Giải quyết các vụ án tranh chấp hợp đồng vay tài sản qua thực tiễn tại tòa án nhân dân huyện quế sơn tỉnh quảng nam - Pdf 27

NHẬN XÉT CỦA GIÁO VIÊN CHẤM

MỤC LỤC
Trang
A. PHẦN MỞ ĐẦU
Vấn đề vay mượn tài sản là một trong những vấn đề thường gặp trong
cuộc sống hằng ngày. Vay để phục vụ lợi ích gia đình, vay để kinh doanh

huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh có Chánh án, một hoặc hai Phó
Chánh án, Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, Thư ký Tòa án. Ngoài ra, còn có
bộ máy giúp việc.”
Trong công tác tổ chức cán bộ, Tòa án nhân dân huyện Quế Sơn không
ngừng củng cố bộ máy bố trí cán bộ quản lý, đào tạo chính trị, chuyên môn
nghiệp vụ nhằm xây dựng người cán bộ làm tốt các công tác pháp luật. Đến
nay, lực lượng thẩm phán, thư ký toàn ngành đều đạt trình độ cử nhân luật,
một số đồng chí cũng đang theo học lớp cao học, những người làm việc văn
phòng cũng học bằng cử nhân luật. Toàn thể cán bộ, công chức, viên chức của
cơ quan gồm 12 người:
4
- Chánh án: Ông Nguyễn Tấn Long
- Phó Chánh án: Ông Nguyễn Văn Thọ
- Các Thẩm phán: + Ông Nguyễn Tấn Long
+ Ông Nguyễn Văn Thọ
+ Bà Châu Thị Kim Phượng
+ Ông Nguyễn Trần Nguyên Vỹ
+ Ông Lê Thanh Hải
- Thư ký Tòa án: + Bà Phạm Thị Như Súy
+ Bà Nguyễn Thị Mai Loan
+ Ông Nguyễn Văn Liêm
+ Bà Đỗ Thị Ngọc Hà
+ Bà Nguyễn Hồ Thu Thảo
- Bộ máy giúp việc: + Kế toán: Bà Trần Thị Từ Vi
+ Văn thư: Bà Ngô Thị Hồng Tiếp
Ông Nguyễn Trường Danh

5
Sau đây là bảng đánh giá đội ngũ cán bộ, công chức và người lao động
của Tòa án nhân dân huyện Quế Sơn hiện nay.

Trải qua một thời gian hoạt động và phát triển, hiện nay cơ quan đã có hệ
thống cơ sở vật chất tương đối đầy đủ với hệ thống phòng làm việc được bố
trí phù hợp (ngoài phòng làm việc của Chánh án và Phó Chánh án mỗi Thẩm
phán, thư ký Tòa án, kế toán, văn thư,…được bố trí mỗi phòng làm việc riêng
biệt) được trang bị máy tính (có kết nối mạng internet), máy in, máy photo,…
Ngoài ra, Tòa án nhân dân huyện Quế Sơn còn có hai Hội trường xét xử, mỗi
Hội trường xét xử được trang bị đầy đủ âm thanh, ánh sáng và hệ thống bàn
6
ghế tương đối hoàn chỉnh. Để đảm bảo điều kiện công tác cho những cán bộ,
công chức làm việc xa nhà cơ quan còn bố trí hai phòng nội trú (một phòng
nam, một phòng nữ) mỗi phòng được thiết kế hai giường nằm, đầy đủ tiện
nghi.
2. Nhận xét về việc áp dụng pháp luật trong các vụ án Tranh chấp
hợp đồng vay tài sản tại Tòa án nhân dân huyện Quế Sơn.
2.1. Ưu điểm, thuận lợi
Từ năm 2010 đến năm 2014, Tòa án nhân dân huyện Quế Sơn đã giải
quyết được 210 vụ việc tranh chấp hợp đồng vay tài sản trong tổng số 212 vụ
việc thể hiện qua các năm như sau:
Từ ngày 01/01/2010 đến ngày 30/12/2014
L
O
ẠI
V

Á
N
V
À
VI


ĐÃ
GIẢI
QUY
ẾT
C
ũ
c
ò
n
l

i
M

i
th


T

n
g
s

Chu
yển
hồ

Đì
nh

ng
số
T
ổn
g
số
Q
u
á
h

n
l
u

t
đ

n
h
T

m
đ
ì
n
h
c
h


1
2
2
1
2
0 54 14
7
9 21
0
2 0 0 147 96 1 29
4
3
7
ng
va
y
tài
sản
8
Tùy theo mỗi năm mà số lượng giải quyết các vụ về tranh chấp hợp đồng
vay tài sản cũng khác nhau. Trong đó, Tòa án nhân dân huyện Quế Sơn đã
đưa ra xét xử 9 vụ án tranh chấp hợp đồng vay tài sản chiếm tỷ lệ 4,3% ; công
nhận sự thỏa thuận của các đương sự chiếm tỉ lệ 70,0%; đình chỉ vụ án chiếm
tỉ lệ 25,7% trên tổng số vụ tranh chấp hợp đồng vay tài sản được giải quyết.
Qua đó ta thấy, đa số các vụ án thường dừng lại ở giai đoạn hòa giải thành
hoặc ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án.
Nhìn chung, công tác giải quyết các vụ án dân sư cũng như án tranh chấp
hợp đồng vay tài sản nói riêng trong thời gian qua tại Tòa án nhân dân huyện
Quế Sơn có những ưu điểm, thuận lợi như sau:
- Về thủ tục tố tụng dân sự, quá trình giải quyết các tranh chấp về Hợp

• Ngoài hợp đồng vay còn có các chứng cứ kèm theo như: giấy đề nghị kiêm
phương án vay vốn, sổ vay vốn, sổ lưu tờ rơi, biên bản kiểm tra sau khi cho
vay, giấy báo nợ quá hạn theo từng đợt, biên bản làm việc, bảng kê tính lãi
làm rất cụ thể và chặt chẽ. Từ đó, giúp công tác giải quyết vụ án nhanh chóng
và thuận tiện hơn.
• Giá trị vay vốn cam kết trong hợp đồng không lớn, ít vụ có tình tiết phức tạp
nên đã tạo thuận lợi cho các thẩm phán dễ dàng giải quyết tranh chấp cũng
như tìm ra các cơ sở pháp lý trong việc đưa ra các bản án đúng pháp luật
• Nhiều vụ án khi ngân hàng khởi kiện ra tòa thì các bên thỏa thuận được với
nhau nên hòa giải thành.
• Ít có tranh chấp về lãi suất. Do đó, thủ tục cũng đơn giản, gọn lẹ hơn.
- Về thủ tục hoà giải của Toà án, trong quá trình giải quyết vụ tranh
chấp, có thể nói Toà án đã nỗ lực tối đa trong việc tiến hành hoà giải tranh
chấp. Đặc biệt đối với những vụ án phức tạp, các thẩm phán thường tiến hành
hoà giải nhiều lần trước khi xét xử để các đương sự tự thoả thuận việc giải
10
quyết tranh chấp nhằm hạn chế những chi phí cũng như thời gian cho việc
giải quyết tranh chấp.
- Việc thu thập tài liệu giúp làm rƒ hơn các tình tiết của vụ án là công
việc đầu tiên giúp công tác giải quyết vụ án được dễ dàng hơn và chính xác
hơn. Trong trường hợp các đương sự có những lời khai mâu thuẫn với nhau,
có thái độ chây ì, bất hợp tác dẫn đến việc thu thập tài liệu liên quan đến vụ
án gặp khó khăn. Với sự linh hoạt và chuyên môn tương đối vững, tùy theo
từng đương sự mà các cán bộ, công chức Tòa án nhân dân huyện Quế Sơn
luôn có cách tiếp xúc giải quyết khác nhau nên công tác tiếp xúc trực tiếp với
đương sự luôn thu được kết quả, thu thập tài liệu một cách rƒ ràng.
- Trong trường hợp đương sự có đơn yêu cầu Tòa thu thập chứng cứ thì các cán
bộ công chức Tòa án luôn tuân thủ đúng quy định của pháp luật về thu thập
chứng cứ theo Điều 85 Bộ luật dân sự. Thư ký Tòa án hoặc cán bộ Tòa án
được Chánh án phân công bằng nghiệp vụ của mình tiến hành thu thập chứng

cung cấp chứng cứ và hòa giải để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình.
Nhưng nhiều bị đơn cố tình không chấp hành, hoặc đến Tòa nhưng tỏ thái độ
bất hợp tác, có biểu hiện chống đối, thách thức Tòa án và tự ý bỏ ra về. Do
đó, vụ án không tiến hành hòa giải được. Đến khi vụ án đưa ra xét xử thì bị
đơn vắng mặt, trì hoãn phiên tòa, gây khó khăn cho các cán bộ Tòa. Có thái
độ chây ỳ, trốn tránh, tỏ thái độ bất hợp tác. Do đó, có nhiều vụ nhìn chung
rất đơn giản nhưng thời gian giải quyết tranh chấp kéo dài, qua nhiều lần xét
xử vẫn không đạt kết quả.
- Về hoạt động cung cấp chứng cứ, tài liệu và việc chứng minh của các chủ thể
liên quan, nhất là các đương sự. Cung cấp chứng cứ cho Tòa án còn thiếu
chính xác, khi cung cấp đến Tòa thì không xác định tài liệu nào là sát thực.
Trường hợp các đương sự có các lời khai mâu thuẫn với nhau thì mỗi bên
phải chứng minh lời khai của mình là đúng, nếu các đương sự không chứng
12
minh được sự tồn tại quyền và lợi ích hợp pháp của họ thì không thể thuyết
phục được Toà án bảo vệ quyền cho mình. Vì trên thực tế, các Toà án cũng có
thế có sai lầm trong việc xác định các tình tiết, sự kiện của vụ tranh chấp.
Trong việc này đòi hỏi thẩm phán phải có kinh nghiệm dày dặn, chuyên môn
cao, phán đoán tình hình trong việc giải quyết tranh chấp.
- Thủ tục giải quyết tranh chấp rườm rà, cơ chế giải quyết tranh chấp còn chưa
phù hợp:
• Thời gian giải quyết một vụ tranh chấp hợp đồng vay tài sản thường diễn ra
khá lâu thường từ 5-6 tháng. Khi một tranh chấp được khởi kiện ra toà án phải
qua các trình tự thủ tục phức tạp: từ việc thụ lý vụ án, hòa giải, có đơn yêu
cầu, xác minh, thu thập chứng cứ, rồi xác định giá trị tài sản cầm cố, thế chấp,
ra quyết định xét xử, ra bản án rồi quyết định thi hành án, thời gian tự nguyện,
biên bản làm việc của 2 bên tại thi hành án, quyết định cưỡng chế về việc kê
biên định giá tài sản… Rườm rà như vậy, nên cơ quan thi hành án không bao
giờ thi hành đúng thời hạn như quyết định của bản án.
- Từ năm 2010 đến năm 2014 thì khi giải quyết về hợp đồng vay tài sản trong

- Trong trường hợp vay giữa các đương sự là cá nhân với nhau tồn tại rất nhiều
thiếu sót:
• Phần lớn các vụ án vay nợ giữa các đương sự là cá nhân với nhau thường
không có hợp đồng vay mượn. Chứng cứ làm cơ sở bên cho vay kiện bên đi
vay là các loại giấy tờ như giấy mượn tiền, giấy vay tiền, giấy xác nhận nợ
• Hình thức của các giấy nợ vô cùng sơ sài, cẩu thả nhưng trong đó lại ghi nhận
cho vay với nhau hàng chục triệu đồng thậm chí hàng trăm triệu đồng.
• Có những trường hợp cho vay giữa các cá nhân với nhau là giao kết miệng,
không có một chứng cứ nào chứng minh sự tồn tại giữa hợp đồng vay. Do đó,
việc giải quyết vụ án gặp khó khăn, các cán bộ Tòa phải chú ý lời khai cảu
14
các bên có liên quan đến việc vay tài sản, từ đó đánh giá nội dung mà hai bên
thông nhất về số tiền vay và lãi suất trong hạn cũng như lãi suất quá hạn.
Trên đây là toàn bộ những ưu điểm, thuận lợi và hạn chế, vướng mắc
trong thực tiễn áp dụng pháp luật giải quyết các vụ án tranh chấp quyền sử
dụng đất tại Tòa án nhân dân huyện Quế Sơn trong thời gian qua. Để những
thuận lợi, ưu điểm được duy trì, vướng mắc được hạn chế thì thiết nghĩ pháp
luật cần có những quy định rƒ ràng, cụ thể hơn.
3. Những vấn đề học được qua thực tiễn thực tập tại Tòa án nhân
dân huyện Quế Sơn
Thực tiễn đã chứng minh rằng thực tập là một phần không thể thiếu
trong hành trang tri thức của học sinh, sinh viên. Đây là phương pháp thực tế
hóa kiến thức giúp cho chúng ta khi ra trường có thể vững vàng, tự tin hơn để
đáp ứng được yêu cầu của xã hội nói chung và của công việc nói riêng. Ông
cha ta cũng từng nói “học phải đi đôi với hành” chính vì vậy hằng năm Đại
học Luật Huế đều tổ chức cho sinh viên đi thực tập vào dịp cuối khóa nhằm
giúp sinh viên có cơ hội áp dụng những kiến thức đã học vào thực tiễn. Trãi
qua một thời gian thực tập, tiếp cận thực tế tại Tòa án nhân dân huyện Quế
Sơn tôi đã học hỏi được nhiều kiến thức bổ ích mà trước đây tôi chỉ được tiếp
cận trên cơ sở lý luận. Sau đây là những trãi nghiệm mà tôi đã học được qua

một Thẩm phán đứng ra đảm nhiệm giải quyết.
• Trong việc nghiên cứu các vụ án trước khi đưa ra xét xử thì thông thường
những vụ án dễ giải quyết sẽ do một Thẩm phán được phân công nghiên cứu.
Còn các vụ án phức tạp, khó giải quyết các Thẩm phán sẽ cũng nhau nghiên
cứu để đưa ra phương án tối ưu cho Thẩm phán được phân công lựa chọn.
Ngoài ra, những vụ án mang tính chất phức tạp, liên quan đến nhiều cơ quan,
nhiều mối quan hệ, thì Thẩm phán đảm nhận giải quyết lập hồ sơ trình Chánh
16
án để chuyển lên Tòa án cấp trên trực tiếp xin ý kiến về đường lối giải quyết.
Trường hợp vào thời điểm mà số lượng án tăng đột biến và tính chất khó
khăn, phức tạp của các vụ án cũng tăng lên thì Chánh án làm báo cáo gửi lên
Tòa án cấp trên xin được điều động thêm Thẩm phán về cơ quan tham gia giải
quyết.
• Khi nói về phân công nhiệm vụ không thể bỏ qua mối quan hệ giữa Thẩm
phán và Thư ký khi đảm nhận giải quyết một vụ án. Khi tiếp nhận giải quyết
một vụ án thì Thư ký có nhiệm vụ giúp Thẩm phán giải quyết những công
việc theo yêu cầu của Thẩm phán từ khi được phân công giải quyết cho đến
khi bản án được thi hành.
- Về áp dụng pháp luật để giải quyết các vụ án:
Sự linh hoạt của các Thẩm phán khi giải quyết các vụ án là tùy theo mức
độ phức tạp mà có cách giải quyết khác nhau và luôn đặt quyền lợi của các
đương sự lên hàng đầu. Ngoài ra, việc áp dụng các quy định của pháp luật vào
giải quyết các vụ án tương đối chính xác. Hầu hết các vụ án đều không bị
kháng cáo, kháng nghị hoặc có kháng cáo, kháng nghị cũng vẫn được giữ
nguyên quyết định của bản án sơ thẩm.
- Về liên hệ giữa lý thuyết và thực tiễn:
Đợt thực tập tốt nghiệp tại cơ sở là điều kiện để sinh viên được thử sức
mình với các công việc chuyên ngành, sinh viên được áp dụng các kiến thức
đã học trên ghế nhà trường vào thực tiễn, tìm hiểu thực tế. Qua quá trình tìm
hiểu thực tiễn tôi đã rút ra được những bài học kinh nghiệm sau:

độ đúng mực không thái quá.
• Là một sinh viên luật nên trong quá trình thực tập phải cân nhắc thật kỹ, xem
lại các quy định của pháp luật trước khi đưa ra ý kiến về một vấn đề cần giải
quyết, không nói bừa, nói vô căn cứ. Bản thân sinh viên cần tích cực tiếp thu,
18
trau dồi những kỹ năng quan trọng cần thiết cho công việc như: kỹ năng giao
tiếp, kỹ năng nghiên cứu, kỹ năng soạn thảo các văn bản,…
• Thực tế cho thấy rằng không hẵn những thành tích học được trên giảng
đường là đủ, không phải những gì được học chúng ta sẽ nhớ hết và không
phải những gì được học khi áp dụng vào thực tế đều đúng và hợp lý. Có
những trường hợp sinh viên cần nhận thức được sự mềm dẻo trong việc áp
dụng pháp luật so với những quy định cứng nhắc của pháp luật. Cần phải linh
hoạt, tùy hoàn cảnh, tùy đối tượng mà có sự vận dụng pháp luật cho thật sự
hợp lý. Điều này yêu cầu trong quá trình học bên cạnh việc tích lũy kiến thức
sinh viên cần rèn luyện thêm tư duy.
• Khi làm việc tại các cơ quan tư pháp thì việc nắm vững các thủ tục tố tụng hết
sức cần thiết. Đa số sinh viên luật khi thực tập đều chưa nắm vững các thủ tục
tố tụng nên khi giải quyết các công việc còn lúng túng. Do đó, việc học tập và
nắm vững các kiến thức đã học ở trường là hết sức quan trọng.
Khi về thực tập tại cơ quan tôi được giao nghiên cứu các hồ sơ vụ án và
được tạo điều kiện tham gia những phiên tòa được mở tại cơ quan cũng như
những phiên tòa lưu động. Qua đây tôi đã nắm vững hơn những thủ tục tố
tụng.
Đợt thực tập đã cho sinh viên thấy được những vấn đề cốt lƒi giữa lý
luận và thực tiễn (về những kiến thức đã học và thực tế giải quyết các công
việc tại cơ quan thực tập). Hơn nữa, đợt thực tập cũng cho sinh viên thấy
được chính mình, về những ưu, nhược điểm của bản thân. Qua đây góp phần
hoàn thiện bản thân để khi ra trường dễ tiếp xúc với thực tế công việc.
4. Những kiến nghị qua quá trình thực tập
Từ những kiến thức đã học được tại cơ quan thực tập cũng như những

các vụ án.
20
• Một số Thẩm phán do phải giải quyết nhiều việc cùng lúc nên vẫn chưa
nghiên cứu kỹ hồ sơ vụ án khi đưa ra xét xử nên còn lúng túng trước những
câu trả lời lắc léo của đương sự, lời phản cung của bị cáo. Và chưa có sự đầu
tư nghiên cứu các quy định của pháp luật, đặc biệt là những văn bản được sửa
đổi. Bên cạnh đó là sự cẩu thả trong công việc của một số thư ký khi nghiên
cứu hồ sơ và thực hiện những công việc được Thẩm phán giao (Ví dụ: Giao
các văn bản tố tụng không đúng cơ quan có thẩm quyền, hợp thức hóa hồ sơ
bút lục bằng các chữ ký giả,…). Những hạn chế trên dẫn đến tiến hành sai các
thủ thục trong tố tụng và áp dụng sai quy định của pháp luật. Do đó, trong
thời gian tới mỗi cán bộ, công chức của cơ quan cần phải có những thay đổi
mang tính chiến lược theo hướng tích cực để hoàn thiện hơn chuyên môn của
mình.
• Một thực tế là hiện nay tại Tòa án nhân dân huyện Quế Sơn số lượng cán bộ,
công chức nữ chiếm đa số nên cũng hạn chế nhất định do đặc thù của ngành
nhiều lúc phải làm việc với đương sự ở những vùng núi xa xôi, đồng thời do
đặc thù của phái nữ là sinh con và các vấn đề khác nên điều kiện, thời gian để
nghiên cứu nâng cao chuyên môn vẫn còn hạn chế. Trong thời gian đến thiết
nghĩ Tòa án nhân dân huyện Quế sơn phải có kiến nghị những thay đổi nhất
định về thành phần nam nữ cho hợp lý để đảm bảo tốt nhất sự hoạt động nhịp
nhàng của cơ quan.
• Hiện nay trong hệ thống các cơ quan nhà nước nói chung, ở Tòa án nhân dân
huyện Quế sơn nói riêng việc tuân thủ giờ làm việc vẫn chưa nghiêm túc. Để
đảm bảo sự tin cậy của nhân dân, sự nghiêm chỉnh của hệ thống cơ quan nhà
nước và hiệu quả công việc thiết nghĩ trong thời gian tới đơn vị cần có sự
quản lý nghiêm ngặt giờ giấc làm việc của các thành viên trong cơ quan.
• Thành phần Hội thẩm nhân dân của đơn vị còn ít người từ các tổ chức đoàn
thể. Đa số các Hội thẩm nhân dân là những cán bộ lãnh đạo của các phòng,
ban thuộc Ủy ban nhân dân huyện, tuy có chất lượng bởi họ là những người

C. PHẦN KẾT BÀI
Qua phần thực tiễn giải quyết các tranh chấp hợp đồng vay tài sản tại
Tòa án nhân dân huyện Quế Sơn, tỉnh Quảng Nam ta cũng thấy được phần
nào tính chất, nội dung , hình thức và các tranh chấp thường gặp trong vấn đề
vay tài sản cũng như trong hợp đồng vay tài sản. Trong quá tình giải quyết
tranh chấp hợp đồng vay tài sản tại Tòa Quế Sơn giúp em hiểu được các trình
tự thủ tục tố tụng, cách nắm nội dung hồ sơ vụ án, phân tích các chứng cứ, tài
liệu có trong vụ án, từ đó giải quyết được vụ tranh chấp hợp đồng vay cụ thể.
Qua đó, em biết được các ưu, và nhược điểm, đưa ra kiến nghị trong việc giải
quyết tranh chấp từng hợp đồng vay tài sản.
24
D. DANH MỤC CÁC TÀI LIỆU SƯU TẦM
1. Quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự số 32/2010/QĐDS-ST
về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”;
2. Quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự số 34/2010/QĐDS-ST
về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”;
3. Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự số 36/2010/QĐST-DS về việc
“Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”;
4. Quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự số 65/2010/QĐDS-ST
về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”;
5. Quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự số 16/2011/QĐDS-ST
về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”;
6. Quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự số 17/2011/QĐDS-ST
về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”;
7. Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự số 19/2011/QĐST-DS về việc
“Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”;
8. Quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự số 20/2011/QDĐS-ST
về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”;
9. Quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự số 21/2011/QĐDS-ST
về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”;


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status