Chế định miễn trách nhiệm hình sự trong luật hình sự - Pdf 25


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT

TRỊNH TIẾN VIỆT CHẾ ĐỊNH MIỄN TRÁCH NHIỆM HÌNH SỰ
TRONG LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

HÀ NỘI - 2004

HÀ NỘI - 2004
MỤC LỤC
Trang

MỞ ĐẦU
1

Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ MIỄN TRÁCH NHIỆM
HÌNH SỰ
9
1.1.
Khái niệm, các đặc điểm cơ bản của miễn trách nhiệm hình
sự và phân biệt nó với miễn hình phạt
9
1.2.
Lược khảo sự hình thành và phát triển của các quy phạm về
miễn trách nhiệm hình sự trong luật hình sự Việt Nam
22
1.3.
Chế định miễn trách nhiệm hình sự trong pháp luật hình sự một
số nước trên thế giới
33

Chương 2: NHỮNG TRƯỜNG HỢP MIỄN TRÁCH NHIỆM HÌNH


KẾT LUẬN
123

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
125

PHỤ LỤC
133

1
MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài
Trách nhiệm hình sự là một dạng của trách nhiệm pháp lý và được thể
hiện bằng việc người phạm tội bị áp dụng một hoặc nhiều các biện pháp
cưỡng chế hình sự khác nhau của Nhà nước do luật hình sự quy định. Tuy
nhiên, trên thực tế không phải tất cả các tội phạm và các trường hợp phạm tội
đều giống nhau. Do đó, để công cuộc đấu tranh phòng và chống tội phạm đạt
hiệu quả cao, cùng với việc phân loại tội phạm, luật hình sự Việt Nam cũng
đồng thời phân hóa các trường hợp phạm tội, các đối tượng phạm tội khác
nhau để có đường lối xử lý phù hợp, nhanh chóng, chính xác và công bằng.
Đặc biệt, sự phân hóa các trường hợp phạm tội và người phạm tội còn thể
hiện ở chỗ không phải tất cả các trường hợp phạm tội hay tất cả những người
phạm tội đều bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Đó là trường hợp khi có đầy đủ
căn cứ pháp lý và những điều kiện nhất định, thì một người đã thực hiện hành
vi nguy hiểm cho xã hội mà luật hình sự quy định là tội phạm có thể bị truy
cứu trách nhiệm hình sự, có thể không phải chịu trách nhiệm hình sự hoặc
cũng có thể được miễn trách nhiệm hình sự.
Miễn trách nhiệm hình sự là một trong những chế định quan trọng của

Nghị quyết số 01/HĐTP ngày 19/04/1989 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án
nhân dân tối cao hướng dẫn bổ sung việc áp dụng một số quy định của Bộ luật
hình sự; Thông tư liên ngành số 05/TTLN ngày 02/6/1990 của Bộ Nội vụ,
Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân tối cao và Bộ Tư pháp
hướng dẫn thi hành chính sách đối với người phạm tội ra tự thú, v.v
Đến lần pháp điển hóa lần thứ hai luật hình sự Việt Nam với việc
thông qua Bộ luật hình sự năm 1999, các quy định về miễn trách nhiệm hình
sự cũng được sửa đổi, bổ sung và tiếp tục hoàn thiện. Tuy nhiên, thực tiễn cho
thấy, chế định miễn trách nhiệm hình sự vẫn chưa được quan tâm nghiên cứu
một cách sâu sắc và toàn diện. Chẳng hạn, Bộ luật hình sự năm 1985, cũng
như Bộ luật hình sự năm 1999 đều chưa ghi nhận định nghĩa pháp lý của khái

3
niệm miễn trách nhiệm hình sự, hậu quả pháp lý cụ thể của việc miễn trách
nhiệm hình sự là gì? Mặt khác, các trường hợp miễn trách nhiệm hình sự lại
được quy định rải rác ở các điều luật, các chương thuộc Phần chung và Phần
các tội phạm Bộ luật hình sự năm 1999 rõ ràng là chưa chính xác về mặt khoa
học và chưa đạt về mặt kỹ thuật lập pháp. Ngoài ra, quá trình áp dụng pháp
luật hình sự cho thấy các quy phạm của chế định miễn trách nhiệm hình sự
còn nhiều bất cập khi vận dụng vào thực tế, đặc biệt thực tiễn đời sống xã hội
nói chung và thực tiễn pháp lý nói riêng đang tồn tại nhiều trường hợp có thể
áp dụng chế định miễn trách nhiệm hình sự, nhưng lại chưa được nhà làm luật
nước ta quy định trong Bộ luật hình sự.
Vì vậy, việc tiếp tục nghiên cứu sâu sắc hơn nữa để làm sáng tỏ về mặt
khoa học các quy định của pháp luật hình sự Việt Nam hiện hành về miễn
trách nhiệm hình sự và vấn đề áp dụng trong thực tiễn, đồng thời đưa ra
những giải pháp hoàn thiện các quy định của chế định này, cũng như nâng cao
hiệu quả của việc áp dụng những quy định về miễn trách nhiệm hình sự không
những có ý nghĩa lý luận - thực tiễn và pháp lý quan trọng, mà còn là vấn đề
mang tính cấp thiết. Đây chính là lý do luận chứng cho việc chúng tôi quyết

hình sự và loại trừ trách nhiệm hình sự (Tạp chí Kiểm sát, số 1/2002); 5)
Khái niệm, các đặc điểm (dấu hiệu), phân loại và bản chất pháp lý của các
biện pháp tha miễn trong luật hình sự Việt Nam (Tạp chí Khoa học pháp lý,
số 3(10)/2001); 6) Điều 25 - Miễn trách nhiệm hình sự (Trong sách: Bình luận
khoa học Bộ luật hình sự Việt Nam năm 1999 - Tập I. Phần chung, Tập thể
tác giả do TS. Uông Chu Lưu chủ biên, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội,
2001).
Ngoài ra, vấn đề miễn trách nhiệm hình sự còn được đề cập ở các mức
độ khác nhau trong các công trình của một số tác giả khác như: 1) Chế định
miễn trách nhiệm hình sự trong luật hình sự Việt Nam (Tạp chí Khoa học
(KHXH), số 4/1997) của TS. Nguyễn Ngọc Chí; 2) Về chế định miễn trách
nhiệm hình sự theo luật hình sự Việt Nam (Tạp chí Nhà nước và pháp luật, số

5
3/1988) và, Về chế định miễn trách nhiệm hình sự trong Bộ luật hình sự năm
1999 (Tạp chí Dân chủ và pháp luật, số 12/2001) của PGS.TS Phạm Hồng
Hải; 3) Trách nhiệm hình sự và miễn trách nhiệm hình sự (Tạp chí Luật học,
số 5/1997) của TS. Lê Thị Sơn; 4) Một số ý kiến về miễn trách nhiệm hình sự
(Tạp chí Tòa án nhân dân, số 2/1993) và, Hoàn thiện các quy định của luật tố
tụng hình sự về đình chỉ điều tra và đình chỉ vụ án (Tạp chí Kiểm sát, số 5/2002)
của tác giả Phạm Mạnh Hùng; 5) Những trường hợp được miễn trách nhiệm
hình sự theo Điều 48 Bộ luật hình sự (Tạp chí Kiểm sát, số chuyên đề về Bộ
luật hình sự, số 4/1999) của tác giả Thái Quế Dung; 6) Miễn trách nhiệm hình
sự trong trường hợp "Do sự chuyển biến của tình hình mà người phạm tội
không còn nguy hiểm cho xã hội nữa" theo quy định của Điều 25 Bộ luật hình
sự (Tạp chí Kiểm sát, số 1/2002) của tác giả Nguyễn Hiển Khanh; 7) Phân
biệt miễn trách nhiệm hình sự với miễn hình phạt (Tạp chí Khoa học pháp lý,
số 2/2004) của TSKH Lê Cảm và Trịnh Tiến Việt; 8) Hoàn thiện các quy định
về miễn trách nhiệm hình sự (Tạp chí Kiểm sát, số 5/2004); Về chế định miễn
trách nhiệm hình sự trong Bộ luật hình sự Việt Nam năm 1999 (Tạp chí Khoa

sự như: khái niệm, bản chất pháp lý và các đặc điểm cơ bản của miễn trách
nhiệm hình sự; nội dung và điều kiện áp dụng những trường hợp miễn trách
nhiệm hình sự trong Bộ luật hình sự năm 1999 hiện hành, kết hợp với thực
tiễn áp dụng và có tham khảo pháp luật hình sự của một số nước trên thế giới.
Mục đích nghiên cứu của luận văn là phân tích để làm rõ về mặt khoa
học các quy phạm của chế định miễn trách nhiệm hình sự ở khía cạnh lập
pháp và vấn đề áp dụng chúng trong thực tiễn, từ đó đưa ra các giải pháp hoàn
thiện các quy phạm của chế định này trong pháp luật hình sự Việt Nam.
4. Nhiệm vụ nghiên cứu
Với mục đích nghiên cứu nêu trên, trong luận văn này tác giả tập
trung vào giải quyết những nhiệm vụ chính như sau:

7
1) Xây dựng định nghĩa khoa học của khái niệm miễn trách nhiệm
hình sự, phân tích các đặc điểm cơ bản và so sánh nó với miễn hình phạt.
2) Khái quát sự hình thành và phát triển của các quy phạm về miễn
trách nhiệm hình sự trong pháp luật hình sự Việt Nam.
3) Phân tích nội dung, điều kiện áp dụng những trường hợp miễn trách
nhiệm hình sự theo các quy định của Bộ luật hình sự năm 1999 hiện hành và
thực tiễn áp dụng các quy định này. Từ đây phân tích một số tồn tại xung quanh
việc quy định và áp dụng chế định miễn trách nhiệm hình sự.
4) Luận chứng cho sự cần thiết phải hoàn thiện các quy định của pháp
luật hình sự Việt Nam về miễn trách nhiệm hình sự, những phương hướng cơ
bản của việc hoàn thiện và từ đó đề xuất các giải pháp hoàn thiện chế định
miễn trách nhiệm hình sự trong Bộ luật hình sự năm 1999, đồng thời đưa ra mô
hình lý luận với sự bổ sung một số trường hợp miễn trách nhiệm hình sự cần
phải được nhà làm luật ghi nhận trong pháp luật hình sự Việt Nam hiện hành.
5. Những cơ sở lý luận và phƣơng pháp nghiên cứu
Những cơ sở lý luận của luận văn là các thành tựu của các chuyên
ngành khoa học pháp lý như: lịch sử pháp luật, lý luận về pháp luật, xã hội

cấp độ một luận văn thạc sĩ đề cập đến chế định miễn trách nhiệm hình sự
trong khoa học luật hình sự Việt Nam, do đó nó còn có ý nghĩa làm tài liệu
tham khảo cần thiết cho các cán bộ nghiên cứu khoa học, cán bộ giảng dạy,
nghiên cứu sinh, học viên cao học và sinh viên thuộc chuyên ngành Tư pháp
hình sự.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo và Phụ
lục, luận văn bao gồm ba chương với kết cấu như sau:
Chương 1: Một số vấn đề lý luận về miễn trách nhiệm hình sự

9
Chương 2: Những trường hợp miễn trách nhiệm hình sự theo pháp
luật hình sự Việt Nam và thực tiễn áp dụng
Chương 3: Hoàn thiện các quy định của pháp luật hình sự Việt Nam
về miễn trách nhiệm hình sự.
Chương 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ MIỄN TRÁCH NHIỆM HÌNH SỰ

1.1. KHÁI NIỆM, CÁC ĐẶC ĐIỂM CƠ BẢN CỦA MIỄN TRÁCH NHIỆM
HÌNH SỰ VÀ PHÂN BIỆT NÓ VỚI MIỄN HÌNH PHẠT
1.1.1. Khái niệm miễn trách nhiệm hình sự
Miễn trách nhiệm hình sự là một trong những chế định quan trọng của
luật hình sự Việt Nam, có quan hệ chặt chẽ và gắn liền với chế định trách
nhiệm hình sự. Khái niệm, cơ sở và nội dung của miễn trách nhiệm hình sự
cũng xuất phát từ khái niệm, cơ sở và nội dung của trách nhiệm hình sự. Cho
nên, để tìm hiểu khái niệm và bản chất pháp lý của miễn trách nhiệm hình sự,
thì không thể không xem xét khái niệm trách nhiệm hình sự và những nội dung
xung quanh vấn đề này. Bởi lẽ, việc nhận thức khoa học đúng đắn về trách
nhiệm hình sự sẽ tạo cơ sở vững chắc cho nhận thức về miễn trách nhiệm
hình sự. Do vậy, trước khi đi vào nghiên cứu khái niệm và bản chất pháp lý

được thể hiện bằng việc áp dụng một hoặc nhiều biện pháp cưỡng chế nghiêm
khắc của Nhà nước do luật hình sự quy định đối với người phạm tội. Theo đó,
trách nhiệm hình sự là hậu quả pháp lý của việc thực hiện tội phạm, trách
nhiệm hình sự chỉ phát sinh (xuất hiện) khi có sự việc phạm tội và chính vì
thế, nó là dạng trách nhiệm pháp lý nghiêm khắc nhất so với bất kỳ dạng trách
nhiệm pháp lý nào khác. Trách nhiệm hình sự chỉ được thực hiện trong phạm
vi của quan hệ pháp luật hình sự giữa hai bên với tính chất là hai chủ thể có

11
các quyền và nghĩa vụ nhất định - một bên là Nhà nước, còn bên kia là người
phạm tội.
Nghiên cứu trách nhiệm hình sự, không thể không đề cập đến vấn đề
cơ sở và những điều kiện của nó. Bởi lẽ, việc làm rõ các nội dung này là yêu
cầu quan trọng trong việc đảm bảo nguyên tắc pháp chế trong luật hình sự,
bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, cũng như loại trừ việc áp
dụng trách nhiệm hình sự theo nguyên tắc tương tự đã từng được áp dụng
trong thực tiễn tư pháp hình sự ở nước ta trước đây. Hơn nữa, nó còn tạo cơ
sở vững chắc cho nhận thức về nội dung và cơ sở của miễn trách nhiệm hình
sự.
Do đó, dưới góc độ khoa học luật hình sự, TSKH. Lê Cảm đã đưa ra
định nghĩa của hai khái niệm này: "Cơ sở của trách nhiệm hình sự là việc
thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội mà luật hình sự quy định là tội phạm"
và, "Điều kiện của trách nhiệm hình sự là căn cứ riêng cần và đủ, có tính chất
bắt buộc và do luật hình sự quy định mà chỉ khi nào có tổng hợp tất cả chúng
(các căn cứ riêng đó) thì một người mới phải chịu trách nhiệm hình sự" [7, tr.
130].
Như vậy, một người chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự khi người đó có
đầy đủ cơ sở và những điều kiện của trách nhiệm hình sự về một tội phạm.
Song, trên thực tế có một số trường hợp mặc dù có đầy đủ cơ sở và những
điều kiện của trách nhiệm hình sự nhưng khi có căn cứ và những điều kiện

đối với một tội phạm do pháp luật quy định" [75, tr. 269];
- "Miễn trách nhiệm hình sự là việc miễn kết tội cũng như áp dụng
hình phạt đối với người thực hiện tội phạm và do vậy họ không bị coi là có
tội. Nói cách khác, miễn trách nhiệm hình sự là miễn những hậu quả pháp lý
đối với người phạm tội do pháp luật hình sự quy định" [24, tr. 14];

13
- "Miễn trách nhiệm hình sự có nghĩa là miễn những hậu quả pháp lý
về các tội phạm đối với người thực hiện tội phạm khi có những điều kiện theo
quy định của pháp luật" [20, tr. 109];
- "Miễn trách nhiệm hình sự là không buộc tội một người chịu trách
nhiệm hình sự về tội mà họ đã thực hiện" [32, tr. 321];
- "Miễn trách nhiệm hình sự là không truy cứu trách nhiệm hình sự
một người về việc đã thực hiện một tội phạm được quy định trong luật hình
sự, thể hiện trong một văn bản của cơ quan nhà nước có thẩm quyền" [64, tr.
238];
- "Miễn trách nhiệm hình sự là không buộc người phạm tội phải chịu
trách nhiệm hình sự về tội phạm mà người đó đã thực hiện" [89, tr. 389];
- "Miễn trách nhiệm hình sự là không buộc người phạm tội phải chịu
trách nhiệm hình sự về tội mà người đó đã phạm" [39, tr. 166];
- "Miễn trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội có nghĩa là miễn
truy cứu trách nhiệm hình sự và đương nhiên kéo theo cả miễn phải chịu các
hậu quả tiếp theo do việc thực hiện trách nhiệm hình sự từ phía Nhà nước
đem lại như: miễn bị kết tội, miễn phải chịu biện pháp cưỡng chế của trách
nhiệm hình sự và miễn bị mang án tích. Trên thực tế có thể có trường hợp
người phạm tội được Tòa án miễn trách nhiệm hình sự trong giai đoạn xét xử.
Trong trường hợp này, miễn trách nhiệm hình sự chỉ bao gồm miễn chịu biện
pháp cưỡng chế của trách nhiệm hình sự và miễn mang án tích" [61, tr. 19-20]
Như vậy, về cơ bản tất cả các quan điểm trên đây về khái niệm miễn
trách nhiệm hình sự đều đầy đủ về nội dung, ngắn gọn và điều quan trọng là

tội phải chịu hậu quả pháp lý bất lợi của việc phạm tội đó mà lẽ ra nếu không
có đầy đủ căn cứ pháp lý và những điều kiện do luật định để được miễn trách
nhiệm hình sự, thì người đó phải chịu trách nhiệm hình sự theo quy định của
pháp luật hình sự. Điều đó có nghĩa, trường hợp xét thấy không cần phải áp dụng
trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội mà vẫn đảm bảo yêu cầu đấu tranh

15
phòng và chống tội phạm, có căn cứ chứng tỏ khả năng giáo dục, cải tạo nhanh
chóng hòa nhập với cộng đồng của người phạm tội, đồng thời đáp ứng những
điều kiện nhất định thì các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền quyết định cho
họ được miễn trách nhiệm hình sự.
Thứ ba, miễn trách nhiệm hình sự chỉ áp dụng đối với người mà trong
hành vi của họ thỏa mãn những dấu hiệu của cấu thành tội phạm cụ thể, nhưng đối
với họ lại có căn cứ và những điều kiện nhất định để được miễn trách nhiệm hình
sự trong từng trường hợp mà pháp luật hình sự hiện hành quy định, cũng như
tùy thuộc vào từng trường hợp miễn trách nhiệm hình sự đó là tùy nghi (lựa
chọn) hay bắt buộc. Nói một cách khác, không thể áp dụng miễn trách nhiệm
hình sự đối với người không có hành vi thỏa mãn dấu hiệu pháp lý của một cấu
thành tội phạm cụ thể được quy định trong luật hình sự và đối với họ không có
căn cứ và những điều kiện nhất định.
Thứ tư, miễn trách nhiệm hình sự do cơ quan nhà nước có thẩm quyền
quyết định phải được thể hiện bằng văn bản. Cụ thể, theo quy định của Bộ
luật tố tụng hình sự Việt Nam năm 2003, cơ quan Điều tra ra quyết định đình
chỉ điều tra (bằng văn bản) khi có căn cứ miễn trách nhiệm hình sự quy định
tại Điều 19, Điều 25 và khoản 2 Điều 69 Bộ luật hình sự (Điều 164); Viện kiểm
sát ra quyết định đình chỉ vụ án (bằng văn bản) khi có một trong các căn cứ miễn
trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 19, Điều 25 và khoản 2 Điều 69 Bộ luật hình
sự (Điều 169) hoặc rút quyết định truy tố và đề nghị Tòa án đình chỉ vụ án (Điều
181), Tòa án cấp phúc thẩm có quyền sửa bản án sơ thẩm trong trường hợp miễn
trách nhiệm hình sự hoặc miễn hình phạt cho bị cáo (điểm a khoản 1 Điều 249).

năm 1999 nhà làm luật nước ta còn sử dụng khái niệm "miễn hình phạt" (Điều
54 và khoản 3 Điều 314 - Tội không tố giác tội phạm), đồng thời giữa hai
khái niệm này cũng có liên quan chặt chẽ mật thiết với nhau. Do đó, việc
phân biệt sự giống và khác nhau giữa chúng là việc làm cần thiết và có ý
nghĩa rất quan trọng về mặt lý luận - thực tiễn.

17
Hiện nay, trong Bộ luật hình sự năm 1999 nhà làm luật không ghi
nhận định nghĩa pháp lý của khái niệm miễn hình phạt và trong khoa học luật
hình sự cũng còn nhiều quan điểm khác nhau. Tuy nhiên, theo chúng tôi dưới
góc độ khoa học luật hình sự miễn hình phạt có nghĩa là không buộc người
phạm tội phải chịu hình phạt về tội mà người đó đã thực hiện. Về biện pháp
này, Điều 54 Bộ luật hình sự năm 1999 quy định "Người phạm tội có thể
được miễn hình phạt trong trường hợp người phạm tội có nhiều tình tiết giảm
nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 46 của Bộ luật này, đáng được khoan hồng đặc
biệt, nhưng chưa đến mức được miễn trách nhiệm hình sự". Theo đó, điều
kiện để người phạm tội được miễn hình phạt khi: a) Có nhiều tình tiết giảm
nhẹ quy định tại Điều 46 Bộ luật hình sự năm 1999; b) Đáng được khoan
hồng đặc biệt và; c) Người đó chưa đến mức miễn trách nhiệm hình sự.
Như vậy, miễn trách nhiệm hình sự và miễn hình phạt có một số điểm
giống nhau cơ bản dưới đây.
Thứ nhất, chúng đều thuộc hệ thống các biện pháp tha miễn trong luật
hình sự nước ta, thể hiện rõ nguyên tắc nhân đạo trong chính sách hình sự nói
chung và của luật hình sự Việt Nam nói riêng.
Thứ hai, miễn trách nhiệm hình sự và miễn hình phạt chỉ có thể áp
dụng đối với người nào bị coi là có lỗi trong việc thực hiện chính tội phạm đó.
Nói một cách khác, hành vi nguy hiểm cho xã hội do người đó thực hiện bị
pháp luật hình sự cấm (Bộ luật hình sự quy định là tội phạm).
Thứ ba, miễn trách nhiệm hình sự và miễn hình phạt chỉ có thể áp
dụng khi có đầy đủ căn cứ pháp lý và những điều kiện cụ thể do pháp luật

với họ, nhưng miễn hình phạt thì không có nghĩa là không có trách nhiệm
hình sự. Nói một cách khác, người được miễn hình phạt khi họ chưa đến mức
được miễn trách nhiệm hình sự, còn người được miễn trách nhiệm hình sự lại
đương nhiên được miễn hình phạt.

19
Thứ ba, khác với miễn trách nhiệm hình sự, điều kiện được miễn hình
phạt áp dụng đối với từng trường hợp cụ thể không được quy định rõ ràng như
miễn trách nhiệm hình sự. Theo quy định tại Điều 54 Bộ luật hình sự năm 1999
thì các điều kiện để miễn hình phạt không khắt khe (chặt chẽ) bằng các điều
kiện để miễn trách nhiệm hình sự. Do đó, dưới góc độ pháp luật hình sự thực
định và và thực tiễn áp dụng nó, chúng ta có thể nhận thấy hành vi phạm tội và
nhân thân người được miễn trách nhiệm hình sự thông thường đều ít nguy hiểm
hơn so với hành vi phạm tội và nhân thân của người được miễn hình phạt.
Thứ tư, nếu hình phạt và việc áp dụng miễn hình phạt đối với người bị
kết án chỉ có thể và phải do một cơ quan duy nhất áp dụng - Tòa án, thì trong
khi đó miễn trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội, ngoài Tòa án có
thẩm quyền áp dụng ra còn có thể do các cơ quan tư pháp hình sự có thẩm
quyền (cơ quan Điều tra với sự phê chuẩn của Viện kiểm sát, Viện kiểm sát) áp
dụng trước khi xét xử tùy thuộc vào giai đoạn tố tụng hình sự cụ thể tương ứng.
Và thứ năm, nếu người được miễn trách nhiệm hình sự đương nhiên
không phải chịu các hậu quả pháp lý hình sự bất lợi của việc phạm tội do mình
thực hiện (như: không bị truy cứu trách nhiệm hình sự, không phải chịu hình phạt
hoặc biện pháp cưỡng chế về hình sự khác, không bị coi là có án tích và không bị
coi là có tội), nhưng thực tiễn xét xử cho thấy, người được miễn trách nhiệm
hình sự vẫn có thể phải chịu một hoặc nhiều biện pháp tác động về mặt pháp lý
thuộc các ngành luật tương ứng khác (như: pháp luật tố tụng hình sự; pháp luật
dân sự; pháp luật hành chính; pháp luật lao động hoặc biện pháp kỷ luật ) và đã
được ghi nhận tại Nghị quyết số 02/HĐTP ngày 05/01/1986 về việc Hướng dẫn
áp dụng một số quy định của Bộ luật hình sự của Hội đồng Thẩm phán Tòa án

nhanh chóng hòa nhập với cộng đồng của người phạm tội, đồng thời đáp ứng
những điều kiện nhất định thì các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền quyết
định cho họ được miễn trách nhiệm hình sự. Cho nên, "ngoài ý nghĩa nhân
đạo và nguyên tắc mọi hành vi phạm tội đều phải được xử lý nghiêm minh,
kịp thời, thì việc càng có nhiều căn cứ, điều kiện pháp lý cho việc miễn trách

21
nhiệm hình sự càng làm tăng thêm các kênh để qua đó nhân dân có thể tham
gia vào việc giáo dục người phạm tội" [78, tr. 54].
Thứ hai, dưới góc độ pháp lý, biện pháp miễn trách nhiệm hình sự chỉ
có thể được đặt ra đối với người nào thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội
mà luật hình sự quy định hành vi đó là tội phạm. Nói một cách khác, nó chỉ áp
dụng (hoặc có thể được áp dụng) đối với người nào mà trong hành vi của họ thỏa
mãn những dấu hiệu của cấu thành tội phạm cụ thể, nhưng đối với người đó lại có
căn cứ pháp lý và những điều kiện nhất định để được miễn trách nhiệm hình sự
trong từng trường hợp tương ứng mà pháp luật hình sự hiện hành quy định,
cũng như tùy thuộc vào từng trường hợp miễn trách nhiệm hình sự đó có tính
chất tùy nghi (lựa chọn) hay có tính chất bắt buộc.
Ngoài ra, cũng dưới góc độ pháp lý này, người được miễn trách nhiệm
hình sự đương nhiên không phải chịu các hậu quả pháp lý hình sự bất lợi của việc
phạm tội do mình thực hiện như: không bị truy cứu trách nhiệm hình sự, không bị
kết tội, không phải chịu hình phạt hoặc biện pháp cưỡng chế về hình sự khác,
không bị coi là có án tích và không bị coi là có tội. Tuy nhiên, họ vẫn có thể phải
chịu một hay nhiều biện pháp tác động về mặt pháp lý thuộc các ngành luật tương
ứng khác (tố tụng hình sự, hành chính, dân sự, lao động ) tùy theo từng trường
hợp tương ứng cụ thể. Vì vậy, việc cân nhắc những trường hợp miễn trách
nhiệm hình sự để áp dụng đối với người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã
hội chính là sự đảm bảo của nguyên tắc công bằng giữa các công dân nói chung,
giữa những người phạm tội nói riêng trong pháp luật hình sự Việt Nam.
Thứ ba, dưới góc độ nhân đạo và bảo vệ quyền con người trong lĩnh

hội.
Và bốn là, dưới góc độ kỹ thuật lập pháp, nếu những trường hợp miễn
trách nhiệm hình sự được nhà làm luật nước ta quy định trong Bộ luật hình sự
một cách đầy đủ, chặt chẽ, có hệ thống và phù hợp với thực tiễn thì đó cũng là

Trích đoạn Phƣơng hƣớng cơ bản thứ b a Hoàn thiện các quy định của pháp luật hình sự về miễn trách nhiệm hình sự phải thể hiện nguyên tắc Phƣơng hƣớng cơ bản thứ tƣ Phải đảm bảo tính kế thừa có chọn lọc và tiếp thu kinh nghiệm lập pháp hình sự của các nƣớc trên thế Giải pháp sửa đổi, bổ sung các quy định của pháp luật hình sự Việt Nam về miễn trách nhiệm hình sự MIỄN TRÁCH NHIỆM HÌNH SỰ Giải pháp về sự tham gia của các cơ quan, tổ chức và gia đình ngƣời đƣợc miễn trách nhiệm hình sự để giám sát, quản lý và giáo dục
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status