ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
VŨ NGỌC HÀ
CHỨNG MINH TRONG GIAI ĐOẠN ĐIỀU TRA
VỤ ÁN HÌNH SỰ Chuyên ngành : Luật hình sự
Mã số : 60 38 40 LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Cán bộ hướng dẫn khoa học: PGS.TS. Hoàng Thị Minh Sơn
Hà Nội – 2013
1.1.2. Đặc điểm của hoạt động chứng minh trong giai đoạn điều tra 14
1.2. Nội dung hoạt động chứng minh trong giai đoạn điều tra 17
1.2.1. Thu thập chứng cứ 17
1.2.2. Kiểm tra chứng cứ 22
1.2.3. Đánh giá chứng cứ 24
1.3. Ý nghĩa của hoạt động chứng minh trong giai đoạn điều tra 27
Kết luận chương 1 31
Chƣơng 2: NHỮNG QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT TỐ TỤNG
HÌNH SỰ LIÊN QUAN ĐẾN HOẠT ĐỘNG CHỨNG MINH TRONG
GIAI ĐOẠN ĐIỀU TRA 32
2.1. Quy định của pháp luật tố tụng hình hình sự về đối tượng với giới hạn
chứng minh 32
2.1.1. Quy định của pháp luật tố tụng hình sự về đối tượng chứng minh 32
2.1.2. Quy định của pháp luật tố tụng hình sự về giới hạn chứng minh 37
2.2. Quy định của pháp luật tố tụng hình hình sự về nghĩa vụ chứng minh 40
2.3. Quy định của pháp luật tố tụng hình hình sự về thu thập và đánh giá
chứng cứ 46
2.3.1. Quy định của pháp luật tố tụng hình hình sự về thu thập chứng cứ 46
2.3.2. Quy định của pháp luật tố tụng hình hình sự về đánh giá chứng cứ 53
2.4. Quy định của pháp luật tố tụng hình hình sự về nguồn chứng cứ 57
Kết luận chương 2 64
Chƣơng 3: THỰC TRẠNG VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO
HIỆU QUẢ CỦA HOẠT ĐỘNG CHỨNG MINH TRONG GIAI ĐOẠN
ĐIỀU TRA 65
3.1. Thực tiễn thi hành quy định của pháp luật tố tụng hình sự liên quan đến
hoạt động chứng minh trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự 65
3.1.1. Những kết quả đạt được 65
3.1.2. Những hạn chế 71
3.1.3. Nguyên nhân 78
3.1.3.1. Nguyên nhân từ hệ thống pháp luật tố tụng hình sự hiện hành 78
Tiến hành tố tụng
THTT
Tòa án
TA
Tòa án nhân dân
TAND
Viện kiểm sát
VKS
Viện kiểm sát nhân dân
VKSND
Vụ án hình sự
VAHS
DANH MỤC CÁC ĐỒ THỊ
Đồ thị số 3.1: Số vụ án thụ lý, xét xử theo thủ tục sơ thẩm từ năm 2007 - 2012
67
Đồ thị số 3.2: TA sơ thẩm tuyên vô tội từ năm 2007 - 2012 70
Đồ thị số 3.3: VKS trả hồ sơ cho CQĐT, TA trả hồ sơ cho VKS để điều tra bổ
sung từ năm 2007-2012 73
Đồ thị số 3.4: VKS đình chỉ vụ án từ năm 2007-2012 75 1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Đấu tranh phòng và chống tội phạm là một vấn đề quan trọng trong xã
hội. Mục đích của việc đấu tranh phòng và chống tội phạm chính là mục đích
của tố tụng hình sự, là “chủ động phòng ngừa, ngăn chặn tội phạm, phát hiện
chính xác, nhanh chóng và xử lý công minh, kịp thời mọi hành vi phạm tội,
không để lọt tội phạm, không làm oan người vô tội” [36]. Do đó, chứng minh
thể đưa vụ án ra xét xử mà phải trả hồ sơ yêu cầu điều tra bổ sung. Do đó,
chứng minh trong giai đoạn điều tra VAHS càng thể hiện rõ vị trí, vai trò và
tầm quan trọng.
Tuy nhiên, vấn đề nghiên cứu làm rõ cơ sở lý luận để áp dụng quy định
của pháp luật về quá trình chứng minh trong giai đoạn điều tra VAHS ít được
quan tâm nghiên cứu - một trong những giai đoạn quan trọng làm sáng tỏ nội
dung của vụ án. Bên cạnh đó, trong thực tiễn vẫn còn nhiều vụ án mà CQĐT,
VKS, TA giải quyết chưa được triệt để, quá trình chứng minh xác định sự thật
vụ án còn có nhiều sai sót. Từ đó cho thấy, việc nhận thức và áp dụng pháp
luật về chứng minh nói chung và chứng minh trong giai đoạn điều tra VAHS
của một số chủ thể THTT chưa được triệt để, đầy đủ, khách quan.
Vì vậy, việc nghiên cứu quá trình chứng minh trong giai đoạn điều tra
VAHS là một nội dung hết sức quan trọng, có ý nghĩa to lớn cả về mặt khoa
học và thực tiễn. Trong phạm vi đề tài luận văn này, tác giả đã chọn đề tài
"Chứng minh trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự" làm luận án thạc sĩ
luật học. Đây là một khía cạnh của quá trình giải quyết VAHS mà tác giả thấy
rất quan trọng trong các vấn đề đã đề cập trên.
3
2. Tình hình nghiên cứu
Chứng minh trong giai đoạn điều tra VAHS là một đề tài không rộng
nhưng phức tạp, còn tồn tại nhiều cả về lý luận và thực tiễn cần được nghiên
cứu làm rõ. Trong những năm qua, đã có nhiều công trình khoa học nghiên
cứu về vấn đề chứng cứ và chứng minh trong tố tụng hình sự ở những mức độ
và phạm vi khác nhau. Luận án Tiến sĩ Luật học “Thu thập, đánh giá và sử
dụng chứng cứ trong điều tra vụ án hình sự ở Việt Nam hiện nay” của tác giả
Đỗ Văn Đương năm 2000 - Luận văn này được hoàn thiện trước khi ban hành
BLTTHS năm 2003. Đề tài nghiên cứu khoa học cấp trường Đại học luật Hà
Nội năm 2003: “Chứng cứ và chứng minh trong tố tụng hình sự - Một số vấn
đề lý luận và thực tiễn” (Chủ nhiệm đề tài: Th.S. Bùi Kiên Điện); Luận văn
còn chưa được nghiên cứu hoặc dù đã đề cập nhưng vẫn cần có sự nghiên cứu
về quá trình chứng minh trong điều tra VAHS. Từ tình hình nghiên cứu trên
đây, lần nữa khẳng định việc nghiên cứu đề tài "Chứng minh trong giai đoạn
điều tra vụ án hình sự" là đòi hỏi khách quan, cấp thiết, vừa có tính lý luận,
vừa có tính thực tiễn.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của đề tài: Trên cơ sở nghiên cứu một số vấn đề
lý luận, những quy định của pháp luật tố tụng hình sự liên quan đến hoạt động
chứng minh trong giai đoạn điều tra và thực tiễn của hoạt động chứng minh
trong giai đoạn điều tra VAHS, luận văn đưa ra những kiến nghị và giải pháp
nhằm nâng cao hiệu quả của việc thực hiện các quy định pháp luật liên quan
đến hoạt động chứng minh trong giai đoạn điều tra VAHS và nâng cao hiệu
quả của hoạt động này trong thực tế.
5
Nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài: Với mục đích đó, nhiệm vụ của luận
văn cần phải giải quyết:
- Làm rõ khái niệm, đặc điểm, nội dung, ý nghĩa của hoạt động chứng
minh trong giai đoạn điều tra.
- Phân tích, đánh giá các quy định của pháp luật tố tụng hình sự về hoạt
động chứng minh trong giai đoạn điều tra.
- Phân tích thực tiễn thực hiện các quy định của pháp luật tố tụng hình
sự Việt Nam liên quan đến hoạt động chứng minh trong giai đoạn điều tra:
những kết quả đã đạt được, những bất cập và nguyên nhân tồn tại những bất
cập đó.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài: là một số vấn đề lý luận của hoạt
động chứng minh trong giai đoạn điều tra VAHS nói chung, pháp luật tố tụng
hình sự Việt Nam hoạt động này nói riêng; thực tiễn áp dụng của hoạt động
chứng minh trong giai đoạn điều tra VAHS ở Việt Nam.
- Luận văn đã khái quát, phân tích và làm rõ nội dung của hoạt động
chứng minh trong giai đoạn điều tra theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam,
đặc biệt là luận giải sâu sắc các vấn đề về đối tượng chứng minh, nghĩa vụ
chứng minh, chủ thể chứng minh và các giai đoạn của quá trình chứng minh;
Tiếp cận vấn đề dưới góc độ so sánh luật ở mức độ nhất định.
- Phân tích, đánh giá một cách tương đối toàn diện, đầy đủ về thực
trạng hoạt động chứng minh trên cả phương diện lập pháp và thực thi pháp
7
luật; Đề xuất giải pháp cụ thể góp phần hoàn thiện quy định của pháp luật tố
tụng hình sự Việt Nam liên quan đến chứng minh trong tố tụng hình sự.
Vì vậy, luận án có ý nghĩa về lý luận và thực tiễn. Trước hết, đây là
một công trình chuyên khảo trong khoa học pháp lý nước ta nghiên cứu một
cách đầy đủ, toàn diện và có hệ thống về hoạt động chứng minh trong điều tra
VAHS ở nước ta hiện nay, góp phần phát triển lý luận về hoạt động chứng
minh trong điều tra VAHS. Kết quả nghiên cứu của luận văn có thể được khai
thác sử dụng trong công tác nghiên cứu của các cơ sở đào tạo chuyên ngành
luật, các cơ quan bảo vệ pháp luật, đặc biệt là các cơ quan THTT… Những
người THTT và những người tham gia tố tụng có thể nghiên cứu để khai thác
nhằm áp dụng pháp luật vào quá trình công tác thực tiễn, nâng cao chất lượng
hiệu quả trong công tác.
7. Kết cấu của luận văn
Luận văn được kết cấu gồm 3 chương và 9 mục với nội dung cụ thể
như sau:
Chương 1: Một số vấn đề chung về hoạt động chứng minh trong gia
đoạn điều tra.
Chương 2: Những quy định của pháp luật tố tụng hình sự liên quan đến
hoạt động chứng minh trong giai đoạn điều tra.
Chương 3: Thực tiễn và một số giải pháp nâng cao hiệu quả của hoạt
động chứng minh trong giai đoạn điều tra.
9
những dấu vết trong thế giới khách quan, được con người và môi trường vật
chất phản ánh lại. Quá trình chứng minh VAHS thực chất là quá trình con
người nhận thức về sự kiện phạm tội đã xảy ra thông qua việc thu thập, kiểm
tra, đánh giá những thông tin về vụ án. Quá trình chứng minh là quá trình xác
định sự thật khách quan đối với VAHS, là quá trình nhận thức đi từ cái chưa
biết đến biết, một quá trình tuân theo các quy luật của phép biện chứng duy
vật. Quá trình này là một quá trình nhận thức chân lý, một quá trình phản ánh
biện chứng các sự vật và hiện tượng của thế giới vật chất vào trong ý thức con
người, trên cơ sở thực tiễn.
Trong khoa học pháp lý đang tồn tại khá nhiều quan điểm khác nhau
xung quanh khái niệm chứng minh trong tố tụng hình sự. Xét về bản chất, quá
trình này tuân thủ các quy luật chung của quá trình nhận thức khách quan theo
quan điểm Mác-xít. Theo tác giả, khái niệm chứng minh trong tố tụng hình sự
phải đảm bảo đầy đủ các yếu tố của quá trình chứng minh như chủ thể chứng
minh, đối tượng chứng minh, phương tiện chứng minh và cơ sở pháp lý để
tiến hành các hoạt động chứng minh… Từ đó, quá trình chứng minh trong tố
tụng hình sự có thể hiểu là “quá trình tư duy và thực tiễn của CQĐT, VKS,
TA và những người có quyền chứng minh dựa trên cơ sở những quy định của
pháp luật tố tụng hình sự để thu thập, kiểm tra và đánh giá các thông tin, tài
liệu cần thiết nhằm xác định sự thật khách quan của vụ án đảm bảo cho việc
giải quyết đúng đắn, khách quan vụ án” [31,tr.183]. Quá trình chứng minh
trong VAHS là một quá trình nhận thức khách quan, được thực hiện bằng các
hoạt động trong giai đoạn điều tra, truy tố, xét xử. Các hoạt động này đều thực
hiện dưới hình thức tố tụng hình sự khác nhau, được quy định trong các văn
bản pháp luật khác nhau như: Pháp lệnh Tổ chức điều tra hình sự, Luật tổ
chức VKSND, Luật Tổ chức TAND. Thực chất và mục đích của quá trình
chứng minh trong VAHS của các cơ quan THTT là thu thập, sử dụng chứng
một số nguyên tắc nhất định: Nguyên tắc đảm bảo pháp chế; Nguyên tắc
không ai bị coi là có tội khi chưa có bản án kết tội của TA đã có hiệu lực pháp
luật; Nguyên tắc xác định sự thật của vụ án; Nguyên tắc đảm bảo quyền bào
chữa của người bị tạm giam, bị can, bị cáo; Nguyên tắc đảm bảo tính vô tư
của người tiến hành hoặc người tham gia tố tụng…
Trên cơ sở những quy định của pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam và
các văn bản pháp luật khác về điều tra, truy tố, xét xử và thực tiễn xét xử có
thể hiện: Quá trình chứng minh trong VAHS là quá trình mà các cơ quan
THTT, người THTT thực hiện hoạt động nhận thức chân lý về VAHS. Việc
nhận thức về VAHS là việc phản ánh một cách khách quan toàn bộ diễn biến
về vụ án, hay nói cách khác là tái dựng lại được một bức tranh toàn cảnh,
chính xác về VAHS đã xảy ra. Để đạt được điều này, các chủ thể THTT phải
thực hiện các biện pháp do pháp luật tố tụng hình sự quy định, làm sáng tỏ tất
cả mọi vấn đề có trong VAHS. Việc nghiên cứu các sự kiện, tình tiết của vụ
án được tiến hành dựa trên cơ sở “chứng cứ là những gì có thật, được thu thập
theo trình tự do bộ luật này quy định, mà CQĐT, VKS và TA dùng làm căn
cứ xác định có hay không có hành vi phạm tội, người thực hiện hành vi phạm
tội, cũng như những tình tiết khác cần thiết cho việc giải quyết đúng đắn vụ
án” [36].
Quá trình chứng minh trong VAHS chủ yếu thể hiện ở các giai đoạn
điều tra, truy tố, xét xử VAHS, trong đó các cơ quan THTT áp dụng mọi biện
pháp để thu thập chứng cứ, đánh giá và sử dụng chứng cứ nhằm xác định sự
thật của vụ án một cách khách quan, toàn diện và đầy đủ. Quá trình giải quyết
VAHS trải qua nhiều giai đoạn tố tụng hình sự khác nhau. Mục đích chung
của hoạt động chứng minh trong mọi giai đoạn tố tụng là xác định sự thật
khách quan của vụ án. Mỗi giai đoạn có chủ thể, nhiệm vụ, hành vi tố tụng,
văn bản tố tụng khác nhau khiến cho hoạt động chứng minh ở từng giai đoạn
12
tố tụng có những đặc trưng riêng biệt. Trong đó, điều tra VAHS là một giai
Cũng như các giai đoạn khác của quá trình tố tụng hình sự, hoạt động
chứng minh ở giai đoạn điều tra được hiểu là hoạt động nhận thức về sự kiện
phạm tội đã xảy ra trong quá khứ thông qua việc nghiên cứu những thông tin
về sự kiện đó được để lại trong thế giới vật chất và ý thức của những người
biết về sự kiện đó. Chính từ giai đoạn chứng minh này, giá trị chứng minh các
thông tin được khẳng định là cơ sở cho việc giải quyết vụ án được hình thành,
đầy đủ. Giai đoạn điều tra là giai đoạn mở đầu của quá trình tố tụng hình sự.
Vì vậy, hoạt động chứng minh trong VAHS ở giai đoạn này có vị trí và vai trò
quan trọng ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng và hiệu quả của VKS và TA ở
các giai đoạn tiếp theo là truy tố, xét xử. Hoạt động chứng minh trong giai
đoạn điều tra VAHS ở các cấp góp phần rất quan trọng trong cuộc đấu tranh
phòng và chống tội phạm. Đây cũng là tiền đề tạo điều kiện thuận lợi cho
VKS và TA ở nước ta hàng năm xử lý một số lượng rất lớn các VAHS đảm
bảo đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Từ những phân tích trên, có thể rút ra khái niệm về hoạt động chứng
minh trong giai đoạn điều tra VAHS như sau: Hoạt động chứng minh trong
giai đoạn điều tra VAHS là hoạt động của những chủ thể THTT ở giai
đoạn điều tra được pháp luật quy định để thu thập, kiểm tra, đánh giá
chứng cứ nhằm làm sáng tỏ sự thật của vụ án một cách khách quan, toàn
diện và đầy đủ, đảm bảo cơ sở cần thiết cho việc ban hành các quyết định tố
tụng phù hợp góp phần giải quyết đúng đắn VAHS theo trình tự, thủ tục
của pháp luật tố tụng hình sự.
Khái niệm này đã chỉ ra những đặc điểm thuộc về bản chất của hoạt
động chứng minh trong giai đoạn điều tra VAHS như chủ thể chứng minh,
14
phương tiện chứng minh, thủ tục chứng minh, mục đích chứng minh và các
nội dung của hoạt động chứng minh.
1.1.2. Đặc điểm của hoạt động chứng minh trong giai đoạn điều tra
Xuất phát từ nhiệm vụ các giai đoạn tố tụng cũng như địa vị pháp lý,
lần mỗi lần không quá bốn tháng.
Thứ ba: Các phương tiện điều tra. Các CQĐT có thể sử dụng trong quá
trình chứng minh tội phạm ở giai đoạn này là các phương tiện kỹ thuật hình
sự và các thủ thuật, chiến thuật hình sự cụ thể. Các phương tiện, chiến thuật
này thường được giới hạn bởi khoa học điều tra hình sự. Việc sử dụng các
phương tiện kỹ thuật hình sự trong quá trình chứng minh tội phạm ở giai đoạn
điều tra luôn phải phù hợp với pháp luật tố tụng hình sự, không được vi phạm
pháp luật, xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp của công dân và phải đáp ứng
các yêu cầu về đạo đức nghề nghiệp của hoạt động điều tra. Chứng cứ là
phương tiện duy nhất được cơ quan THTT sử dụng để chứng minh trong tố
tụng hình sự. Về bản chất, chứng cứ chính là những thông tin phản ánh sự
kiện phạm tội, những thông tin này được chứa đựng dưới những hình thức
khác nhau khoa học luật tố tụng hình sự gọi là nguồn chứng cứ. Bằng các
phương tiện điều tra do pháp luật quy định, Điều tra viên và những người theo
luật định tiến hành nhằm thu thập, kiểm tra, đánh giá chứng cứ theo trình tự
của luật tố tụng hình sự có ý nghĩa đối với hoạt động điều tra và phòng ngừa
tội phạm, phù hợp cho quá trình chứng minh của mình, cũng như toàn bộ quá
trình giải quyết VAHS.
Thứ tư: Mục đích chứng minh. Quá trình chứng minh trong VAHS
được các chủ thể THTT thực hiện nhằm xác định chân lý khách quan của vụ
án. Quá trình chứng minh thực chất là quá trình nhận thức VAHS của các chủ
16
thể có trách nhiệm chứng minh. Do đó, mục đích của hoạt động chứng minh
trong giai đoạn điều tra VAHS là xác định sự thật của vụ án một cách khách
quan, toàn diện và đầy đủ để giải quyết đúng đắn VAHS, qua đó góp phần
thực hiện nhiệm vụ của pháp luật tố tụng hình sự là bảo vệ chế độ xã hội chủ
nghĩa, bảo vệ lợi ích nhà nước, bảo vệ quyền và lợi ích cơ bản của công dân
và tổ chức… Hoạt động chứng minh trong giai đoạn điều nhằm xác định có
tội phạm và bị can - người thực hiện hành vi phạm tội hay không để ban hành
giá chứng cứ nhằm đưa ra kết luận chính thức đầu tiên về VAHS thông qua
Bản kết luận điều tra.
1.2. Nội dung hoạt động chứng minh trong giai đoạn điều tra
Trong lý luận và thực tiễn tố tụng hình sự, quá trình chứng minh nói
chung, hoạt động chứng minh trong giai đoạn điều tra VAHS nói riêng được
hợp thành bởi các hoạt động thu thập chứng cứ, kiểm tra chứng cứ và đánh
giá chứng cứ.
1.2.1. Thu thập chứng cứ
Thu thập chứng cứ là hoạt động đầu tiên, có ý nghĩa quan trọng đối với
toàn bộ quá trình chứng minh tội phạm, cũng như trong giai đoạn điều tra
VAHS. Việc thu thập chứng cứ được pháp luật tố tụng hình sự quy định được
hiểu là thu thập nguồn chứng cứ hoặc thu thập ngay chính chứng cứ.
“Thu thập chứng cứ là việc cơ quan có thẩm quyền áp dụng các biện
pháp và phương pháp theo quy định của pháp luật để phát hiện, ghi nhận, thu
giữ và bảo quản các thông tin, tài liệu, đồ vật có liên quan đến vụ án phục vụ
cho việc giải quyết vụ án” [39]. Kết quả của giai đoạn này có ảnh hưởng lớn
đến chất lượng công tác giải quyết VAHS. Số lượng, chất lượng của các
18
chứng cứ được thu thập sẽ tạo điều kiện thuận lợi hoặc ngược lại, gây khó
khăn cho việc điều tra vụ án và toàn bộ quá trình giải quyết vụ án trong thực
tiễn. Các CQĐT, VKS cần phải tập trung, chú trọng đến giai đoạn này. Để
chứng minh, CQĐT, VKS phải thu thập, kiểm tra, đánh giá chứng cứ. Đặc
biệt, trong giai đoạn điều tra, Điều tra viên, Kiểm sát viên tập trung nhiều hơn
cho việc thu thập chứng cứ. Thiếu các chứng cứ quan trọng trong giai đoạn
điều tra là một trong những căn cứ để VKS, TA trả hồ sơ để điều tra bổ sung.
Vì vậy, muốn dựng lại bức tranh đầy đủ, toàn diện, chính xác về tội
phạm đã xảy ra để giải quyết VAHS thì các chủ thể THTT phải tiến hành hoạt
động chứng minh nhằm thu thập các thông tin, các sự kiện tồn tại trong thế
giới khách quan nhằm phản ánh chân lý khách quan của vụ án. Do đó, sau khi
pháp cho phù hợp, các biện pháp thu thập khác nhau phù hợp với đặc điểm
của từng loại nguồn chứng cứ. Các biện pháp thu thập chứng cứ trong tố tụng
hình sự bao gồm: Triệu tập để hỏi những người biết về vụ án; Tiến hành các
hoạt động điều tra khác như khám nghiệm hiện trường, khám xét, thực
nghiệm điều tra, nhận dạng, xem xét dấu vết trên cơ thể, trưng cầu giám
định…; Yêu cầu các cơ quan, tổ chức hoặc các nhân cung cấp tài liệu, trình
bày những tình tiết làm sáng tỏ nội dung vụ án; Tiếp nhận tài liệu, đồ vật,
thông tin liên quan đến vụ án do các cơ quan, tổ chức, cá nhân chủ động cung
cấp. Các dấu vết, đồ vật liên quan đến vụ án thường rất đa dạng do đặc điểm
hình sự của từng loại tội phạm khác nhau và hoàn cảnh cụ thể xảy ra đối với
từng vụ án khác nhau. Những đối tượng này có thể mang thông tin trực tiếp
hoặc chỉ có thể mang thông tin gián tiếp về các tình tiết cần chứng minh của
vụ án, nên quá trình phát hiện chứng cứ, đòi hỏi phải có trình độ pháp lý -
nghiệp vụ sâu sắc, nhất là tư duy lôgic, tổng hợp và phân tích.