Pháp luật về giải quyết tranh chấp đất đai từ thực tiễn tòa án nhân dân huyện quế võ, tỉnh bắc ninh - Pdf 61

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SỸ
PHÁP LUẬT VỀ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP
ĐẤT ĐAI TỪ THỰC TIỄN TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN QUẾ VÕ, TỈNH BẮC NINH

NGUYỄN TUYẾT MAI

HÀ NỘI- 2018


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SỸ
PHÁP LUẬT VỀ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP
ĐẤT ĐAI TỪ THỰC TIỄN TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN QUẾ VÕ, TỈNH BẮC NINH
NGUYỄN TUYẾT MAI
CHUYÊN NGÀNH: LUẬT KINH TẾ
MÃ SỐ: 8380107
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS. NGUYỄN NHƯ QUỲNH

HÀ NỘI- 2018


LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các
số liệu, thông tin và kết quả được nêu trong luận văn là trung thực. Những kết

Nguyễn Tuyết Mai

ii


MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN .......................................................................................... i
LỜI CẢM ƠN ............................................................................................... ii
MỤC LỤC ................................................................................................... iii
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT .............................................................. v
DANH MỤC CÁC BẢNG........................................................................... vi
DANH MỤC CÁC ĐỒ THỊ ........................................................................ vi
MỞ ĐẦU ....................................................................................................... 1
1. Tính cấp thiết của đề tài ........................................................................... 1
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài.............................................. 2
3. Mục đích, nhiệm vụ của luận văn ............................................................ 4
3.1. Mục đích nghiên cứu...................................................................... 4
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu ..................................................................... 5
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu luận văn ............................................ 5
4.1. Đối tượng nghiên cứu..................................................................... 5
4.2. Phạm vi nghiên cứu ........................................................................ 5
5. Phương pháp nghiên cứu ......................................................................... 6
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn ............................................... 6
7. Kết cấu luận văn ....................................................................................... 7
Chương 1 ...................................................................................................... 8
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ GIẢI QUYẾT ...................................... 8
TRANH CHẤP ĐẤT ĐAI VÀ PHÁP LUẬT VỀ GIẢI QUYẾT TRANH
CHẤP ĐẤT ĐAI QUA CÁC THỜI KỲ ...................................................... 8
1.1. Những vấn đề cơ bản về tranh chấp đất đai ........................................ 8
1.1.1. Khái niệm và đặc điểm của tranh chấp đất đai ........................... 8

Kết quả giải quyết tranh chấp đất đai tại TAND huyện Quế

Võ, tỉnh Bắc Ninh ................................................................................ 54
2.2.2. Đánh giá những kết quả đạt được ............................................. 63
2.2.3. Những tồn tại, hạn chế và nguyên nhân ................................... 64
2.2.4. Nguyên nhân của những hạn chế, yếu kém .............................. 73
Chương 3 .................................................................................................... 75
GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ GIẢI QUYẾT TRANH
CHẤP ĐẤT ĐAI VÀ NÂNG CAO HIỆU QUẢ ....................................... 75
THI HÀNH TỪ THỰC TIỄN XÉT XỬ TẠI TÒA ÁN ............................ 75
NHÂN DÂN HUYỆN QUẾ VÕ, TỈNH BẮC NINH................................. 75
3.1. Về nhóm giải pháp liên quan đến phương diện lập pháp .................. 75
3.1.1.

Tiếp tục sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện Luật Đất đai năm 2013

và các văn bản quy định chi tiết thi hành............................................ 76
iv


3.1.2. Ban hành các văn bản hướng dẫn thi hành Bộ luật Tố tụng dân
sự năm 2015 ........................................................................................ 80
3.2. Về nhóm giải pháp liên quan đến bồi dưỡng nghiệp vụ .................... 81
3.2.1. Tổ chức bồi dưỡng, tập huấn nghiệp vụ.................................... 81
3.2.2. Xây dựng nội dung bồi dưỡng, tập huấn nghiệp vụ .................. 83
3.3. Về nhóm giải pháp liên quan đến hướng dẫn thi hành pháp luật giải
quyết tranh chấp đất đai ............................................................................ 83
3.3.1. Về thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai ............................ 84
3.3.2. Về giải quyết hậu quả của hợp đồng chuyển nhượng QSDĐ vô hiệu
............................................................................................................. 87


: Quyền sử dụng đất

TCĐĐ

: Tranh chấp đất đai

TAND

: Tòa án nhân dân

UBND

: Ủy ban nhân dân

v


DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1: Số liệu thụ lý và giải quyết án tranh chấp đất đai sơ thẩm
của TAND huyện Quế Võ .......................................................................... 54
Bảng 2: Kết quả án tranh chấp đất đai bị kháng cáo, kháng nghị
theo thủ tục phúc thẩm của TAND huyện Quế Võ ................................... 62

DANH MỤC CÁC ĐỒ THỊ
Đồ thị 1: So sánh án sơ thẩm cấp huyện và cấp tỉnh ...................... 56

vi





tướng”, “trá hình” khác nhau… đây là mấu chốt để “châm ngòi” cho những
mâu thuẫn, bất đồng và TCĐĐ xảy ra. Xét ở góc độ thực tiễn triển khai các
quy định của pháp luật cho thấy, còn nhiều vấn đề cần phải xem xét lại, nhất
là khi mà số liệu điều tra trên thực tế chỉ rõ, các án kiện về dân sự tồn đọng tại
hệ thống Tòa án các cấp chủ yếu là các án kiện về đất đai. Ở hệ thống cơ quan
hành chính cũng có tổng kết tương tự; đặc biệt là việc khiếu nại vượt cấp đối
với các quyết định về giải quyết TCĐĐ thuộc thẩm quyền của cơ quan cấp
tỉnh và cấp huyện xảy ra phổ biến, các kết quả giải quyết tranh chấp không
được thực thi theo đúng quy định của pháp luật…
Huyện Quế Võ nằm ở phía Đông tỉnh Bắc Ninh, thuộc vùng đồng bằng
châu thổ Sông Hồng, trung tâm huyện lỵ cách thành phố Bắc Ninh 10km về
phía Bắc, cách thủ đô Hà Nội 40km về phía Tây Nam, có diện tích 15.484,82
ha. Với vị trí địa lý và hệ thống giao thông thuận tiện, có nhiều khu, cụm công
nghiệp và làng nghề truyền thống đã thúc đẩy kinh tế của địa phương phát
triển nhanh chóng. Cùng với phát triển kinh tế, tình trạng TCĐĐ đang có
chiều hướng gia tăng. Các tranh chấp diễn ra ngày càng phức tạp hơn, tính
chất căng thẳng và quyết liệt hơn, các công dân đi khiếu kiện đề nghị giải
quyết về đất đai ở nhiều nơi, nhiều cấp, nhiều cơ quan.
Để tiếp tục đánh giá về các quy định của pháp luật về giải quyết TCĐĐ
trong giai đoạn hiện nay đặc biệt là thông qua hoạt động xét xử thực tiễn tại địa
phương có thị trường đất đai sôi động như huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh, tác giả
lựa chọn đề tài: “Pháp luật về giải quyết tranh chấp đất đai từ thực tiễn Tòa
án nhân dân huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh” để nghiên cứu trong khuôn khổ
của một luận văn thạc sĩ luật học.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Trong bối cảnh TCĐĐ ngày càng phức tạp, khó xử lý, tồn đọng, kéo
dài, việc giải quyết tranh chấp còn nhiều bất cập, thiếu thống nhất thì TCĐĐ
và giải quyết TCĐĐ có thể được nghiên cứu dưới nhiều góc độ khác nhau,

luật dân sự; tố tụng dân sự và thực tiễn xét xử” - Nxb Chính trị quốc gia năm
2009; tái bản lần thứ 2 có sửa chữa bổ sung năm 2014.
- Luận văn thạc sĩ của tác giả Lê Văn Đức năm 2012: Áp dụng pháp
3


luật trong giải quyết các vụ án dân sự về tranh chấp quyền sử dụng đất tại
Tòa án nhân dân ở tỉnh Bắc Ninh”.
- Luận văn thạc sĩ của tác giả Trần Hoàng Lâm năm 2013: “Thực hiện
pháp luật về thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai của ngành Toà án
nhân dân tỉnh Hưng Yên”.
- Tiến sĩ Nguyễn Quang Hiền với bài: “Tranh chấp đất đai - Nguyên
nhân và kiến nghị”, Tạp chí Tòa án nhân dân số 24, tháng 12/2013.
- Tác giả Đặng Thị Phượng với bài: “Thẩm quyền giải quyết tranh chấp
đất đai của Tòa án theo Luật Đất đai năm 2013”, Tạp chí Tòa án nhân dân số
06, tháng 3/2014.
Các công trình khoa học trên nghiên cứu ở các khía cạnh, góc độ khác
nhau tạo nên một bức tranh tương đối đa dạng về vấn đề TCĐĐ và giải quyết
TCĐĐ nói chung cũng như giải quyết TCĐĐ bằng con đường TAND nói riêng
ở nước ta hiện nay. Nghiên cứu vấn đề ở phạm vi rộng, mang tính toàn diện có
những công trình mang nhiều giá trị như công trình nghiên cứu khoa học cấp
Bộ của ngành TAND (năm 2002, năm 2012) hay luận án tiến sĩ của Mai Thị
Tú Oanh (năm 2013), ở phạm vi hẹp trong cấp địa phương có những công trình
như luận văn thạc sĩ cùa Nguyễn Thị Thu Hà, Hồ Xuân Hương... Tuy nhiên,
trên cơ sở những quy định mới của LĐĐ năm 2013, đặc biệt là quy định về
thẩm quyền giải quyết TCĐĐ của TAND và đặc biệt LĐĐ năm 2013 đang
trong quá trình được xem xét sửa đổi, bổ sung [5] thì việc trở lại nghiên cứu,
tìm hiểu về vấn đề này vẫn cần thiết, có ý nghĩa lý luận và thực tiễn.
3. Mục đích, nhiệm vụ của luận văn
3.1. Mục đích nghiên cứu

- Các Nghị quyết của Hội đồng Thẩm phán TAND Tối cao về đường
lối giải quyết các vụ việc dân sự nói chung và giải quyết TCĐĐ.
- Một số vụ án TCĐĐ cụ thể được giải quyết bởi TAND huyện Quế
Võ, tỉnh Bắc Ninh.
- Các báo cáo tổng kết thực tiễn xét xử các vụ án TCĐĐ tại TAND
huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh trong những năm gần đây.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
5


Luận văn giới hạn phạm vi nghiên cứu là các quy định của LĐĐ năm 2013;
các quy định của BLTTDS về giải quyết TCĐĐ và thực trạng áp dụng trong giải
quyết tranh chấp đất đai tại TAND trên địa bàn huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh.
5. Phương pháp nghiên cứu
Để đạt được mục đích nghiên cứu, Luận văn dựa trên cơ sở chính trị và
sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau đây:
- Phương pháp luận nghiên cứu khoa học duy vật biện chứng và duy
vật lịch sử của Chủ nghĩa Mác - Lê nin.
- Quan điểm, đường lối của Đảng và tư tưởng Hồ Chí Minh về xây
dựng Nhà nước và Pháp quyền xã hội chủ nghĩa.
Ngoài ra, Luận văn còn sử dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể sau:
i) Phương pháp phân tích, phương pháp lịch sử, phương pháp thống kê ...
được sử dụng tại Chương 1 khi nghiên cứu những vấn đề lý luận về giải quyết
TCĐĐ và vai trò của TAND trong giải quyết TCĐĐ.
ii) Phương pháp bình luận, phương pháp đánh giá, phương pháp tổng
hợp ... được sử dụng tại Chương 2 khi nghiên cứu thực trạng pháp luật về giải
quyết TCĐĐ từ thực tiễn xét xử của TAND huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh.
iii) Phương pháp diễn giải, phương pháp quy nạp... được sử dụng tại
Chương 3 khi nghiên cứu giải pháp góp phần hoàn thiện pháp luật về giải
quyết TCĐĐ và nâng cao hiệu quả thi hành các quy định về giải quyết TCĐĐ

1.1. Những vấn đề cơ bản về tranh chấp đất đai
1.1.1. Khái niệm và đặc điểm của tranh chấp đất đai
1.1.1.1. Khái niệm tranh chấp đất đai
Trải qua nhiều giai đoạn lịch sử với những chính sách pháp luật đất đai
khác nhau, cho dù đất đai là tài sản thuộc sở hữu tư nhân, sở hữu tập thể, sở
hữu nhà nước hay giao quyền sử dụng cho tổ chức, hộ gia đình, cá nhân...thì ở
nước ta, hiện tượng TCĐĐ vẫn xảy ra phổ biến, diễn biến phức tạp, ảnh hưởng
xấu đến công tác quản lý nhà nước về đất đai nói chung và việc sử dụng đất nói
riêng. Nhà nước phải ban hành nhiều quy định pháp luật để giải quyết vấn đề
trên. Vậy TCĐĐ là gì? Khái niệm này tưởng chừng đơn giản nhưng lại có
nhiều ý nghĩa trong việc phân loại các dạng TCĐĐ, phân định thẩm quyền, xác
định nội dung cần giải quyết đối với vụ TCĐĐ...
Theo từ điển tiếng Việt thì thuật ngữ “tranh chấp” với nghĩa là “giành
nhau, cãi nhau, đôi co nhau”; nguyên nghĩa của từ “tranh” có nghĩa là “đua,
giành với kẻ khác cho kỳ được, cho hơn người” [50, tr.992].
Trước khi LĐĐ năm 2003 ra đời, thuật ngữ “tranh chấp đất đai” chưa
được chính thức giải thích. Lần đầu tiên LĐĐ năm 2003 đã định nghĩa “Tranh
chấp đất đai là tranh chấp về quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất giữa
hai hoặc nhiều bên trong quan hệ đất đai” [26, khoản 26 Điều 4]. Đến LĐĐ
năm 2013 khái niệm này tiếp tục được sử dụng.
Theo khái niệm này, đối tượng tranh chấp trong TCĐĐ là quyền và
nghĩa vụ của NSDĐ. Nhưng, đây là tranh chấp tổng thể các quyền và nghĩa
vụ hay chỉ là tranh chấp từng quyền và nghĩa vụ “đơn lẻ” của NSDĐ do pháp
luật đất đai quy định, hay bao gồm cả tranh chấp những quyền và nghĩa vụ mà
NSDĐ có được khi tham gia vào các quan hệ pháp luật khác cho đến nay vẫn
8


chưa được chính thức xác định. Bên cạnh đó, chủ thể tranh chấp vốn được gọi
là “hai hay nhiều bên” cũng không được xác định rõ ràng: chỉ bao gồm NSDĐ


về lợi ích, về quyền và nghĩa vụ giữa những người sử dụng đất với nhau hoặc
với người khác có liên quan khi tham gia vào quan hệ pháp luật đất đai.”
Nếu hiểu theo nghĩa hẹp thì: “Tranh chấp đất đai được hiểu là tranh
chấp quyền sử dụng đối với diện tích đất cụ thể giữa các chủ thể trong hoạt
động quản lý, sử dụng đất”. Các tranh chấp khác đều được hiểu là tranh chấp
liên quan đến đất đai và được giải quyết bởi cơ quan Tòa án theo thủ tục tố
tụng dân sự.
Để có thể làm rõ hơn bản chất của TCĐĐ, chúng ta cũng cần phân biệt
khiếu nại với TCĐĐ. Quan hệ pháp luật về khiếu nại là quan hệ giữa một bên
là Nhà nước (đại diện bởi các cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền do nhà
nước quy định) với một bên là người khiếu nại, trong quan hệ này có sự bất
đồng, xung đột lợi ích giữa Nhà nước và người dân. Còn trong quan hệ
TCĐĐ là quan hệ giữa các bên tranh chấp với nhau, bình đẳng với nhau về
quyền và nghĩa vụ trước pháp luật, Nhà nước chỉ đứng ra với vai trò là trọng
tài để giải quyết vụ việc.
1.1.1.2. Đặc điểm của tranh chấp đất đai
Là một loại tài sản nhưng tài sản là đất đai mang tính đặc biệt hơn so
với các loại tài sản khác trong quan hệ dân sự xét về cả nguồn gốc tự nhiên
cũng như hình thức sở hữu. Chính vì vậy, TCĐĐ xảy cũng có những biểu
hiện giống như các tranh chấp về các tài sản khác như: sự mâu thuẫn, bất
đồng về quyền và lợi ích của những chủ thể nhất định đối với một tài sản cụ
thể, song TCĐĐ cũng mang những dấu ấn riêng, biểu hiện tính đặc thù. Bên
cạnh đó, với việc xử lý các quan hệ pháp luật đất đai theo những cách thức
khác nhau ở từng giai đoạn mà TCĐĐ cũng chứa đựng những yếu tố về nội
dung, hình thức không hoàn toàn giống nhau ở mỗi thời kỳ. Trên cơ sở nghiên
cứu các quy định của pháp luật hiện hành và thực tiễn xử lý các TCĐĐ trong
thời gian qua, có thể nêu ra một số đặc điểm của TCĐĐ như sau:
Thứ nhất, TCĐĐ giữa những NSDĐ với nhau có đầy đủ tính chất của
tranh chấp dân sự. Một trong các bên tranh chấp khi thấy QSDĐ bị xâm phạm

Thứ năm, TCĐĐ được phát hiện khi các chủ thể trực tiếp thể hiện thái độ
thông qua những hành vi nhất định của mình. Để có thể coi là TCĐĐ phát sinh thì
các bên tranh chấp phải thể hiện những bất đồng, mâu thuẫn, xung đột lợi ích trong
việc sử dụng đất ra bên ngoài dưới dạng hành vi nhất định như ngăn cản người khác
11


sử dụng đất, khởi kiện đến cơ quan có thẩm quyền giải quyết tranh chấp.
1.1.2. Nguyên nhân hình thành và các dạng tranh chấp đất đai
1.1.2.1. Nguyên nhân hình thành tranh chấp đất đai
Mỗi sự vật, hiện tượng xảy ra đều do những nguyên nhân nhất định.
Theo chúng tôi, TCĐĐ xảy ra do những nguyên nhân trực tiếp sau: Về mặt
khách quan, đất đai không những là một loại tài nguyên quý giá trong cuộc
sống mà còn là một loại tài sản có giá trị lớn đối với mỗi NSDĐ. Về mặt chủ
quan, con người luôn có nhu cầu mưu cầu lợi ích cho mình do vậy mỗi khi
thấy quyền lợi của mình bị xâm phạm thì phải tìm mọi cách bảo vệ lợi ích của
mình hoặc khi nhận thấy có thể tìm kiếm được lợi ích thì sẽ tìm cách chiếm
cho được lợi ích đó. Chính vì hai nguyên nhân trên mà trong mọi thời đại,
mọi chế độ vấn đề TCĐĐ luôn xảy ra.
Ngoài ra, chúng ta có thể xem xét đến các nguyên nhân gián tiếp hình
thành TCĐĐ [46, tr.8] sau đây:
Một là, do cơ chế, quy định của pháp luật trong quản lý Nhà nước về
đất đai chưa ổn định, thường xuyên thay đổi từ việc giao đất cho Hợp tác xã,
Tập đoàn sản xuất…sau đó chuyển đổi giao đất cho cá nhân, hộ gia đình dẫn
đến QSDĐ giữa chung và riêng chưa tách bạch; giữa cá nhân được giao đất
nhưng đất có nguồn gốc của gia đình khác.
Hai là, do quá trình đô thị hoá diễn ra nhanh chóng khiến nhu cầu sử dụng
đất tăng lên, đẩy giá đất lên cao; từ khi nhà, đất trở nên có giá trị cao đã tác động
đến tâm lý của nhiều người dẫn đến tình trạng tranh chấp, đòi lại nhà, đất mà
trước đó đã bán, cho thuê, cho mượn, đã bị tịch thu hoặc giao cho người khác sử

lý, quyền sử dụng một diện tích nào đó hoặc một phần trong diện tích đó. Có
các dạng cụ thể sau:
- Tranh chấp về ranh giới thửa đất, về QSDĐ: thường do một bên tự ý
thay đổi hoặc do hai bên không xác định được với nhau.
- Tranh chấp về QSDĐ, tài sản gắn liền với đất trong quan hệ thừa kế.
Đây là tranh chấp do người có QSDĐ, có tài sản gắn liền với đất chết mà
không để lại di chúc hoặc di chúc không phù hợp với quy định của pháp luật
và những người được hưởng thừa kế không thoả thuận được với nhau về việc
phân chia di sản thừa kế.
- Tranh chấp về QSDĐ, tài sản gắn liền với đất khi vợ chồng ly hôn.
13


Tranh chấp này xảy ra giữa vợ chồng với nhau hoặc giữa một bên ly hôn với
hộ gia đình vợ (hoặc chồng).
- Tranh chấp đòi QSDĐ, trong trường hợp đất đó không bị Nhà nước
quản lý trong quá trình thực hiện chính sách đất đai; chủ cũ có một trong các
loại giấy tờ quy định tại Điều 100 của LĐĐ năm 2013 và người đang sử dụng
đất không có GCNQSDĐ, không có một trong các loại giấy tờ quy định tại
Điều 100 của LĐĐ năm 2013 vì lý do người đó sử dụng đất là ở nhờ, mượn,
thuê, lấn, chiếm đất hoặc bằng các giao dịch dân sự khác trái pháp luật.
- Tranh chấp về QSDĐ giữa đồng bào dân tộc địa phương với đồng bào
đi xây dựng các vùng kinh tế mới; giữa đồng bào địa phương với các nông
trường, lâm trường và các tổ chức sử dụng đất khác.
(ii) Tranh chấp về quyền và nghĩa vụ trong quá trình sử dụng đất:
- Tranh chấp trong quá trình thực hiện hợp đồng chuyển đổi, chuyển
nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thế chấp, góp vốn bằng giá trị QSDĐ.
- Tranh chấp do người khác gây thiệt hại hoặc hạn chế quyền và nghĩa
vụ phát sinh trong quá trình sử dụng đất. Đây thường là các dạng tranh chấp
có liên quan đến quyền sử dụng hạn chế bất động sản liền kề theo quy định

trong quan hệ đất đai trên cơ sở pháp luật để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp
của các bên tranh chấp. Qua việc giải quyết TCĐĐ mà các quan hệ đất đai được
điều chỉnh phù hợp với lợi ích của Nhà nước, lợi ích xà hội và của NSDĐ.
Thuật ngữ “Giải quyết tranh chấp đất đai” được sử dụng trong các văn
bản pháp luật đất đai. Thuật ngữ này được đề cập trong nội dung của LĐĐ năm
1987, LĐĐ năm 1993, LĐĐ năm 2003 và LĐĐ năm 2013. Mặc dù được đề
cập trong quy định của các đạo luật đất đai, song nội hàm của thuật ngữ “Giải
quyết tranh chấp đất đai” lại không được giải mã rõ ràng trong điều luật về
giải thích từ ngữ của LĐĐ năm 2013. Các từ điển Luật học ở nước ta cũng
không đưa ra định nghĩa cụ thể về giải quyết TCĐĐ. Chỉ trong cuốn từ điển
Giải thích thuật ngữ Luật học (Phần Luật đất đai, Luật lao động, Tư pháp quốc
tế) của Trường Đại học Luật Hà Nội xuất bản năm 1999, thuật ngữ “giải quyết
tranh chấp đất đai” mới được giải thích cụ thể như sau: “Giải quyết tranh chấp
đất đai: Giải quyết bất đồng, mâu thuẫn trong nội bộ nhân dân, tổ chức và trên
cơ sở đó phục hồi các quyền lợi hợp pháp bị xâm hại; đồng thời truy cứu trách

15


nhiệm pháp lý đối với hành vi vi phạm pháp luật về đất đai” [48, tr.35].
Như vậy, giải quyết TCĐĐ được hiểu là một phương thức của con
người nhằm tìm ra một giải pháp thích hợp giải quyết bất đồng, mâu thuẫn
trong nội bộ nhân dân liên quan đến việc quản lý và sử dụng đất.
Giải quyết TCĐĐ có một số đặc trưng cơ bản sau đây:
- Giải quyết TCĐĐ là một nội dung quản lý nhà nước về đất đai [31,
Điều 22]. Hoạt động này do cơ quan nhà nước có thẩm quyền thực hiện căn
cứ vào các quy định của pháp luật, quan điểm, đường lối của Đàng và thực
tiễn sử dụng đất để tìm ra phương thức phù hợp nhằm giải quyết bất đồng,
mâu thuẫn giữa các bên tranh chấp.
- Do đất đai là vấn đề nhạy cảm, phức tạp và có tầm quan trọng trên

tiễn và các quy định của pháp luật, đảm bảo đúng với tinh thần của nghị quyết
Hội nghị lần thứ 6 của Ban chấp hành Trung ương Đảng khoá XI, trên cơ sở
kế thừa và phát triển các quy định của LĐĐ năm 1993, LĐĐ năm 2003, LĐĐ
năm 2013 đã sửa đổi, bổ sung những quy định mới về giải quyết tranh chấp
đất dai. Theo đó, tranh chấp đất đai có thể được giải quyết bằng phương thức
hành chính tại UBND hoặc giải quyết tại TAND.
1.2.2. Mục đích và ý nghĩa của giải quyết tranh chấp đất đai
Nghiên cứu, tìm hiểu về giải quyết TCĐĐ cho thấy hoạt động này
mang mục đích và ý nghĩa cơ bản sau đây:
- Giải quyết TCĐĐ là hoạt động của cơ quan nhà nước có thẩm quyền
nhằm thực hiện một trong những nội dung quản lý nhà nước về đất đai được
ghi nhận trong LĐĐ năm 2013 [49, tr. 462].
- Giải quyết TCĐĐ góp phần vào việc duy trì sự ổn định chính trị, trật
tự an toàn xã hội và đảm bào sự đoàn kết trong nội bộ nhân dân.
- Giải quyết TCĐĐ góp phần vào việc nâng cao ý thức pháp luật đất đai
cho người dân nói chung và của NSDĐ nói riêng.

1.2.3. Giải quyết tranh chấp đất đai tại tòa án
1.2.3.1. Khái niệm giải quyết tranh chấp đất đai tại Tòa án
Trong quan hệ pháp luật đất đai, việc giải quyết các TCĐĐ là một trong
những biện pháp quan trọng để pháp luật đất đai phát huy được hiệu quả, vai
trò trong đời sống xã hội. Trong thực tế hiện nay có nhiều phương thức khác

17



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status