuận tài
sản riêng trở thành tài sản chung, thừa kế, tặng cho) và điểm khác biệt của chế
định tài sản chung vợ chồng là tài sản chung của vợ chồng không nhất thiết
phải do hai vợ chồng tạo ra ngang bằng nhau. Tài sản chung có thể chỉ do vợ
hoặc chồng tạo ra trong thời kỳ hôn nhân và vợ chồng đều có quyền ngang
nhau trong việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung. Quy định này
thể hiện sự gắn kết đặc biệt của quan hệ vợ chồng, và dường như đúng với
câu thành ngữ cha ông ta để lại “của chồng công vợ”.
Như vậy, tài sản của vợ chồng là sở hữu chung hợp nhất, về mặt
nguyên tắc vợ, chồng có nghĩa vụ ngang nhau trong việc chiếm hữu, sử dụng,
định đoạt tài sản chung, nó xuất phát từ quyền bình đẳng của vợ chồng đối
với tài sản chung. Tài sản chung của vợ chồng là khối tài sản góp phần đảm
bỏ nhu cầu đời sống của gia đình nhằm duy trì cuộc sống cũng như thỏa mãn
các nhu cầu về tinh thần, vật chất của vợ chồng, các nghĩa vụ phát sinh trong
quá trình hôn nhân tồn tại.
16
+ Tài sản chung của vợ chồng còn bao gồm quyền sử dụng đất mà vợ
chồng có được sau khi kết hôn.
+ Tài sản chung của vợ chồng còn bao gồm những tài sản được thỏa
thuận là tài sản chung.
+ Tài sản không đủ chứng cứ xác định là tài sản riêng thì nó sẽ được
suy đoán là tài sản chung.
Pháp luật có những quy định cụ thể như vậy nhằm đảm bảo cho quyền
lợi của vợ chồng đối với tài sản chung. Đồng thời tạo cơ sở pháp lý cho các
cấp Tòa án nhanh chóng giải quyết các tranh chấp về tài sản của vợ chồng.
1.1.3. Nội dung quyền sở hữu của vợ chồng
Vợ chồng có quyền bình đẳng trong việc chiếm hữu, sử dụng và định
đoạt tài sản chung. Theo tinh thần chung cuả Luật HN&GĐ thì vợ chồng
không chỉ bình đẳng trong quá trình taọ lập tài sản chung mà còn bình đẳng
về quyền và nghĩa vụ đối với tài sản chung, bình đẳng trong việc phân chia tài
sản chung hợp nhất.
Trong thời kỳ hôn nhân, không phân biệt mức thu nhập của người này
cao hay thấp hơn mức thu nhập của người kia, tài sản không nhất thiết phải do
cả hai vợ chồng tạo ra mà chỉ cần do một bên vợ hoặc chồng tạo ra thì tài sản
đó cũng vẫn là tài sản chung của vợ chồng. Do đó, theo quy định tại Khoản 1,
Điều 29 Luật HN&GĐ năm 2014: “Vợ chồng bình đẳng với nhau về quyền,
nghĩa vụ trong việc tạo lập, chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung,
không phân biệt giữa lao động trong gia đình và lao động có thu nhập”
Bên cạnh đó, Theo quy định tại Điều 213 BLDS năm 2015 thì:
“ 1. Sở hữu chung của vợ chồng là sở hữu chung hợp nhất có thể phân
chia.
17
việc quy định vợ chồng phải thỏa thuận bằng văn bản sẽ hạn chế được những
tranh chấp phát sinh.
Với tư cách là đồng chủ sở hữu, vợ chồng bình đẳng với nhau khi thực
hiện quyền sở hữu với tài sản chung. Quyền sở hữu đối với tài sản chung
được thể hiện cụ thể ở ba quyền năng, đó là quyền: Chiếm hữu, sử dụng, định
đoạt tài sản. Trong gia đình, vợ và chồng đều có quyền nắm giữ, quản lý tài
sản thuộc sở hữu chung, đều có quyền khai thác công dụng, hưởng lợi ích từ
tài sản cũng như quyền định đoạt số phận của tài sản đó. Vợ, chồng phải có sự
bàn bạc, thỏa thuận sử dụng tài sản chung nhằm bảo đảm đời sống chung gia
đình, sao cho việc sử dụng, định đoạt tài sản chung đem lại lợi ích nhiều nhất
cho cuộc sống chung vợ chồng, đảm bảo nghĩa vụ nuôi dưỡng, giáo dục các
con, cũng như quyền lợi của các thành viên khác trong gia đình.
Quyền chiếm hữu là yếu tố đầu tiên của quyền sở hữu. Theo quy định
tại Điều 186 BLDS năm 2015 thì quyền chiếm hữu là quyền mà “Chủ sở hữu
được thực hiện mọi hành vi theo ý chí của mình để nắm giữ, chi phối tài sản
của mình nhưng không được trái pháp luật, đạo đức xã hội”
Như vậy, quyền chiếm hữu tài sản chung vợ chồng là quyền của vợ
chồng trong việc nắm giữ, quản lý tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ
hôn nhân. Vợ chồng có quyền ngang nhau trong việc chiếm giữ tài sản chung.
Nhưng điều đó không có nghĩa cả hai bên phải là người trực tiếp nắm giữ tài
sản mà cho dù chỉ một bên nắm giữ tài sản thì cả hai bên đều có quyền sử
dụng, định đoạt đối với khối tài sản chung đó.
Quyền sử dụng theo quy định tại Điều 189 BLDS năm 2015 là: “
Quyền khai thác công dụng, hưởng hoa lợi, lợi tức từ tài sản”. Trong tài sản
chung của vợ chồng, quyền sử dụng tài sản chung của vợ chồng được hiểu là
quyền của vợ chồng trong việc tự mình sử dụng để khai thác công dụng của
19