Mối quan hệ giữa các cơ quan tiến hành tố tụng trong giải quyết vụ án hình sự - Pdf 25


1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT

NGUYỄN TRUNG KIÊN
MỐI QUAN HỆ GIỮA CÁC CƠ QUAN TIẾN HÀNH TỐ TỤNG
TRONG GIẢI QUYẾT VỤ ÁN HÌNH SỰ

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Nguyễn Ngọc Chí HÀ NỘI - 2013 3
MỤC LỤC
Trang

Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Mục lục

MỞ ĐẦU
1
Chương 1:
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ MỐI QUAN HỆ GIỮA
CÁC CƠ QUAN TIẾN HÀNH TỐ TỤNG TRONGGIẢI
QUYẾT VỤ ÁN HÌNH SỰ

6
1.1. Cơ quan tiến hành tố tụng hình sự 6
1.2. Mối quan hệ giữa các cơ quan tiến hành tố tụng 12
1.2.1.

Vị trí, chức năng của các cơ quan tiến hành tố tụng hình sự 12

TỤNG TRONG GIẢI QUYẾT VỤ ÁN HÌNH SỰ THEO
QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VIỆT NAM

33
2.1. Tổ chức, vị trí và nhiệm vụ, quyền hạn của các cơ quan tiến
hành tố tụng hình sự theo quy định của pháp luật Việt Nam
33

4
2.1.1.

Cơ quan điều tra 33
2.1.2.

Viện kiểm sát 37
2.1.3.

Tòa án 40
2.2. Đặc điểm và nội dung mối quan hệ giữa các cơ quan tiến hành
tố tụng trong giải quyết vụ án hình sự theo quy định của pháp
luật Việt Nam
41
2.2.1.

Đặc điểm, nội dung mối quan hệ giữa Cơ quan điều tra với
Viện kiểm sát
45
2.2.2.

Đặc điểm và nội dung mối quan hệ giữa Cơ quan điều tra với

Những vấn đề đặt ra cho mối quan hệ giữa các cơ quan tiến
hành tố tụng trong giải quyết vụ án hình sự
88
3.2.2.

Một số giải pháp nâng cao hiệu quả mối quan hệ giữa các cơ
quan tiến hành tố tụng trong giải quyết các vụ án hình sự
93

KẾT LUẬN
105

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
107 5
MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài
Hiến pháp Việt Nam năm 1992 (được sửa đổi, bổ sung năm 2001) đã
khẳng định nhiệm vụ mang tính chiến lược của nước ta là xây dựng Nhà nước
pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Trước nhiệm vụ xây dựng nhà nước
pháp quyền xã hội chủ nghĩa nhằm đáp ứng yêu cầu của thời kỳ công nghiệp
hóa - hiện đại hóa đất nước, Đảng và Nhà nước ta đã triển khai các nhiệm vụ
cải cách tư pháp nhằm mục tiêu nâng cao chất lượng công tác tư pháp vì sự
phát triển chung của đất nước.
Việc nâng cao trách nhiệm của Nhà nước đối với công dân; đảm bảo
hiệu quả hoạt động và tính độc lập của các cơ quan tư pháp; bảo vệ lợi ích của
Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân… là những đòi hỏi

2. Tình hình nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu của đề tài
Trong những năm qua đã có một số công trình nghiên cứu, đề tài khoa
học và bài viết liên quan đến vấn đề mối quan hệ giữa các cơ quan tiến hành
tố tụng trong giải quyết vụ án hình sự, trong đó đáng chú ý là một số công
trình sau:
Công trình của PGS,TS Đỗ Ngọc Quang về "Mối quan hệ giữa cơ
quan điều tra với các cơ quan tham gia tố tụng hình sự" (sách tham khảo), đề
cập mối quan hệ giữa Cơ quan điều tra với các cơ quan tiến hành tố tụng khác
và các cơ quan bổ trợ tư pháp trong tố tụng hình sự. Luận văn thạc sĩ luật học
của Nguyễn Tiến Sơn với đề tài "Mối quan hệ giữa Cơ quan điều tra và Viện
kiểm sát trong tố tụng hình sự Việt Nam", phân tích cơ sở và những đặc trưng
cơ bản của quan hệ cũng như những chế định cụ thể trong mối quan hệ giữa
Viện kiểm sát và Cơ quan điều tra xuất phát từ vai trò, chức năng của Viện
kiểm sát và của Cơ quan điều tra trong quá trình tiến hành các hoạt động tố
tụng hình sự. Luận văn thạc sĩ luật học của Hoàng Ngô Văn với đề tài "Mối

7
quan hệ giữa cơ quan Cảnh sát điều tra và Viện kiểm sát trong giai đoạn khởi
tố điều tra", mới chỉ đề cập, nghiên cứu, phân tích mối quan hệ giữa Cơ quan
Cảnh sát điều tra và Viện kiểm sát trong giai đoạn khởi tố điều tra vụ án hình
sự. Luận văn thạc sĩ luật học của Ngô Hồng Sơn với đề tài "Mối quan hệ giữa
cơ quan Cảnh sát điều tra và Viện kiểm sát nhân dân trong quá trình điều tra
bổ sung các vụ án hình sự theo yêu cầu của Viện kiểm sát nhân dân", đã nghiên
cứu thực trạng và đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả mối quan hệ
giữa cơ quan Cảnh sát điều tra và Viện kiểm sát trong quá trình điều tra bổ
sung vụ án hình sự. Luận văn thạc sỹ luật học của tác giả Vũ Văn Sơn với đề
tài "Quan hệ phối hợp giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra với Viện kiểm sát, Tòa
án trong điều tra truy tố xét xử các vụ án hình sự ở cấp huyện - tỉnh Hải
Dương", đã phân tích lý luận về quan hệ phối hợp giữa các cơ quan tiến hành
tố tụng và đưa ra một số giải pháp cơ bản nâng cao hiệu quả quan hệ phối hợp

nhân dân trong giải quyết vụ án hình sự ở Việt Nam.
Nhiệm vụ
Để đạt được mục đích trên, luận văn có các nhiệm vụ sau:
- Làm sáng tỏ những vấn đề cơ bản về mối quan hệ giữa các cơ quan
tiến hành tố tụng trong giải quyết vụ án hình sự ở Việt Nam.
- Làm rõ thực trạng và các yêu cầu về mối quan hệ giữa các cơ quan
tiến hành tố tụng trong giải quyết vụ án hình sự ở Việt Nam, cũng như xác
định phương hướng và các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng mối quan hệ
giữa các cơ quan tiến hành tố tụng trong giải quyết vụ án hình sự.
4. Phương pháp nghiên cứu
Đề tài được nghiên cứu dựa trên cơ sở của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư
tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng và lý luận nhà nước và pháp luật.
Qua nghiên cứu những tài liệu thu thập được luận văn này sử dụng phương
pháp phân tích, tổng hợp, phương pháp duy vật biện chứng, duy vật lịch sử,
phương pháp điều tra, khảo sát, thống kê, so sánh và một số phương pháp khác.

9
5. Những điểm mới và ý nghĩa của luận văn
Đây là đề tài chuyên khảo mà tôi nghiên cứu dựa trên những hiểu biết
về tri thức khoa học pháp lý, trình bày, phân tích và đánh giá có hệ thống về
mối quan hệ giữa các cơ quan tiến hành tố tụng trong giải quyết vụ án hình sự.
Lần đầu tiên, trên cơ sở lý luận và thực tiễn phân tích một cách có hệ
thống thực trạng và các yêu cầu về mối quan hệ giữa các cơ quan tiến hành tố
tụng trong giải quyết vụ án hình sự ở Việt Nam.
Đưa ra những phương hướng, giải pháp nhằm nâng cao chất lượng
mối quan hệ giữa các cơ quan tiến hành tố tụng trong giải quyết vụ án hình sự
Những kết quả nghiên cứu của luận văn có thể được tham khảo và vận
dụng từng bước vào quá trình nâng cao chất lượng công tác cải cách tư pháp
theo tinh thần Nghị quyết số 49/NQ-TW của Bộ Chính trị ở Việt Nam hiện nay.
6. Kết cấu của luận văn

Ngược lại, ở Việt Nam hoặc những nước mà việc tổ chức quyền lực nhà nước
theo nguyên tắc tập quyền thì hoạt động tư pháp có phạm vi rộng hơn, không
chỉ có hoạt động xét xử mà còn có cả hoạt động khởi tố, điều tra, truy tố và thi
hành án. Theo đó, cơ quan tiến hành tố tụng bao gồm Cơ quan điều tra, Viện
kiểm sát, Tòa án, Cơ quan thi hành án để đảm nhiệm hoạt động điều tra, truy
tố, xét xử, thi hành án.
Hoạt động tư pháp trong tố tụng hình sự là hoạt động của các cơ quan
tiến hành tố tụng thực hiện, mang tính quyền lực nhà nước, được quy định
trong pháp luật tố tụng hình sự và trực tiếp liên quan đến quá trình giải quyết
các vụ án hình sự. Cho dù các cơ quan này, với những nguyên tắc tổ chức bộ

11

máy nhà nước khác nhau và nằm trong nhánh quyền lực nào thì hoạt động của
nó cũng mang tính độc lập không bị chi phối bởi bất kỳ cơ quan, tổ chức cá
nhân nào. Trong các nhà nước dù được tổ chức theo nguyên tắc nào thì Tòa
án cũng là một trong số các cơ quan quyền lực nhà nước thực hiện chức năng
xét xử và là đại diện hoặc là trung tâm của quyền lực tư pháp.
Cơ quan tiến hành tố tụng hình sự là những cơ quan nhà nước đại diện
cho quyền lực công để xét xử tội phạm, để thực hành quyền công tố truy cứu
trách nhiệm hình sự một người ra trước Tòa án và để thi hành án hình sự. Cá
nhân, tổ chức thực hiện quyền tư tố không đại diện cho quyền lực nhà nước
nên mặc dù có tham gia vào quá trình giải quyết vụ án hình sự nhưng không
phải là cơ quan tiến hành tố tụng.
- Quan hệ pháp luật tố tụng hình sự mang tính quyền uy đảm bảo cho
các cơ quan nhà nước có thẩm quyền thực hiện việc áp dụng trách nhiệm hình
sự đối với người phạm tội. Tùy tính phức tạp, nghiêm trọng và yêu cầu giải
quyết vụ án phải chính xác, nhanh chóng, xử lý công minh, không làm oan
người vô tội, không để lọt tội phạm, đồng thời do yêu cầu khách quan của
việc giải quyết vụ án hình sự nên không phải bất kỳ cơ quan nhà nước nào

chứng cứ và lai lịch người phạm tội rõ ràng, thì ra quyết định khởi tố vụ án,
khởi tố bị can, tiến hành điều tra và chuyển hồ sơ cho Viện kiểm sát có thẩm
quyền trong thời hạn hai mươi ngày, kể từ ngày ra quyết định khởi tố vụ án;
+ Đối với tội phạm nghiêm trọng, rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm
trọng hoặc tội phạm ít nghiêm trọng nhưng phức tạp thì ra quyết định khởi tố
vụ án, tiến hành những hoạt động điều tra ban đầu và chuyển hồ sơ cho Cơ
quan điều tra có thẩm quyền trong thời hạn bảy ngày, kể từ ngày ra quyết định
khởi tố vụ án. Riêng đối với các cơ quan nghiệp vụ trong Công an nhân dân,
Quân đội nhân dân thì chỉ được tiến hành một số hoạt động như: khởi tố vụ
án, tiến hành những hoạt động điều tra ban đầu và chuyển hồ sơ cho Cơ quan
điều tra có thẩm quyền trong thời hạn bảy ngày, kể từ ngày ra quyết định khởi
tố vụ án. Khi tiến hành hoạt động điều tra, các cơ quan này phải thực hiện

13

đúng nguyên tắc, trình tự, thủ tục tố tụng đối với hoạt động điều tra theo quy
định của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 và Viện kiểm sát có trách nhiệm
kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động điều tra của các cơ quan này.
Trong quá trình tiến hành tố tụng còn có các cơ quan, tổ chức tham gia
vào việc thi hành bản án, quyết định của Tòa án. Các cơ quan này có chức
năng thực hiện một số nhiệm vụ liên quan đến việc đưa quyết định, bản án
của Tòa án đã có hiệu lực ra thi hành nhưng cũng không phải là cơ quan tiến
hành tố tụng. Điểm khác biệt giữa cơ quan tiến hành tố tụng và cơ quan, tổ
chức có trách nhiệm đưa bản án, quyết định đã có hiệu lực ra thi hành ở chỗ:
các cơ quan này chỉ thực hiện một số nhiệm vụ đưa bản án, quyết định đã có
hiệu lực ra thi hành, còn việc ra quyết định đưa bản án đã có hiệu lực pháp
luật vào thi hành và giám sát các hoạt động liên quan đến việc thi hành quyết
định, bản án đó lại do cơ quan tiến hành tố tụng thực hiện.
- Giải quyết vụ án khách quan, công bằng là mục đích mà các cơ quan
tiến hành tố tụng phải hướng tới trong quá trình tiến hành tố tụng. Khi vụ án

và trên cơ sở đó đưa ra quyết định và bản án phù hợp với các tình tiết khách
quan của vụ án;
+ Trách nhiệm chứng minh vụ án thuộc về bên buộc tội (Cơ quan
công tố, Viện kiểm sát), những chủ thể khác của tố tụng hình sự có quyền
nhưng không có nghĩa vụ phải chứng minh.
Vấn đề cốt lõi để bảo đảm những khía cạnh nêu trên của tính khách
quan trong quá trình giải quyết vụ án là sự vô tư của những người tiến hành tố
tụng. Sự vô tư của những người này được hiểu là trong quá trình giải quyết họ
phải có thái độ công tâm khi thu thập, đánh giá chứng cứ và kết luận các vấn
đề của vụ án, phải dựa vào các qui định của pháp luật làm căn cứ, hướng tới
công lý, bình đẳng làm mục tiêu của toàn bộ hoạt động tố tụng, không vì tình
riêng mà thiên vị đưa ra các quyết định không phù hợp với thực tế khách quan
và trái pháp luật [7].
Ngoài trách nhiệm hướng tới sự khách quan, tố tụng hình sự còn đòi
hỏi việc công bằng của các cơ quan tiến hành tố tụng trong quá trình tố tụng.

15

"Quyền được xét xử công bằng" là một quyền cơ bản và có tính phổ quát cao,
tồn tại trong cả các vụ án hình sự và phi hình sự. Giải quyết vụ án công bằng
đòi hỏi các cơ quan tiến hành tố tụng phải bảo đảm những quyền cụ thể sau
đối với người bị tình nghi phạm tội: Quyền bình đẳng trước tòa án và được
xét xử bởi tòa án độc lập, không thiên vị, công khai; Quyền bào chữa; Quyền
được xét xử theo thủ tục riêng của người chưa thành niên; Quyền kháng cáo;
Quyền được bồi thường khi bị kết án oan; Quyền không bị xét xử hai lần về
cùng một tội danh; Không bị truy cứu hình sự vì lý do không thực hiện được
nghĩa vụ hợp đồng; Không bị coi là có tội nếu hành vi không cấu thành tội
phạm theo pháp luật vào thời điểm thực hiện hành vi; Không áp dụng hồi tố
cũng được nghiên cứu khi đề cập đến quyền được xét xử công bằng.
Thủ tục tố tụng giải quyết vụ án hình sự đòi hỏi tính chặt chẽ, dân chủ,

nước thực hiện chức năng tư pháp của nhà nước, trên cơ sở đó mỗi cơ quan
lại có chức năng của riêng mình trong hoạt động tố tụng hình sự. Theo quan
niệm chung được thừa nhận tương đối rộng rãi thì tố tụng hình sự có ba chức
năng: chức năng buộc tội; chức năng gỡ tội; chức năng xét xử. Trong đó chức
năng xét xử, chức năng buộc tội (trong trường hợp công tố) hoàn toàn thuộc
thẩm quyền của các các cơ quan tiến hành tố tụng, chức năng gỡ tội là quyền
của người bị buộc tội và người bào chữa. Việc phân định hợp lý thẩm quyền
của các chủ thể tố tụng hình sự theo các chức năng cơ bản nêu trên sẽ giúp
cho hoạt động tố tụng hình sự có tính chuyên nghiệp cao, tăng cường trách
nhiệm của các chủ thể trong việc thực hiện chức năng tố tụng được giao, là
điều kiện quan trọng để bảo đảm mục tiêu, hiệu quả của tố tụng hình sự. Ngoài
ra, ba chức năng cơ bản của tố tụng hình sự được phân định rõ ràng còn là
điều kiện quan trọng cho việc phân công và kiểm soát quyền lực nhà nước
giữa các cơ quan nhà nước trong giải quyết vụ án hình sự. Đồng thời, nó cũng
góp phần làm minh bạch, dân chủ trong tố tụng hình sự, góp phần tôn trọng
và bảo đảm quyền con người. Những chức năng của tố tụng hình sự do nhiều
chủ thể thực hiện, đó là những cơ quan, người đại diện cho công quyền;
Người có quyền, lợi ích liên quan đến vụ án; Các cơ quan, cá nhân khác liên

17

quan hoặc tham gia vào quá trình giải quyết vụ án. Trong số này thì các cơ
quan tiến hành tố tụng là chủ thể chính giải quyết phần lớn các chức năng của
tố tụng hình sự. Cụ thể là:
Tòa án
Khi tội phạm xảy ra những xung đột về lợi ích cần phải giải quyết bởi
một cơ quan đại diện cho công quyền, đại diện công lý là Tòa án. Vì vậy, hoạt
động xét xử vụ án hình sự của Tòa án không những là hoạt động nhân danh
quyền lực nhà nước mà còn nhân danh công lý xem xét, đánh giá xác định sự
thật vụ án một cách khách quan, toàn diện, đầy đủ để ra bản án, quyết định

tố được chuyển thành Viện kiểm sát và ngoài chức năng công tố, nó còn đảm
nhiệm một nhiệm vụ rất quan trọng, đó là kiểm sát việc tuân theo pháp luật,
nhằm đảm bảo cho pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất
trong phạm vi cả nước. Sau khi xuất hiện lần đầu tiên ở nước Nga, mô hình
Viện kiểm sát - cơ quan thực hiện quyền công tố - đã được các nước xã hội
chủ nghĩa áp dụng. Với chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát việc
tuân theo pháp luật, nhằm đảm bảo pháp chế xã hội chủ nghĩa, vai trò của
Viện kiểm sát ngày càng được đề cao trong việc tổ chức bộ máy nhà nước.
Viện kiểm sát là cơ quan trực thuộc Quốc hội - Cơ quan quyền lực nhà nước
cao nhất, và được tổ chức theo ngành dọc từ trung ương xuống địa phương.
Cơ quan điều tra
Trong các mô hình tố tụng hình sự, một phần chức năng công tố được
thực hiện bởi Cơ quan điều tra. Cơ quan này là một trong những chủ thể tố
tụng hình sự, nhân danh Nhà nước (công quyền) thực hiện các hoạt động điều
tra xác định sự thật khách quan của vụ án và những vấn đề liên quan đến trách
nhiệm hình sự của người phạm tội cũng như những nội dung khác có liên
quan. Đồng thời, cơ quan điều tra còn có trách nhiệm chứng minh, xác định
nguyên nhân, điều kiện phạm tội và đưa ra ra biện pháp khắc phục, phòng
ngừa tội phạm. Tùy theo đặc điểm tổ chức bộ máy nhà nước, mỗi quốc gia có
cách thức tổ chức hoạt động điều tra và phân công thẩm quyền điều tra cho

19

những cơ quan khác nhau. Về cơ bản có những cách thức sau: Cơ quan công
tố trực tiếp tiến hành điều tra trên cơ sở phối hợp, trợ giúp của cơ quan cảnh
sát hoặc những cơ quan khác như: Cơ quan An ninh, Quân đội, Hải quan
Trong trường hợp này chức năng điều tra là một trong những nội dung của
quyền công tố và do cơ quan công tố đảm nhiệm; Cơ quan công tố không trực
tiếp tiến hành các hoạt động điều tra nhưng chỉ đạo mọi hoạt động điều tra
của cơ quan điều tra và những cơ quan khác được giao tiến hành một số hoạt

đại diện.
- Bên công tố: Khái niệm quyền công tố bao hàm trong đó quyền phát
hiện những hành vi vi phạm những điều cấm của nhà nước và việc nhân danh
nhà nước truy tố hành vi vi phạm và người vi phạm đó ra trước Tòa án.
Các hoạt động điều tra tội phạm, truy tố và buộc tội bị cáo trước Tòa
án là những hình thức để thực hiện quyền công tố. Nếu xét về thẩm quyền thì
đó là những hoạt động của các cơ quan hành pháp và do vậy, đó là chức năng
của hành pháp trong quá trình thực hiện vai trò duy án trì và bảo vệ trật tự
pháp luật. Nếu xét theo mục đích cần đạt được thì những hoạt động này nằm
trong chuỗi các hoạt động tư pháp vì đích cần hướng tới ở đây là xét xử tội
phạm đã xảy ra; Điều tra, truy tố là để xét xử. Trong trường hợp mục đích xét
xử không còn thì sẽ không còn chức năng công tố. Chức năng công tố là một
hệ thống hoạt động do những cơ quan khác nhau thực hiện, trong đó Viện
kiểm sát chịu trách nhiệm chủ đạo. Vì thế pháp luật của các quốc gia đều giao
cho Viện kiểm sát hoặc các thiết chế tương tự vai trò chỉ huy điều tra, chí ít là
phối hợp điều tra và phê chuẩn kết luận điều tra, quyết định truy tố hay không
truy tố. Tại phiên tòa sơ thẩm xét xử vụ án hình sự, Viện kiểm sát là chủ thể
duy nhất giữ quyền công tố, là một bên trong tố tụng tranh tụng với việc một
mình chịu trách nhiệm chứng minh lời buộc tội; chịu trách nhiệm về dung
lượng và chất lượng buộc tội, truy tố hay rút truy tố (toàn bộ hay từng phần).
Hơn thế nữa, Viện kiểm sát còn có nhiệm vụ đưa ra các lập luận trong việc
bác bỏ (một phần hay toàn bộ) nội dung bào chữa của bên bị buộc tội. Vì vậy,

21

yêu cầu đối với việc bảo vệ quan điểm truy tố, nội dung, mức độ và phương
pháp buộc tội phải được đặt ra ngay từ thời điểm khởi tố vụ án và kết thúc khi
bản án của Tòa án có hiệu lực pháp luật hoặc khi chính cơ quan công tố chủ
động rút quyết định truy tố. Là một bên trong vụ án, mọi hoạt động của chủ
thế quyền công tố đều phải chịu sự điều hành của Tòa án. Toàn quyền quyết

"nemo judex sine actore" - sẽ không có xét xử nếu không có bên nguyên.
Để đóng được vai trò là khâu trung tâm, việc xét xử của Tòa án phải
thực sự là tạo ra sự tự do tranh luận, tự do trình bày quan điểm, chứng cứ của
các bên: Bên buộc tội cũng như bên bào chữa. Tòa án phải là chủ thể trung
tâm của hoạt động xét xử theo nghĩa tạo mọi điều kiện cho những hoạt động
tố tụng nói trên. Yếu tố "vô tư", "khách quan" của các cá nhân Thẩm phán khi
xem xét chứng cứ, lời khai, khi quyết định về tội danh và hình phạt.
Đối với chủ thể thực hiện quyền công tố; trên cơ sở khẳng định quyền
công tố (truy tố, buộc tội) là hoạt động có mục đích nhất quán kể từ khi khởi
tố vụ án hình sự nhằm xác định hành vi tội phạm và truy tố người phạm tội ra
trước Tòa án để xét xử, chủ thể của quyền đó cần hiểu được là Cơ quan điều
tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát và Kiểm sát viên, người bị hại, nguyên đơn
dân sự. Những chủ thể này có mục đích chung là phát hiện tội phạm và đưa
người phạm tội ra truy tố. Trong số đó, cần quy định Viện kiểm sát là chủ thể
chịu trách nhiệm chính và cuối cùng đối với việc thực hiện chức năng này.
Như đã nói ở trên, tại phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án hình sự, chủ thể duy
nhất thực hiện chức năng công tố là Viện kiểm sát mà đại diện là Kiểm sát viên,
đối diện với bên gỡ tội bào chữa (người bào chữa, bị cáo, bị đơn dân sự).
Đại diện Viện kiểm sát trước tòa chịu trách nhiệm về chất lượng, dung
lượng, mức độ buộc tội; có quyền thay đổi mức độ buộc tội so với mức độ
buộc tội ban đầu; có quyền quyết định truy tố nếu thấy không đủ chứng cứ
buộc tội hoặc có căn cứ để không áp dụng trách nhiệm hình sự đối với bị cáo.
Như vậy, chất lượng buộc tội trước Tòa án của Viện kiểm sát phụ
thuộc vào chất lượng điều tra, truy tố và cần đặt trách nhiệm đối với việc bảo

23

đảm chất lượng này cho Viện kiểm sát. Vì thế, cần xác định thẩm quyền kiểm
sát và chỉ huy hoạt động điều tra cho Viện kiểm sát mà không đơn thuần chỉ
dừng lại ở những thẩm quyền hiện hành, được quy định tại Điều 36 và Điều 37

được trong hoạt động tố tụng hình sự. Quan hệ chế ước giữa các cơ quan tiến
hành tố tụng không phải là quan hệ quyền uy, mệnh lệnh, phục tùng. Tức là,
quan hệ giữa các cơ quan này không phải là quan hệ chấp hành và điều hành.
Khi thực hiện nhiệm vụ tố tụng, yêu cầu đặt ra cho các cơ quan tiến hành tố
tụng là phải tuyệt đối tuân thủ các quy định trong Bộ luật tố tụng hình sự. Nếu
vi phạm thì hoạt động tố tụng hình sự bị coi là bất hợp pháp. Hậu quả của nó
không chỉ xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của công dân mà còn có
thể dẫn đến những sai lầm nghiêm trọng, giải quyết vụ án sai lệch với sự
khách quan. Chế ước là sự cần thiết để mỗi cơ quan độc lập trong việc thực
hiện chức năng, nhiệm vụ của mình, kịp thời phát hiện vi phạm pháp luật của
cơ quan khác, từ đó có biện pháp ngăn chặn, khắc phục, sửa chữa.
Quan hệ phối hợp và chế ước giữa các cơ quan tiến hành tố tụng tồn
tại đan xen nhau, liên quan chặt chẽ với nhau trong quá trình tố tụng. Thậm
chí trong một số trường hợp nhất định sự thể hiện cụ thể của mối quan hệ này
là rất khó phân biệt. Để hoàn thành nhiệm vụ tố tụng, các cơ quan tiến hành tố
tụng phải coi trọng và phát huy cả hai loại quan hệ, thực hiện sự phối hợp và
chế ước phải được giới hạn trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn
mà pháp luật quy định cho mỗi cơ quan. Khác với các hoạt động tố tụng dân
sự, kinh tế, lao động hoạt động tố tụng hình sự là hoạt động hết sức khó khăn
và phức tạp. Nó nhằm vào chứng minh một sự kiện, một hiện tượng đã tồn tại
trong quá khứ. Vì thế, các cơ quan tiến hành tố tụng không thể đơn lẻ tự mình
mà giải quyết được vụ án. Điều đó có nghĩa là quan hệ phối hợp hoạt động
giữa các cơ quan tiến hành tố tụng, là hết sức quan trọng và cần thiết nhằm
tạo ra sự đồng bộ, thống nhất trong hoạt động để vụ án được giải quyết một
cách nhanh chóng, chính xác, công mình và đúng pháp luật. Tuy nhiên, sự
phối hợp đó cũng chỉ ở một giới hạn, mức độ nhất định trong khuôn khổ mà

25

pháp luật cho phép. Tức là không được thái quá, vì như vậy sẽ xâm phạm tính


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status