Luận văn tốt nghiệp
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA LUẬT
BỘ MÔN TƯ PHÁP
----oOo-----
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
(NIÊN KHÓA: 2005 – 2009)
Đề Tài:
MIỄN TRÁCH NHIỆM HÌNH SỰ TRONG
LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM HIỆN HÀNH
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Giáo viên hướng dẫn:
Sinh viên thực hiện:
TS. Phạm Văn Beo
Lê Hoàng Khải
MSSV: 5054778
Lớp Tư pháp 1-K31
Cần Thơ, 11/2008
GVHD: TS. Phạm Văn Beo
Trang i
.............................................................................................................................
.............................................................................................................................
.............................................................................................................................
.............................................................................................................................
.............................................................................................................................
.............................................................................................................................
.............................................................................................................................
.............................................................................................................................
.............................................................................................................................
.............................................................................................................................
.............................................................................................................................
.............................................................................................................................
GVHD: TS. Phạm Văn Beo
Trang ii
SVTH: Lê Hoàng Khải
Luận văn tốt nghiệp
MỤC LỤC
Trang
PHẦN MỞ ĐẦU ............................................................................................................1
1. Tính cấp thiết của đề tài: .........................................................................................1
2. Mục tiêu nghiên cứu:...............................................................................................2
3. Phạm vi nghiên cứu:................................................................................................2
4. Phương pháp nghiên cứu:........................................................................................3
5. Cơ cấu đề tài:...........................................................................................................3
CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ MIỄN TRÁCH
1.3. LỊCH SỬ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CÁC QUY PHẠM VỀ MIỄN
TRÁCH NHIỆM HÌNH SỰ TRONG LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM..........................12
1.3.1. Giai đoạn từ sau Cách mạng tháng 8 năm 1945 đến pháp điển hóa lần thứ
nhất – Bộ luật hình sự Việt Nam năm 1985 ..................................................................12
1.3.2. Giai đoạn từ sau khi ban hành Bộ luật Hình sự Việt Nam năm 1985 đến
nay..................................................................................................................................16
1.4. PHÂN BIỆT MIỄN TRÁCH NHIỆM HÌNH SỰ VỚI MỘT SỐ KHÁI
NIỆM KHÁC.................................................................................................................19
1.4.1. Phân biệt miễn trách nhiệm hình sự với truy cứu trách nhiệm hình sự ........20
GVHD: TS. Phạm Văn Beo
Trang iii
SVTH: Lê Hoàng Khải
Luận văn tốt nghiệp
1.4.2. Phân biệt miễn trách nhiệm hình sự với miễn hình phạt ..............................20
1.4.3. Phân biệt miễn trách nhiệm hình sự với không phải chịu trách nhiệm hình
sự và loại trừ trách nhiệm hình sự .................................................................................22
1.5. NGHIÊN CỨU SO SÁNH VỀ MIỄN TRÁCH NHIỆM HÌNH SỰ TRONG
PHÁP LUẬT HÌNH SỰ MỘT SỐ NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI......................................23
1.5.1. Miễn trách nhiệm hình sự trong pháp luật hình sự Liên Bang Nga..............23
1.5.2. Miễn trách nhiệm hình sự trong pháp luật hình sự Vương quốc Anh ..........25
1.5.3. Miễn trách nhiệm hình sự trong pháp luật hình sự Tây Ban Nha.................26
1.5.4. Miễn trách nhiệm hình sự trong pháp luật hình sự Cộng hòa dân chủ nhân
dân Lào ..........................................................................................................................27
1.5.5. Miễn trách nhiệm hình sự trong pháp luật hình sự Vương quốc Thụy Điển27
CHƯƠNG 2: CÁC TRƯỜNG HỢP MIỄN TRÁCH NHIỆM HÌNH SỰ
SVTH: Lê Hoàng Khải
Luận văn tốt nghiệp
2.2.3. Miễn trách nhiệm hình sự cho người phạm tội làm môi giới hối lộ (khoản
6 Điều 290 BLHS) .........................................................................................................50
2.2.4. Miễn trách nhiệm hình sự cho người phạm tội không tố giác tội phạm
(khoản 3 Điều 314 BLHS).............................................................................................51
CHƯƠNG 3: THỰC TIỄN ÁP DỤNG VÀ HƯỚNG HOÀN THIỆN CHẾ
ĐỊNH MIỄN TRÁCH NHIỆM HÌNH SỰ TRONG BỘ LUẬT HÌNH SỰ
NĂM 1999 ...................................................................................................................54
3.1. NHẬN XÉT, ĐÁNH GIÁ VỀ THỰC TIỄN ÁP DỤNG MIỄN TRÁCH
NHIỆM HÌNH SỰ.........................................................................................................54
3.2. MỘT SỐ TỒN TẠI TRONG THỰC TIỄN ÁP DỤNG MIỄN TRÁCH
NHIỆM HÌNH SỰ.........................................................................................................56
3.3. NGUYÊN NHÂN CỦA MỘT SỐ TỒN TẠI TRÊN .................................60
3.4. HOÀN THIỆN CHẾ ĐỊNH MIỄN TRÁCH NHIỆM HÌNH SỰ TRONG BỘ
LUẬT HÌNH SỰ NĂM 1999 ........................................................................................61
3.4.1. Sự cần thiết phải hoàn thiện các quy định của pháp luật hình sự Việt Nam
về miễn trách nhiệm hình sự..........................................................................................61
Trung tâm
Học
Cần
@ Tài
họcluật
tậphình
và sự
cạnh việc phân loại tội phạm, nhà làm luật Việt Nam cũng đồng thời phân hóa trong
Luật hình sự các trường hợp phạm tội và các đối tượng phạm tội khác nhau để có
đường lối xử lý phù hợp, nhanh chóng và công bằng. Đặc biệt, sự phân hóa người
phạm tội và những trường hợp phạm tội cụ thể còn thể hiện ở chổ không phải tất cả
các trường hợp phạm tội hay tất cả những người phạm tội đều bị truy cứu trách
nhiệm hình sự, đó là trường hợp khi có đầy đủ những điều kiện nhất định, thì một
người đã phạm tội có thể không phải chịu trách nhiệm hình sự, có thể được miễn
trách nhiệm hình sự.
Là chế định quan trọng trong Luật hình sự nước ta, miễn trách nhiệm hình sự
thể hiện chính sách nhân đạo của Nhà nước đối với người phạm tội và hành vi do họ
thực hiện, đồng thời nhằm động viên, khuyến khích họ lập công chuộc tội, chứng tỏ
khả năng giáo dục, cải tạo nhanh chống, hòa nhập với cộng đồng và trở thành người
có ích cho gia đình và xã hội… Do đó, việc quy định trong Bộ luật Hình sự (BLHS)
Việt Nam chế định này thể hiện phương châm đúng đắn của đường lối xử lý về hình
Trungsựtâm
Học
liệu
Cần
@ biện
Tài pháp
liệu cưỡng
học tập
và nghiên
- đảm
bảo sự
kếtĐH
hợp hài
hòaThơ
giữa các
chế hình
quan điều tra, Viện Kiểm sát, Tòa án, cũng như giúp cho chúng ta thêm những kiến
thức bổ ích khi tìm hiểu về những quy định của BLHS. Từ đó làm cho mọi người
trong xã hội nhận thức được khi nào thì hành vi gây thiệt hại của một người bị truy
cứu trách nhiệm hình sự và khi nào thì được miễn trách nhiệm hình sự…nhằm phát
huy quyền làm chủ của công dân, góp phần đấu tranh phòng chống tội phạm và
những hành vi vi phạm pháp luật trong xã hội. Khi một người biết rõ mình được
làm gì, không được làm gì mà pháp luật quy định thì xã hội thực sự trở thành xã hội
có kỹ cương, Nhà nước thực sự là Nhà nước pháp quyền.
Mặc dù BLHS năm 1999 đã quy định rõ các trường hợp miễn trách nhiệm
hình sự. Nhưng thực tế trong công tác xét xử lại áp dụng các quy định này không
nhất quán với nhau, có những Tòa án xem xét các tình tiết được miễn trách nhiệm
hình sự là cần thiết, có những nơi xem xét đó là không cần thiết, hoặc không quan
tâm đến các tình tiết này mà chỉ căn cứ vào tính chất và mức độ phạm tội của bị
cáo.
Như vậy, để các chế định và các tình tiết quy định về miễn trách nhiệm hình
Trungsựtâm
liệuvào
ĐH
Cần
Thơ
@ hợp
Tàilýliệu
họcquán
tậpvới
vànhau
nghiên
đượcHọc
áp dụng
thực
Luận văn tốt nghiệp
4. Phương pháp nghiên cứu:
Trên cơ sở các quy định của BLHS và Bộ luật Tố tụng hình sự (TTHS), đối chiếu với
thực tiễn xét xử, đồng thời tham khảo các công trình nghiên cứu chuyên khảo của các nhà
nghiên cứu và bình luận luật học có tên tuổi kết hợp với sưu tầm và tham khảo các tạp chí
và tài liệu có liên quan để làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn về chế định miễn trách nhiệm
hình sự. Từ đó nêu lên một số vấn đề về việc hoàn thiện chế định này trong hệ thống PLHS
Việt Nam để các cơ quan có thẩm quyền xem xét.
5. Cơ cấu đề tài:
Luận văn gồm có ba Chương, cụ thể như sau:
- Chương 1: Những vấn đề lý luận chung về miễn trách nhiệm hình sự.
- Chương 2: Các trường hợp miễn trách nhiệm hình sự trong luật Hình sự
Việt Nam hiện hành.
- Chương 3: Thực tiễn áp dụng và hướng hoàn thiện chế định miễn trách
nhiệm hình sự trong luật Hình sự năm 1999.
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
GVHD: TS. Phạm Văn Beo
Trang 3
SVTH: Lê Hoàng Khải
Luận văn tốt nghiệp
@tính
Tàichất
liệu
tập
vàhiểm
nghiên
cứuvi
mà người đó đã thực hiện”.
c. TNHS là một dạng của trách nhiệm pháp lý bao gồm nghĩa vụ phải chịu sự
tác động của hoạt động truy cứu TNHS, chịu bị kết tội, chịu biện pháp cưỡng chế
của TNHS (hình phạt, biện pháp tư pháp) và chịu mang án tích”.
d. TNHS là hậu quả pháp lý của việc thực hiện tội phạm và được thể hiện bằng
việc áp dụng đối với người phạm tội một hoặc nhiều biện pháp cưỡng chế của Nhà
nước do Luật hình sự quy định.
Tuy nhiên, phân tích khoa học hai khía cạnh của TNHS, chúng ta cần phải hiểu
nó theo hai nghĩa tích cực và tiêu cực dưới đây:
- Nếu như hiểu theo nghĩa tích cực – TNHS là trách nhiệm phải xử sự hợp
pháp của một người trong việc ý thức được nghĩa vụ của mình là không được thực
hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội bị luật hình sự cấm. Về cơ bản, đây là cách hiểu
theo quan điểm không truyền thống, không có tính chất phổ biến và chính vì vậy,
cũng không được thừa nhận rộng rãi trong các nhà hình sự học nói riêng và các nhà
luật học nói chung.
- Nhưng nếu như hiểu theo nghĩa tiêu cực – TNHS là hậu quả pháp lý của việc
thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội mà luật hình sự quy định là tội phạm và hậu
quả pháp lý ấy được thể hiện trong việc Tòa án nhân danh Nhà nước kết án người
GVHD: TS. Phạm Văn Beo
Trang 4
SVTH: Lê Hoàng Khải
Trung tâm
Học liệu
Cầntrách
Thơnhiệm
@ Tài
học tập
nghiên
cứu
dạng trách nhiệm pháp lý nào khác vì các dạng trách nhiệm pháp lý khác không đưa
đến hậu quả bất lợi và nghiêm trọng đối với chủ thể của hành vi vi phạm đến mức
như TNHS – hạn chế hoặc tước bỏ quyền và tự do hay thậm chí tước bỏ cả tính
mạng của chủ thể (nếu bị áp dụng hình phạt tử hình).
b. Đặc điểm thứ hai – TNHS luôn luôn được thực hiện trong phạm vi của quan
hệ PLHS giữa hai bên với tính chất là hai chủ thể có các quyền và nghĩa vụ nhất
định – một bên là Nhà nước, còn bên kia là người phạm tội. Nội dung của đặc điểm
này là:
- Nhà nước (mà đại diện cho nó là cơ quan tư pháp hình sự có thẩm quyền) có
quyền xử lý người phạm tội, nhưng phải có nghĩa vụ xử lý dựa trên các căn cứ và
trong các giới hạn do pháp luật quy định;
- Người phạm tội có nghĩa vụ phải chịu sự tước bỏ hoặc hạn chế quyền, tự do
nhất định, nhưng đồng thời cũng có quyền yêu cầu sự tuân thủ từ phía Nhà nước
nhằm đảm bảo tất cả các quyền và lợi ích của công dân mà pháp luật đã quy định.
c. Đặc điểm thứ ba – TNHS được xác định bằng một trình tự đặc biệt bởi cơ
quan tư pháp hình sự có thẩm quyền mà trình tự đó phải do pháp luật TTHS quy
định. Nội dung của đặc điểm này là:
GVHD: TS. Phạm Văn Beo
Trang 5
nhiều biện pháp cưỡng chế của Nhà nước do BLHS quy định – có thể là hình phạt
hoặc biện pháp tư pháp.
e. Đặc điểm thứ năm – TNHS chỉ mang tính chất cá nhân – vì theo PLHS Việt
Nam nó chỉ được áp dụng đối với riêng bản thân người phạm tội, chứ chưa được
quy định cho pháp nhân (cơ quan, tổ chức hoặc đơn vị nào đó đã có lỗi để cho
người đại diện phạm tội vì lợi ích tương ứng của tập thể).
1.1.3. Phân biệt trách nhiệm hình sự với các dạng trách nhiệm pháp lý khác
Khi so sánh TNHS với các dạng trách nhiệm pháp lý khác cần phải lưu ý một
số điểm giống nhau và khác nhau dưới đây.
1.1.3.1. Sự giống nhau của trách nhiệm hình sự với các dạng trách nhiệm
pháp lý khác
Sự giống nhau của TNHS với các dạng trách nhiệm pháp lý khác là ở chỗ
chúng đều là hậu quả pháp lý của việc thực hiện hành vi vi phạm một (hoặc nhiều)
quy định của ngành luật tương ứng; được xác định bằng một trình tự nhất định do
ngành luật tương ứng quy định; được đảm bảo thực hiện bằng sức mạnh cưỡng chế
GVHD: TS. Phạm Văn Beo
Trang 6
SVTH: Lê Hoàng Khải
Luận văn tốt nghiệp
của Nhà nước trong một văn bản của cơ quan (người có chức vụ) tương ứng có
thẩm quyền nhân danh Nhà nước; có các mức độ nặng hoặc nhẹ khác nhau tương
ứng với tính chất và mức độ vi phạm, cũng như các tình tiết cụ thể của vụ việc và
nhân thân người vi phạm.
1.1.3.2. Sự khác nhau của trách nhiệm hình sự với các dạng trách nhiệm
pháp lý khác
Sự khác nhau của trách nhiệm hình sự với các dạng trách nhiệm pháp lý khác
áp dụng
hình Tài
phạt).liệu họcquyền
hiệu lực của
chế
tài xử phạt hành chính thường
là sau một năm mới hết).
3. Mức độ nghiêm khắc của 3. Nghiêm khắc nhất so với tất
dạng trách nhiệm pháp lý cả các dạng trách nhiệm pháp
tương ứng.
lý khác vì tính nguy hiểm cho
xã hội của tội phạm bao giờ
cũng cao hơn cả.
3. Thông thường ít nghiêm
khắc hơn TNHS vì tính nguy
hiểm cho xã hội của vi phạm
pháp luật phi hình sự bao giờ
cũng nhỏ hơn so với tội phạm.
4. Chủ thể có thẩm quyền áp 4. Chỉ có Nhà nước mà đại
dụng các biện pháp của dạng diện là cơ quan tư pháp hình sự
trách nhiệm pháp lý tương ứng. tương ứng có thẩm quyền (Cơ
quan điều tra, VKS hoặc Tòa
án) căn cứ vào giai đoạn TTHS
cụ thể.
4. Chỉ có Nhà nước mà đại
diện là cơ quan (người có chức
vụ) có thẩm quyền được quy
Một là, về mặt lập pháp, trong bất kỳ một NNPQ đích thực nào, các quy định
của pháp luật thuộc lĩnh vực tư pháp hình sự nói chung và các quy định của PLHS
nói riêng đều phải nhằm mục đích hàng đầu – là bảo vệ các quyền tự do của con
người với tư cách là những giá trị xã hội cao quý nhất được thừa nhận chung của
nền văn minh nhân loại, tránh khỏi sự xâm hại có tính chất tội phạm của người
khác. Chính vì vậy, các quy phạm PLHS của một quốc gia về TNHS như thế nào –
là một trong những tiêu chí cơ bản và quan trọng để đánh giá mức độ dân chủ và
nhân đạo, pháp chế và nhân văn trong quốc gia đó.
Hai là, về mặt lý luận, hiện nay trong khoa học luật hình sự nói riêng và các
chuyên ngành khoa học pháp lý (KHPL) thuộc lĩnh vực tư pháp hình sự nói chung
một loạt những vấn đề liên quan đến TNHS (như: TNHS của một công dân được
đặt ra khi nào, tại sao một công dân lại phải chịu TNHS, trình tự xác định TNHS
Trungđối
tâm
liệudân
ĐHraCần
Thơ
học
với Học
một công
sao, từ
thời @
điểmTài
nàoliệu
TNHS
bắt tập
đầu và
thựcnghiên
hiện, việccứu
luật hình sự Việt Nam, thể hiện chính sách khoan hồng, nhân đạo của Nhà nước ta
đối với người phạm tội, đồng thời qua đó nhằm động viên, khuyến khích người
phạm tội lập công chuộc tội, chứng tỏ khả năng giáo dục, cải tạo nhanh chóng hòa
nhập với cộng đồng và giúp họ trở thành người có ích cho xã hội.
Hiện nay, trong khoa học luật hình sự xung quanh khái niệm miễn TNHS vẫn
tồn tại nhiều quan điểm khác nhau. Tuy nhiên, trên cơ sở xem xét các quan điểm
khoa học đã nêu, kết hợp với việc phân tích các quy định của PLHS có liên quan,
dưới góc độ Luật hình sự thì khái niệm miễn TNHS có thể được định nghĩa như
sau: Miễn TNHS là một chế định nhân đạo của luật hình sự Việt Nam và được thể
hiện bằng văn bản với nội dung hủy bỏ hậu quả pháp lý của việc thực hiện hành vi
nguy hiểm cho xã hội bị luật hình sự cấm đối với người bị coi là có lỗi trong việc
thực hiện hành vi đó, được áp dụng bởi các cơ quan tư pháp hình sự có thẩm quyền
tùy thuộc vào giai đoạn TTHS tương ứng khi có đầy đủ những điều kiện do luật
định.
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
1.2.2. Bản chất pháp lý của miễn trách nhiện hình sự
Từ khái niệm trên ta có thể chỉ ra bản chất pháp lý của chế định này – là một
chế định nhân đạo của Luật hình sự Việt Nam, được thể hiện bằng văn bản với nội
dung hủy bỏ hậu quả pháp lý của việc thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội bị
Luật hình sự cấm đối với người bị coi là có lỗi trong việc thực hiện hành vi đó,
được áp dụng bởi các cơ quan tư pháp hình sự có thẩm quyền tùy thuộc vào giai
đoạn tố tụng hình sự tương ứng khi có đầy đủ những điều kiện do luật định.
1.2.3. Các đặc điểm cơ bản của miễn trách nhiệm hình sự
Cũng xuất phát từ khái niệm đã nêu và bản chất pháp lý của chế định này,
đồng thời trên cơ sở nghiên cứu các quy định của PLHS hiện hành có liên quan đến
miễn TNHS, cho phép rút ra một số đặc điểm cơ bản của miễn TNHS như sau:
Thứ nhất, bên cạnh hàng loạt chế định khác như: các trường hợp loại trừ
Thứ sáu, trong trường hợp tội phạm được thực hiện dưới hình thức đồng
phạm, thì việc miễn TNHS chỉ đặt ra đối với người nào đáp ứng đầy đủ những điều
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
kiện do luật định, còn đối với những người đồng phạm khác phải chịu TNHS trên
những cơ sở chung.
Thứ bảy, việc quy định miễn TNHS trong Luật hình sự Việt Nam chính là tạo
cơ sở pháp lý cho sự kết hợp các biện pháp cưỡng chế hình sự của Nhà nước với
các biện pháp tác động xã hội trong việc giáo dục, cải tạo người phạm tội, giúp họ
trở thành người có ích cho xã hội, qua đó cũng là một cách hiệu nghiệm của việc
thực hiện tốt nguyên tắc không để lọt tội phạm và người phạm tội, đồng thời giảm
nhẹ cường độ áp dụng TNHS và hình phạt khi có những điều kiện cho phép.
1.2.4. Ý nghĩa của việc quy định những trường hợp miễn trách nhiệm hình
sự trong pháp luật hình sự Việt Nam
Hiện nay, việc nghiên cứu chế định miễn TNHS trong PLHS Việt Nam là một
vấn đề quan trọng và cấp thiết, không những góp phần nâng cao đấu tranh phòng và
chống tội phạm, mà còn thể hiện chính sách nhân đạo của Nhà nước ta đối với
những người phạm tội và hành vi do họ thực hiện, qua đó nhằm khuyến khích, động
viên họ lập công chuộc tội, chứng tỏ khả năng giáo dục, cải tạo nhanh chóng, hòa
nhập với cộng đồng và trở thành người có ích cho xã hội. Do đó, nó có ý nghĩa quan
trọng thể hiện trên một số bình diện dưới đây.
GVHD: TS. Phạm Văn Beo
Trang 10
SVTH: Lê Hoàng Khải
Luận văn tốt nghiệp
1.2.4.1. Dưới góc độ chính trị - xã hội
trường hợp tương ứng mà PLHS hiện hành quy định, cũng như tùy thuộc vào từng
trường hợp miễn TNHS đó là tùy nghi hay bắt buộc.
1.2.4.3. Dưới góc độ nhân đạo và bảo vệ quyền con người trong tư pháp
hình sự
Miễn TNHS còn là một biện pháp hữu hiệu của Nhà nước để thực hiện chính
sách phân hóa và thể hiện phương châm trong đường lối xử lý, đó là “nghiêm trị kết
hợp với khoan hồng”, “trừng trị kết hợp với giáo dục, thuyết phục, cải tạo”. Miễn
GVHD: TS. Phạm Văn Beo
Trang 11
SVTH: Lê Hoàng Khải
Luận văn tốt nghiệp
TNHS là chế định luôn gắn liền và quan hệ chặt chẽ với chế định TNHS trong
PLHS Việt Nam. Khái niệm và cơ sở của miễn TNHS cũng xuất phát từ khái niệm
và cơ sở của TNHS.
Do đó, dưới góc độ nhân đạo và bảo vệ quyền con người trong lĩnh vực tư
pháp hình sự, nhà làm luật nước ta đã quy định chặt chẽ cơ sở của TNHS tại Điều 2
BLHS năm 1999, đó là, “Chỉ người nào phạm một tội đã được BLHS quy định mới
phải chịu TNHS”. Khi đã thỏa mãn cơ sở và những điều kiện của TNHS thì một
người mới phải chịu TNHS. Tuy nhiên, để nâng cao hiệu quả công việc đấu tranh
phòng và chống tội phạm, cùng với việc phân loại tội phạm, nhà làm luật nước ta
cũng đồng thời phân hóa trong PLHS Việt Nam các trường hợp phạm tội, các đối
tượng phạm tội khác nhau để có đường lối xử lý phù hợp, chính xác và công bằng.
Nếu trường hợp một người có đầy đủ căn cứ pháp lý và những điều kiện nhất định
thì họ có thể không phải chịu TNHS, có thể được miễn TNHS. Trường hợp nếu họ
thỏa mãn căn cứ để miễn TNHS, thì cần cho họ được hưởng chính sách nhân đạo
này của Nhà nước. Nói một cách khác, đây là biện pháp khoan hồng của Nhà nước
Luận văn tốt nghiệp
cáo” , “miễn hết cả tội”…Đến pháp điển hóa lần thứ hai Luật hình sự Việt Nam
với việc thông qua BLHS năm 1999, các quy định về miễn TNHS đã được sửa đổi,
bổ sung và tiếp tục hoàn thiện hơn.
Như vậy, sở dĩ trước đây trong PLHS thực định có ghi nhận và thực tiễn xét
xử có áp dụng chế định miễn TNHS là xuất phát từ nguyên tắc nhân đạo trong chính
sách hình sự của Nhà nước nói chung và Luật hình sự Việt Nam nói riêng, từ quan
điểm cho rằng việc truy cứu TNHS và xử phạt về hình sự mặc dù rất quan trọng
trong việc bảo vệ pháp chế, củng cố bảo vệ pháp luật, song “không phải là biện
pháp duy nhất mà đòi hỏi ngày càng mở rộng các biện pháp tác động xã hội khác
để đấu tranh phòng và chống tội phạm”. Mặt khác, miễn TNHS với các tên gọi
khác nhau được áp dụng trong thời kỳ này chủ yếu để thực hiện phương châm trong
đường lối xử lý, đó là “nghiêm trị kết hợp với khoan hồng” , “trừng trị kết hợp với
giáo dục, cải tạo”. Tuy nhiên, do yêu cầu bảo vệ nền độc lập và trật tự an toàn xã
hội của Nhà nước Việt Nam dân chủ Cộng hòa vừa mới ra đời, chưa quy định cụ thể
nên các điều kiện áp dụng miễn TNHS được xác định tương tự như các điều kiện xử
nhẹ hoặc miễn hình phạt. Chúng được quy định trong các văn bản pháp lý dưới đây:
- Sắc lệnh số 52/SL ngày 20/10/1945 là văn bản pháp luật hình sự đầu tiên
trong giai đoạn này quy định về đại xá cho một số trường hợp phạm tội trước ngày
19/08/1945. Theo đó, những người phạm tội trước ngày 19/08/1945 về những loại
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
sau đây đều được hoàn toàn xá miễn:
“1.Tội phạm vào luật lệ báo chí; 2. Tội phạm vào luật lệ hội họp; 3. Tội của
thợ thuyền bị phạt do luật lao động; 4. Tội phạm trong khi đình công; 5. Tội phạm
vào luật lệ về quan thuế và thương mại, rượu lậu, thuốc phiện lậu, muối lậu và các
hàng hóa khác; 6. Tội phạm vào luật lệ kiểm lâm; 7. Tội phạm vào luật lệ kinh tế
chỉ huy; 8. Tội vô ý giết người hoặc đánh người có thương tích; 9. Tội vi cảnh”
(Điều 1 Sắc lệnh số 52/SL).
Như vậy, đại xá là một biện pháp khoan hồng của Nhà nước, có tác dụng tha
tội – thường là hoàn toàn và triệt để - cho hàng loạt những người phạm vào những
dân chủ…”
Thời gian sau, để kiên quyết đập tan mọi âm mưu và hành động của bọn phản
cách mạng, đồng thời bảo vệ chính quyền cách mạng, bảo đảm an ninh chính trị, thì
chủ trương, đường lối trấn áp phản cách mạng nói chung là phải đồng thời, nghiêm
khắc và kiên quyết, song khi xử lý từng vụ án cụ thể cần phải kết hợp “nghiêm trị
với khoan hồng, trừng trị với cải tạo, giáo dục” nhằm phân hóa hàng ngũ bọn phản
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
cách mạng, đè bẹp tư tưởng chống đối và làm tan rã các tổ chức của chúng. Do đó,
Bộ Tư pháp đã ban hành Thông tư số 03-BTP/TT tháng 04 năm 1976 hướng dẫn thi
hành Sắc luật quy định về tội phạm và hình phạt. Thông tư này vẫn nêu rõ nguyên
tắc xét xử bọn phản cách mạng là:
“Nghiêm trị bọn chủ mưu, bọn cầm đầu, bọn có nhiều tội ác, bọn ngoan cố
chống lại cách mạng; khoan hồng đối với những kẻ bị ép buộc, bị lừa phỉnh, lầm
đường và những kẻ thật thà hối cải; giảm nhẹ hình phạt hoặc miễn hình phạt cho
những kẻ lập công chuộc tội”.
Sau ngày miền Nam mới giải phóng, nước ta trong bối cảnh các thế lực thù
địch khác vẫn đang bao vây và cấm vận, đồng thời chúng ta phải đối phó với hai
cuộc chiến tranh ở biên giới Tây nam và phía Bắc, đất nước còn phải đối mặt với
những khó khăn chồng chất và gây gắt về kinh tế và đời sống, tình hình tiêu cực,
nhất là tệ nạn hối lộ diễn biến phức tạp. trước tình hình đó, ngày 20/05/1981, Ủy
ban Thường vụ Quốc hội đã ban hành Pháp lệnh trừng trị tội hối lộ. Sự ra đời của
Pháp lệnh này là một sự kiện pháp lý quan trọng, góp phần củng cố, giữ vững và
tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa, động viên và khuyến khích tất cả công dân
tích cực tham gia đấu tranh chống tệ hối lộ và những hiện tượng tiêu cực khác trong
xã hội. Một mặt, Pháp lệnh thể hiện tinh thần đấu tranh rất kiên quyết, triệt để và
GVHD: TS. Phạm Văn Beo
Trang 14
SVTH: Lê Hoàng Khải
pháp khoan hồng đặc biệt cùng với các biện pháp tha miễn TNHS và hình phạt khác
trong Luật hình sự Việt Nam. Tuy nhiên, việc lựa chọn biện pháp này hay biện pháp
miễn hình phạt, giảm nhẹ hình phạt, tha miễn hình phạt…để áp dụng trong trường
hợp cụ thể thì ngoài việc áp dụng điều kiện quy định trong từng điều luật tương ứng
ra, còn phải dựa vào các điều kiện khác như: đường lối, chính sách của Đảng và
Nhà nước trong từng thời điểm, hoàn cảnh lịch sử, yêu cầu đấu tranh phòng và
chống tội phạm từng nơi, từng lúc và đối với từng vụ án cụ thể, đặc biệt là đối với
các vụ phản cách mạng, chống phá Nhà nước…Đây cũng là điều kiện linh hoạt của
biện pháp miễn TNHS và còn thể hiện trong luật hình sự nước ta nội dung “mềm
dẻo” của chế định này.
GVHD: TS. Phạm Văn Beo
Trang 15
SVTH: Lê Hoàng Khải
Luận văn tốt nghiệp
Trên cơ sở tổng kết nghiên cứu các văn bản pháp luật hình sự đã ban hành
trong thời kỳ này cho thấy, những trường hợp được xem xét để áp dụng miễn TNHS
có thể bao gồm:
- Có quyết định đại xá;
-
Có âm mưu phạm tội nhưng tự nguyện nửa chừng chấm dứt việc phạm tội;
Trước khi sự việc bị phát giác đã thành thật tự thú khai rõ âm mưu, hành
động của mình và của đồng bọn.
- Người phạm tội đã có những hành động ngăn chặn, hoặc làm giảm bớt tác
một số trường hợp khác cho phù hợp với tình hình và điều kiện kinh tế-xã hội trong
giai đoạn mới. Theo đó, trong BLHS năm 1985, những trường hợp miễn TNHS
được quy định cụ thể như sau:
- Miễn TNHS do tự ý nữa chừng châm dứt việc phạm tội (Điều 16);
- Miễn TNHS do chuyển biến của tình hình mà hành vi phạm tội hoặc người
phạm tội không còn nguy hiểm cho xã hội nữa (đoạn 1 khoản 1 Điều 48);
- Miễn TNHS do người phạm tội tự thú, thật thà khai báo, ăn năn hối cải
(đoạn 2 khoản 1 Điều 48);
- Miễn TNHS đối với người chưa thành niên phạm tội (khoản 3 Điều 59);
- Miễn TNHS đối với người phạm tội gián điệp (khoản 3 Điều 74);
- Miễn TNHS đối với người phạm tội đưa hối lộ (khoản 5 Điều 227);
- Miễn TNHS đối với người phạm tội không tố giác tội phạm (khoản 2, Điều
247).
Việc quy định biện pháp miễn TNHS trong các điều luật này do xuất phát từ
nguyên tắc nhân đạo và chính sách khoan hồng, đồng thời biện pháp này được đặc
ra trong các trường hợp phạm tội nếu xét thấy không phải truy cứu TNHS và buộc
GVHD: TS. Phạm Văn Beo
Trang 16
SVTH: Lê Hoàng Khải
Luận văn tốt nghiệp
người phạm tội phải chịu hình phạt mà vẫn đảo bảo được yêu cầu phòng ngừa
chung và phòng ngừa riêng.
Sau một thời gian áp dụng BLHS năm 1985, Hội đồng Thẩm phán Tòa án
nhân dân tối cao đã ban hành Nghị quyết số 02- HĐTP ngày 05/01/1986, trong đó
có hướng dẫn cụ thể về việc tự ý nữa chừng chấm dứt việc phạm tội của người thực
hành tội phạm, cụ thể đề cập đến các điều kiện của tự ý nữa chừng chấm dứt việc
tội phạm.
GVHD: TS. Phạm Văn Beo
Trang 17
SVTH: Lê Hoàng Khải
Luận văn tốt nghiệp
- Đối với người giúp sức phải chấm dứt việc tạo những điều kiện tinh thần, vật
chất cho việc thực hiện tội phạm (như không cung cấp phương tiện, công cụ phạm
tội; không chỉ điểm, dẫn đường cho kẻ thực hành…). Nếu sự giúp sức của người
giúp sức đang được những người đồng phạm khác sử dụng để thực hiện tội phạm,
thì người giúp sức cũng phải có những hành động tích cực như đã nêu ở trên đối
với người xúi giục, người tổ chức để ngăn chặn việc thực hiện tội phạm.
Ngoài ra, để phù hợp với thực tiễn xét xử và vận dụng linh hoạt chế định miễn
TNHS cho một số đối tượng cụ thể và phạm một tội cụ thể, nếu đáp ứng đầy đủ căn
cứ và những điều kiện nhất định, thì họ vẫn được xem xét để áp dụng chế định này.
Cụ thể, ngày 02/06/2990, Bộ Nội vụ (nay là Bộ Công an), Viện Kiểm sát nhân dân
tối cao, Bộ Tư pháp đã ban hành Thông tư liên ngành số 05/TTLN nêu rõ căn cứ để
miễn truy cứu TNHS đối với người phạm tội trốn khỏi nơi giam. Theo đó, miễn
TNHS đối với tội trốn khỏi nơi giam được dùng với tên gọi miễn truy cứu TNHS
đối với một tội phạm nhất định, cụ thể là:
- Người phạm tội đang bị dẫn giải, tạm giữ, tạm giam để điều tra hoặc chờ xét
xử mà bỏ trốn, nhưng đã ra tự thú thì tùy từng trường hợp cụ thể có thể áp dụng
biện pháp cho cá nhân hoặc tổ chức nhận bảo lãnh hoặc cấm đi khỏi nơi cư trú; nếu
trong thời gian trốn tránh mà không phạm tội mới thì có thể được miễn truy cứu
TNHS về tội trốn khỏi nơi giam quy định tại Điều 245 BLHS 1985…
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Những trường hợp miễn TNHS này được nhà làm luật nước ta phân chia thành
những trường hợp miễn TNHS có tính chất bắt buộc hoặc tùy nghi. Theo đó, đối với
những trường hợp bắt buộc, nếu người phạm tội đáp ứng đầy đủ căn cứ và những
điều kiện cụ thể quy định trong điều luật thì các cơ quan tư pháp hình sự có thẩm
quyền bắt buộc phải ra quyết định để miễn TNHS cho họ. Ngoài ra, đối với những
trường hợp có tính chất lựa chọn, thì mặc dù người phạm tội có đầy đủ căn cứ và
những điều kiện cụ thể quy định trong điều luật, nhưng việc có áp dụng hay không
áp dụng miễn TNHS đều do cơ quan tư pháp hình sự có thẩm quyền quyết định, căn
cứ vào tình hình thực tế, vào yêu cầu đấu tranh phòng và chóng tội phạm, cũng như
vào nhân thân người phạm tội.
Tóm lại, việc quy định miễn TNHS trong lịch sử lập pháp hình sự Việt Nam
trước đây với nhiều tên gọi khác nhau và trong BLHS năm 1999 hiện hành có ý
nghĩa quan trọng không chỉ động viên, khuến khích người phạm tội lập công chuộc
tội, chứng tỏ khả năng giáo dục, cải tạo, nhanh chóng hòa nhập với cộng đồng, mà
còn tạo cơ sở pháp lý cho sự kết hợp các biện pháp cưỡng chế hình sự của Nhà
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
nước với các biện pháp tác động xã hội trong việc giáo dục, cải tạo người phạm tội,
qua đó nâng cao hiệu quả công tác đấu tranh phòng và chóng tội phạm.
1.4. PHÂN BIỆT MIỄN TRÁCH NHIỆM HÌNH SỰ VỚI MỘT SỐ
KHÁI NIỆM KHÁC
Nghiên cứu PLHS Việt Nam hiện hành cho thấy: bên cạnh thuật ngữ “miễn
TNHS”, đôi khi tại một số điều luật cụ thể của BLHS năm 1999 các nhà làm luật
nước ta còn sử dụng các thuật ngữ như: “truy cứu TNHS” trong điều quy định về
hiệu lực của BLHS đối với những hành vi phạm tội ngoài lãnh thổ nước Cộng hòa
xã hội chủ nghĩa Việt Nam (đoạn 1 khoản 1 và khoản 2 Điều 6); về nguyên tắc xử
lý người chưa thành niên phạm tội (khoản 3 Điều 69); về tội truy cứu TNHS người
không có tội (Điều 293); thuật ngữ “miễn hình phạt” quy định tại Điều 54 và
khoản 3 Điều 314 tội không tố giác tội phạm; khái niệm “không phải chịu TNHS”
trong điều quy định về sự kiện bất ngờ (Điều 11); và điều về tình trạng không có
dụng liệu
chỉ doĐH
mộtCần
cơ quan
tư pháp
hình liệu
sự tương
áp và
dụng
(Cơ quancứu
điều
Trungđược
tâmápHọc
Thơ
@ Tài
họcứng
tập
nghiên
tra với sự phê chuẩn của Viện Kiểm sát, Viện Kiểm sát hoặc Tòa án). Trong khi đó,
truy cứu TNHS là hoạt động của các cơ quan tư pháp hình sự có thẩm quyền (Cơ
quan điều tra với sự phê chuẩn của Viện Kiểm sát, Viện kiểm sát hoặc Tòa án) kế
tiếp nhau áp dụng theo trình tự (thủ tục) TTHS tương ứng để buộc người phạm tội
phải chịu TNHS về hành vi phạm tội mà họ đã thực hiện;
Thứ hai, người được miễn TNHS khác với người bị truy cứu TNHS ở chỗ mặc dù cũng là người phạm tội nhưng vì trong vụ án nếu có căn cứ và những điều
kiện do PLHS quy định thì họ được miễn TNHS. Nói một cách khác, với người
được miễn TNHS họ (có thể) không bị truy cứu TNHS, không bị kết tội, không phải
chịu hình phạt và không bị coi là có án tích. Còn người bị truy cứu TNHS thì họ bị
khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử và cưỡng chế thi hành biện pháp của TNHS bởi các
cơ quan tư pháp hình sự có thẩm quyền (Cơ quan điều tra, Viện Kiểm sát, Tòa án).
1.4.2. Phân biệt miễn trách nhiệm hình sự với miễn hình phạt