BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ TƢ PHÁP
TRƢỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
---------------
CẦM THỊ THANH HUYỀN
TRANH CHẤP VỀ CHUYỂN NHƢỢNG QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT
ÁP DỤNG PHÁP LUẬT VÀ THỰC TIỄN GIẢI QUYẾT TẠI
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲNH NHAI, TỈNH SƠN LA
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
HÀ NỘI – 2018
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ TƢ PHÁP
TRƢỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
---------------
CẦM THỊ THANH HUYỀN
TRANH CHẤP VỀ CHUYỂN NHƢỢNG QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT
ÁP DỤNG PHÁP LUẬT VÀ THỰC TIỄN GIẢI QUYẾT TẠI
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲNH NHAI, TỈNH SƠN LA
: Người sử dụng đất
LĐĐ
: Luật đất đai
BLDS
: Bộ luật dân sự
BLTTDS
: Bộ luật tố tụng dân sự
HĐCNQSDĐ : Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
GCNQSDĐ : Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
UBND
: Ủy ban nhân dân
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU .......................................................................................................... 1
Chƣơng 1. NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CHUYỂN NHƢỢNG
QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT ................................................................................ 8
1.1 Khái niệm quyền sử dụng đất .................................................................. 8
1.2 Khái niệm chuyển nhƣợng quyền sử dụng đất .................................... 12
1.3 Đặc điểm chuyển nhƣợng quyền sử dụng đất ...................................... 14
1.4 Các hình thức chuyển quyền sử dụng đất............................................. 15
1. 5 Những điều kiện pháp lý liên quan đến chuyển quyền sử dụng đất . 16
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲNH NHAI VÀ HOÀN THIỆN
PHÁP LUẬT VỀ CHUYỂN NHƢỢNG QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT ......... 65
3.1Các yếu tố thuộc về phƣơng diện lập pháp: .......................................... 65
3.1.1 Hoàn thiện hệ thống pháp luật và chính sách quản lý đất đai ............. 65
3.1.2 Cần sửa đổi một số điều liên quan đến việc chuyển quyền sử dụng đất
của Bộ luật Dân sự 2015 và luật Đất đai 2013 .............................................. 66
3.2Các yếu tố về phƣơng diện bồi dƣỡng nghiệp vụ .................................. 67
3.3 Các yếu tố thuộc về phƣơng diện ngƣời tham gia tố tụng giải quyết
các vụ tranh chấp về quyền sử dụng đất. .................................................... 69
3.4 Các yếu tố thuộc về phƣơng diện hƣớng dẫn thi hành pháp luật ...... 69
3.5 Về phƣơng diện hƣớng dẫn thi hành pháp luật ................................... 70
KẾT LUẬN CHƢƠNG 3 .............................................................................. 74
KẾT LUẬN .................................................................................................... 75
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Đất đai là tư liệu sản xuất chủ yếu của một quốc gia, là tài sản có giá trị
lớn đối với cá nhân, hộ gia đình, cho nên Nhà nước ta đã ban hành hệ thống
văn bản về đất đai làm cơ sở pháp lý bảo vệ quyền sở hữu về quyền sử dụng
đất của cá nhân, pháp nhân.
Trong cơ chế thị trường, đất đai và quyền sử dụng đất là hàng hóa được
lưu thông thường xuyên và dễ dàng, cho nên giá trị của QSDĐ ngày càng tăng
cao theo nhu cầu của thị trường, vì vậy tranh chấp về chuyển nhượng quyền
sử dụng đất nói chung và tranh chấp chuyển nhượng quyền sử dụng đất nói
riêng nước ta hiện nay đã và đang là vấn đề phức tạp, ảnh hưởng đến sự phát
triển kinh tế đất nước và ổn định xã hội
quyền sử dụng đất là hình thức phổ biến hơn cả. Luật đất đai xác định người
sử dụng hợp pháp, không có tranh chấp và có đủ điều kiện theo qui định của
pháp luật thì có quyền chuyển nhượng quyền sử dụng đất của mình cho người
khác. Như vậy, người sử dụng đất hợp pháp vừa có quyền khai thác, sử dụng
đất còn có thể chuyển quyền sử dụng đất cho người khác để thu về một khoản
tiền tương ứng với giá trị của nó, đất đai trở thành một tài sản có giá và quyền
sử dụng đất tham gia vào thị trường giao dịch bất động sản.
Tuy nhiên, trên thực tế việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất diễn ra
trên thị trường giao dịch vẫn còn rất nhiều vấn đề phức tạp phát sinh xuất phát
từ nhiều lý do khác nhau như từ sự kém hiểu biết về pháp luật hoặc từ lý do
khác như lừa đảo…dẫn đến tình trạng chuyển nhượng quyền sử dụng đất trái
pháp luật vẫn thường xuyên diễn ra, quyền lợi hợp pháp của chủ thể tham gia
giao dịch vẫn chưa được bảo vệ. Vì lẽ đó, việc nghiên cứu và tìm hiểu các qui
định của pháp luật về vấn đề chuyển nhượng quyền sử dụng đất và thực tiễn
áp dụng các qui định đó vào thực tế là một vấn đề rất quan trọng và cần thiết,
sự hiểu biết và nhận thức đúng đắn về các qui định của pháp luật giúp cho các
3
chủ thể tham gia giao dịch tự bảo vệ quyền lợi của mình một cách tốt nhất,
đồng thời việc nghiên cứu thực tiễn áp dụng giúp chúng ta dễ dàng phát hiện
ra những hành vi vi phạm pháp luật để kịp thời xử lý cũng như những bất cập,
hạn chế trong các qui định của pháp luật để từ đó hoàn thiện hơn nữa các văn
bản pháp luật.
Trong thời gian vừa qua, thị trường bất động sản của nước ta hoạt động rất sôi
nổi và tích cực. Đặc biệt là các thành phố lớn như Hà Nội, tp Hồ Chí Minh và
các thành phố khác như thành phố Sơn La…,các thành phố này đã và đang có
những thay đổi mạnh mẽ về mọi mặt nhất là sự phát triển về cơ sở hạ tầng,
việc mở rộng toàn diện thành phố đã làm cho thị trường giao dịch bất động
nguyên nhân dẫn đến những bất cập và đưa ra các kiến nghị sửa đổi một số
qui định của pháp luật về chuyển quyền sử dụng đất và một số giải pháp có
tính khả thi nhằm giải quyết những thực trạng đang tồn tại đó, để nâng cao
hiệu quả giải quyết tranh chấp về chuyển quyền sử dụng đất tại huyện Quỳnh
Nhai, tỉnh Sơn La nói riêng, của nước ta nói chung.
* Nhiệm vụ luận văn:
Để thực hiện được các mục đích nêu trên luận văn có các nhiệm vụ cụ
thể sau:
+ Nghiên cứu một số vấn đề lý luận cơ bản về chuyển nhượng quyền sử
dụng đất để làm cơ sở để đánh giá thực trạng giải quyết tranh chấp về chuyển
nhượng quyền sử dụng đất tại huyện Quỳnh Nhai, tỉnh Sơn La.
+ Đánh giá kết quả đạt được, những ưu điểm, hạn chế của hoạt động
chuyển nhượng quyền sử dụng đất tại huyện Quỳnh Nhai, tỉnh Sơn La và
những nguyên nhân còn tồn tại trong hoạt động này.
+ Nêu lên các quan điểm, yêu cầu và đề xuất các giải pháp cụ thể nhằm
hoàn thiện hơn nữa các qui định của pháp luật về chuyển quyền sử dụng đất,
các giải pháp nâng cao chất lượng giải quyết tranh chấp về chuyển nhượng
quyền sử dụng đất tại tòa án
6
5. Cơ sở lý luận và phƣơng pháp nghiên cứu
* Cơ sở lý luận
Luận văn được nghiên cứu trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về
Nhà nước và pháp luật, trong đó có vấn đề chuyển nhượng quyền sử dụng đất
theo qui định của pháp luật.
* Phƣơng pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng phương pháp nghiên cứu của triết học Mác – Lênin
về duy vật biện chứng, duy vật lịch sử, phương pháp lịch sử và lôgic; phương
nhượng quyền sử dụng đất tại tòa án nhân dân huyện Quỳnh Nhai và hoàn
thiện pháp luật về chuyển nhượng quyền sử dụng đất.
8
Chƣơng 1. NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CHUYỂN NHƢỢNG
QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT
1.1 Khái niệm quyền sử dụng đất
Với tư cách là đại diện chủ sở hữu về đất đai, Nhà nước có đầy đủ các
quyền chiếm hữu, sử dụng và định đoạt đất đai; trong các quyền năng đó
quyền sử dụng là có ý nghĩa thực tế lớn nhất, trực tiếp đem lại lợi ích cho chủ
sở hữu. Nhưng Nhà nước không phải là chủ thể trực tiếp sử dụng đất mà gián
tiếp sử dụng thông qua các tổ chức, cá nhân trong xã hội bằng cách giao đất,
cho thuê đất và công nhận quyền sử dụng đất cho những người sử dụng đất
trực tiếp. Các tổ chức cá nhân không phải là chủ sở hữu đất nói chung và đất
nói riêng, nhưng được Nhà nước giao đất và trao cho quyền sử dụng đất . Đây
là một quyền năng đặc biệt không giống với quyền sử dụng của bất kỳ một tài
sản nào khác. Đất thuộc sở hữu toàn dân, quyền sử dụng đất thuộc về người
sử dụng đất. Hay nói cách khác, quyền sử dụng đất đã tách khỏi quyền sở
hữu, được chủ sở hữu chuyển cho người sử dụng thực hiện và trở thành một
loại quyền về tài sản thuộc sở hữu của người sử dụng đất. Người sử dụng đất
không chỉ được khai thác các lợi ích từ đất một cách ổn định lâu dài mà họ
còn được quyền chuyển quyền sử dụng, thực hiện và giao dịch dân sự và kinh
tế về quyền sử dụng đất, được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Có thể
nói Nhà nước đã "trao" cho người sử dụng đất "quyền định đoạt số phận pháp
lý của thửa đất sử dụng trong khuôn khổ pháp luật quy định”, nhờ đó người
sử dụng đất ngoài việc khai thác sử dụng đất của mình còn có thể chủ động
thực hiện chuyển quyền sử dụng đất đó cho người khác khi không có nhu cầu
hoặc điều kiện sử dụng. Nhà nước đã trao cho người sử dụng đất nhiều quyền
hữu. Thứ hai, không phải người nào cứ có quyền sử dụng đất hợp pháp là có
đủ 8 quyền của người sử dụng đất. Luật đất đai 2013 có sự phân biệt giữa các
chủ thể sử dụng đất. Chẳng hạn, tổ chức kinh tế được Nhà nước cho thuê đất
theo hình thức trả tiền thuê đất hàng năm chỉ có quyền bán, thế chấp, bảo
10
lãnh, góp vốn bằng tài sản thuộc sở hữu của mình gắn liền với đất thuê mà
không được thực hiện các quyền chuyển nhượng, thế chấp, bảo lãnh, góp vốn
bằng quyền sử dụng đất thuê...
- Quyền sở hữu đất đai là một loại quyền tồn tại độc lập còn quyền sử
dụng đất lại là quyền phụ thuộc. Tính phụ thuộc chỗ người sử dụng đất chỉ
được sử dụng đất trong phạm vi Nhà nước cho phép, định trước (không được
tuỳ tiện thay đổi mục đích sử dụng, chuyển đổi theo quy định của pháp luật,
không được hủy hoại đất....).
Theo quy định của Bộ luật dân sự thì "quyền sử dụng là quyền khai
thác công dụng hưởng hoa lợi, lợi tức từ tài sản" . Người không phải là chủ sở
hữu cũng có quyền sử dụng tài sản trong các trường hợp được chủ sở hữu
chuyển giao quyền sử dụng hoặc do pháp luật quy định.
Theo PGS.TS Phạm Hữu Nghị: "Quyền sử dụng đất là một bộ phận
cấu thành của quyền sở hữu đất. Thông qua việc được độc lập quyền giao đất,
cho thuê đất, Nhà nước trao cho người sử dụng đất thực hiện trong thời hạn
thuê đất nhận giao đất những quyền và nghĩa vụ nhất định"[24 1]. Dưới góc độ
kinh tế thì quyền sử dụng đất là một quyền dân sự, theo đó người sử dụng đất
được quyền khai thác công dụng, các thuộc tính có lợi ích từ đất nhằm mang
lại lợi ích cho mình. Dưới góc độ pháp lý thì quyền sử dụng đất là một quyền
năng mà Nhà nước trao cho người sử dụng đất được hưng đối với khối tài sản
chung này, nhằm mang lại lợi ích cho bản thân và cho xã hội.
Quyền sử dụng đất cũng phải được hiểu là người sử dụng đất bên cạnh
cách quy định, mở rộng quyền cho người sử dụng đất. Cho phép họ tiến gần
hơn với quyền "định đoạt" đất dưới sự kiểm soát của Nhà nước.
Luật Đất đai hiện hành vẫn chưa có định nghĩa cho khái niệm quyền sử
dụng đất. có thể đưa ra định nghĩa về quyền sử dụng đất như sau: “Quyền sử
dụng đất là quyền tài sản của người sử dụng đất, nó bao gồm hệ thống các
quyền của người sử dụng đất, cho phép người sử dụng đất có thể tiếp cận,
nắm giữ, khai thác năng lực sinh lợi của đất trong thời hạn sử dụng đất, tương
ứng với phần diện diện tích đất và hình thức Nhà nước trao quyền sử dụng đất
cho các chủ thể ".
12
1.2 Khái niệm chuyển nhƣợng quyền sử dụng đất
Luật đất đai năm 1993 lần đầu tiên ghi nhận người sử dụng đất được
phép chuyển nhượng QSDĐ nói chung và đất nói riêng. Với sự ghi nhận này
của pháp luật, bên cạnh việc hưởng những thành quả lao động, kết quả đầu tư
trên đất người sử dụng đất được chuyển nhượng QSDĐ ấy cho người khác,
làm tăng giá trị và phản ánh đúng giá trị của đất. Việc Nhà nước quy định cho
phép người sử dụng đất có quyền chuyển nhượng không làm mất đi hay ảnh
hưởng đến quyền sử dụng toàn dân về đất. Bởi lẽ, đối tượng dịch chuyển trên
thị trường là QSDĐ, dẫu ai sử dụng thì Nhà nước vẫn có quyền quản lý và
định đoạt. Nhà nước chỉ tham gia với tư cách là người quản lý để chứng nhận,
cho phép việc thực hiện chuyển nhượng sử dụng đất diễn ra trong vòng trật tự
do pháp luật quy định. Đồng thời Nhà nước đóng vai trò như trọng tài khi có
phát sinh tranh chấp giữa các bên hoặc khi có vi phạm pháp luật.
Quyền chuyển nhượng QSDĐ được pháp luật tiếp tục thừa nhận và ghi
nhận Luật đất đai 2003 và nay là Luật Đất đai 2013 song song với các quyền
khác của người sử dụng đất: “người sử dụng đất có quyền chuyển đổi, chuyển
nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho, thế chấp, góp vốn QSDĐ ”
Chuyển nhượng QSDĐ là một quyền cơ bản của người sử dụng đất, là
một hình thức của chuyển QSDĐ. Theo đó, người sử dụng đất (gọi là bên
chuyển QSDĐ) thỏa thuận việc chuyển giao QSDĐ cho người được chuyển
nhượng (gọi là bên nhận QSDĐ) và người đó phải trả cho bên chuyển QSDĐ
một khoản tiền tương ứng với giá trị QSDĐ. Người chuyển nhượng QSDĐ có
nghĩa vụ nộp thuế thu nhập từ việc chuyển QSDĐ [9, tr.248].
Trong quan hệ chuyển nhượng, người sử dụng đất chuyển nhượng
QSDĐ của mình cho người khác để thu về một lợi ích vật chất có giá trị là
tiền. Thông qua đó mà tìm cho đất những người chủ đích thực, khai thác đất
có hiệu quả và đúng chức năng của nó. Điều này phù hợp với quy luật mang
14
tính tất yếu khách quan của nền kinh tế thị trường về những giao dịch đối với
một tài sản có giá trị.
Như vậy, Chuyển nhượng QSDĐ là một loại giao dịch dân sự nhằm
thực hiện việc chuyển QSDĐ từ chủ thể này sang chủ thể khác. Trong giao
dịch này người được nhận QSDĐ có quyền khai thác các lợi ích từ đất và họ
phải bù đắp cho người đã chuyển nhượng cho mình một khoản tiền nhất định
tương ứng với giá trị QSDĐ đó. Chuyển nhượng QSDĐ phải tuân theo các
quy định của Pháp luật Dân sự và Luật Đất đai về điều kiện, nội dung, hình
thức mới có giá trị pháp lý và được pháp luật bảo vệ.
Vậy Chuyển quyền sử dụng đất là việc chuyển giao quyền sử dụng đất
từ người này sang người khác thông qua các hình thức chuyển đổi, chuyển
nhượng, thừa kế, tặng cho quyền sử dụng đất và góp vốn bằng quyền sử dụng
đất.
1.3 Đặc điểm chuyển nhƣợng quyền sử dụng đất
- Thứ nhất, Chuyển quyền sử dụng đất là chuyển các quyền của người
sử dụng đất cho người nhận chuyển quyền sử dụng đất theo thỏa thuận hoặc
chuyển giao đất và quyền sử dụng đất cho người được chuyển nhượng, còn
người được chuyển nhượng trả tiền cho người chuyển nhượng.
* Cho thuê quyền sử dụng đất
Là hình thức chuyển quyền sử dụng đất có thời hạn trong đó bên cho
thuê chuyển giao đất cho bên thuê để sử dụng trong một thời hạn, còn bên
thuê phải sử dụng đất đúng mục đích, trả tiền thuê và trả lại đất khi hết thời
hạn thuê.
* Thế chấp quyền sử dụng đất
Là hình thức chuyển quyền sử dụng đất không đầy đủ, trong đó bên thế
chấp dùng quyền sử dụng đất để bảo đảm việc thực hiện nghĩa vụ dân sự.
Bên thế chấp được tiếp tục sử dụng đất trong thời hạn thế chấp. Thông
thường việc thế chấp đất đô thị thường đi liền với thế chấp về nhà hoặc thế
chấp về nhà nhưng thực chất là thế chấp cả về đất .
* Thừa kế quyền sử dụng đất
16
Là việc chuyển quyền sử dụng đất của người chết sang người thừa kế
theo di chúc hoặc theo pháp luật phù hợp với quy định của bộ luật dân sự và
pháp luật về đất đai.
1. 5 Những điều kiện pháp lý liên quan đến chuyển quyền sử dụng
đất
* Những điều kiện được chuyển quyền sử dụng đất
+ Có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và các loại giấy tờ hợp lệ
khác được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp theo quy định của pháp luật
về đất đai.
+ Trong thời hạn còn được quyền sử dụng đất và chỉ được chuyển
quyền sử dụng đất trong thời hạn được chuyển quyền sử dụng còn lại.
+ Tuân thủ các quy định của bộ luật dân sự và luật đất đai; đất chuyển
(a) Có giấy chứng nhận: Theo Luật Đất đai năm 2013, người có quyền sử
dụng đất, quyền sở hữu nhà ở, quyền sở hữu công trình xây dựng, quyền sở
hữu tài sản khác gắn liền với đất đều được cấp một loại giấy chứng nhận là
“Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn
liền với đất” nhưng với nội dung thông tin khác nhau tùy thuộc vào phạm vi
quyền của họ. Tuy nhiên, các loại giấy chứng nhận đã được cấp theo quy định
của pháp luật về đất đai, pháp luật về nhà ở, pháp luật về xây dựng trước ngày
10/12/2009 vẫn có giá trị pháp lý và không phải đổi sang “Giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất”[12].
Các loại giấy chứng nhận này là chứng thư pháp lý để Nhà nước xác nhận
quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở, tài sản khác gắn liền với đất hợp pháp
của người có quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và quyền sở hữu tài sản
khác gắn liền với đất. Ngoài ra, người thừa kế nhận thừa kế quyền sử dụng đất
vẫn được phép chuyển nhượng quyền sử dụng đối với đất được thừa kế dù
chưa có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản
2
Nghị định 88/2009/NĐ – CP ngày 19/10/2009 về cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu
nhà ở và tài sản gắn liền với đất
18
khác gắn liền với đất, nhưng đã có đủ điều kiện để cấp giấy chứng nhận đó.
Đối với trường hợp tất cả người nhận thừa kế quyền sử dụng đất, quyền sở
hữu nhà ở, tài sản khác gắn liền với đất đều là người nước ngoài hoặc người
Việt Nam định cư ở nước ngoài không thuộc đối tượng được mua nhà ở gắn
liền với quyền sử dụng đất ở tại Việt Nam, thì người nhận thừa kế không
được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản
khác gắn liền với đất nhưng được chuyển nhượng quyền sử dụng đất thừa kế.
quan hệ đất đai”. Nội dung tranh chấp trong tranh chấp về chuyển nhượng
quyền sử dụng đất là quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất, tuy nhiên,
“quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất” là một khái niệm quá rộng và sự
quy định thiếu tính cụ thể này đã dẫn đến tình trạng việc gì liên quan đến đất
đai đều được coi là tranh chấp đất đai. Hiện đã có nhiều định nghĩa về tranh
chấp đất đai, chẳng hạn: “Tranh chấp về chuyển nhượng quyền sử dụng đất là
sự bất đồng, mâu thuẫn hay xung đột về lợi ích, về quyền và nghĩa vụ giữa
các chủ thể khi tham gia vào quan hệ pháp luật đất đai”[23] hoặc “Tranh chấp
về chuyển nhượng quyền sử dụng đất là tranh chấp phát sinh giữa các chủ thể
tham gia quan hệ pháp luật đất đai về quyền và nghĩa vụ trong quá trình quản
lý và sử dụng đất”[34]. Tuy nhiên, các định nghĩa trên vẫn chưa chỉ ra nội hàm
bản chất của tranh chấp đất đai. Trên thực tế, có quá nhiều nguyên nhân dẫn
đến tranh chấp về chuyển nhượng quyền sử dụng đấtnhư: Tranh chấp ranh
giới, mốc giới, quyền địa dịch; quyền sử dụng đất, tranh chấp các giao dịch
chuyển quyền sử dụng đất với các thủ tục tranh chấp khác nhau, trong đó, nếu
tranh chấp về mốc giới, quyền địa dịch tuy cũng là một dạng tranh chấp về
chuyển nhượng quyền sử dụng đấtnhưng khi quyền sử dụng đất được chuyển
1.
3
Trường Đại học Luật Hà Nội (2008), Giáo trình Luật Dân sự Việt Nam, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội, Tr
455
2.
1.
4