ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
LÝ MINH VỮNG VAI TRÒ CỦA HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN
TRONG VIỆC GIÁM SÁT HOẠT ĐỘNG
CỦA CÁC CƠ QUAN TIẾN HÀNH TỐ TỤNG HÌNH SỰ
(Trên cơ sở các số liệu địa bàn tỉnh Cà Mau) Chuyên ngành: Luật hình sự và tố tụng hình sự
Mã số: 60 38 01 04 LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS. NGUYỄN CẢNH HỢP HÀ NỘI - 2013
MỞ ĐẦU 1
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN - PHÁP LÝ VỀ VAI TRÒ CỦA HỘI
ĐỒNG NHÂN DÂN TRONG VIỆC GIÁM SÁT HOẠT ĐỘNG
CỦA CÁC CƠ QUAN TIẾN HÀNH TỐ TỤNG HÌNH SỰ 5
1.1. Cơ sở lý luận về về vai trò giám sát của HĐND đối với hoạt động của
các cơ quan tiến hành TTHS 5
1.1.1. Khái niệm giám sát của HĐND đối với hoạt động của các cơ quan
tiến hành TTHS 5
1.1.2. Vai trò giám sát của HĐND đối với hoạt động của các cơ quan tiến
hành TTHS 9
1.1.3. Nội dung, đối tượng, hình thức, căn cứ và các nguyên tắc cơ bản về
giám sát của HĐND đối với hoạt động của các cơ quan tiến hành TTHS. 10
1.2. Hậu quả của hoạt động giám sát 23
1.2.1. Kết luận giám sát và kiến nghị đến cơ quan được giám sát về việc thi
hành kết luận giám sát 23
1.2.2. Kiến nghị đến cơ quan cấp trên của cơ quan được giám sát về một số
vấn đề có liên quan 24
1.3. Hoạt động giám sát của HĐND đối với hoạt động của các cơ quan
tiến hành TTHS qua các thời kỳ lịch sử ở Việt Nam 24
1.3.1. Theo quy định của Hiến pháp năm 1959 24
1.3.2. Theo quy định của Hiến pháp 1980 25
1.4. Pháp luật hiện hành về hoạt động giám sát của HĐND đối với hoạt
động của các cơ quan tiến hành TTHS 26
1.4.1. Quy định của Hiến pháp về hoạt động giám sát của HĐND đối với
hoạt động của các cơ quan tiến hành TTHS 26
1.4.2. Quy định của Luật Tổ chức HĐND và UBND về hoạt động giám sát
của HĐND đối với hoạt động của các cơ quan tiến hành TTHS 26
1.4.3. Quy định của Luật TTHS về hoạt động giám sát của HĐND đối với
hoạt động của các cơ quan tiến hành TTHS 27
1.4.4. Các quy định khác về hoạt động giám sát của HĐND đối với hoạt
3.3.1. Đổi mới hình thức giám sát của HĐND đối với hoạt động của các cơ
quan tiến hành TTHS 69
3.3.2. Đổi mới hình thức và nội dung chất vấn 70
3.3.3. Tăng cường thu thập và xử lý thông tin có liên quan đến hoạt động
của các cơ quan tiến hành TTHS 71
3.3.4. Hoạt động giám sát đối với các cơ quan tiến hành TTHS phải được
tiến hành thường xuyên 71
3.3.5. Nâng cao hiệu quả giám sát các cơ quan tiến hành TTHS tại kỳ họp
của HĐND 72
3.3.6. Lựa chọn, cơ cấu Đại biểu, bồi dưỡng kiến thức pháp luật và kỹ năng
giám sát cho Đại biểu HĐND 72
3.3.7. Tăng cường vai trò điều hòa, phối hợp hoạt động của Thường trực
HĐND, các Ban HĐND 73
KẾT LUẬN 74
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 76
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
HĐND: Hội đồng nhân dân
UBND: Ủy ban nhân dân
VKSND: Viện kiểm sát nhân dân
TAND: Tòa án nhân dân
TTHS: Tố tụng hình sự
1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Đã gần bảy mươi năm kể từ khi ra đời, vai trò của HĐND các cấp ở
né tránh, nể nang, ngại va chạm… nên hiệu lực và hiệu quả giám sát của
HĐND chưa cao.
Nguyên nhân của những hạn chế trên là: 1) có sự hạn chế trong nhận
thức (chưa nhận thức đúng, đầy đủ về vị trí, chức năng, vai trò, trách nhiệm
của HĐND); 2) thiếu sự tự tin và chưa quyết liệt của một bộ phận Đại biểu
(còn nể nang, ngại va chạm v.v…); 3) chưa có quy định ràng buộc trách
nhiệm pháp lý nếu không thực hiện đúng kết luận giám sát; 4) thêm nữa, tính
hình thức trong hoạt động của HĐND, cơ chế cho hoạt động giám sát chưa rõ
ràng (làm cho một số Đại biểu HĐND thiếu tự tin vào hoạt động); 5) sự hạn
chế về năng lực, trình độ; 6) thiếu thông tin lẫn thời gian thỏa đáng dành cho
hoạt động thực hiện nhiệm vụ Đại biểu…
Đây chính là một vấn đề bức xúc cần được nghiên cứu, hoàn thiện;
trên cơ sở đó, tìm ra những giải pháp phù hợp góp phần khắc phục những
vướng mắc, bất cập trong hoạt động giám sát của HĐND như đã nói ở trên,
để hoạt động này ngày càng hiệu quả. Đó là lý do tác giả chọn đề tài: Vai
trò của HĐND trong việc giám sát hoạt động của các cơ quan tiến hành
TTHS (trên cơ sở các số liệu thực tiễn của địa bàn tỉnh Cà Mau) làm đề tài
luận văn thạc sĩ luật học.
2. Tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài
Thời gian qua đã có một số bài viết nghiên cứu về hoạt động giám sát
của HĐND đối với hoạt động của các cơ quan tiến hành TTHS trên các tạp
chí, sách chuyên khảo nhưng vẫn chưa có một công trình nghiên cứu chuyên
sâu về vấn đề này, quan điểm của các tác giả vẫn còn nhiều nội dung chưa đạt
đến sự đồng thuận, vì vậy vấn đề này cần phải được tiếp tục nghiên cứu.
3
Tuy nhiên, ở các khía cạnh khác của hoạt động giám sát của HĐND
cũng có một số công trình nghiên cứu, bài viết quan trọng như:
- Sách chuyên khảo: „„Giám sát và cơ chế giám sát việc thực hiện
quyền lực Nhà nước”. Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 1996 do GS.TSKH Đào
nước ta về xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, về cải cách tư
pháp; đồng thời, dựa trên cơ sở các bài viết, các đề tài khoa học của các nhà
nghiên cứu lý luận về vai trò, nhiệm vụ, hình thức hoạt động giám sát của
HĐND, các hoạt động của các cơ quan tiến hành TTHS.
Các phương pháp nghiên cứu được tác giả vận dụng gồm: phân tích,
tổng hợp, đối chiếu, so sánh, thống kê hình sự.
5. Điểm mới của luận văn
Điểm mới của luận văn gồm:
- Làm sáng tỏ hơn các quy định của pháp luật hiện hành về giám sát
của HĐND đối với hoạt động của các cơ quan tiến hành TTHS, chỉ ra những
vướng mắc, bất cập trong quá trình áp dụng.
- Đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật về giám sát của HĐND đối với
hoạt động của các cơ quan tiến hành TTHS.
- Đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả giám sát của HĐND đối với
hoạt động của các cơ quan tiến hành TTHS.
6. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung
của luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận - pháp lý về vai trò của HĐND trong việc
giám sát hoạt động của các cơ quan tiến hành TTHS.
Chương 2: Thực trạng hoạt động giám sát của HĐND đối với hoạt
động của các cơ quan tiến hành TTHS tại tỉnh Cà Mau.
Chương 3: Hoàn thiện pháp luật và các giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt
động giám sát của HĐND đối với hoạt động của các cơ quan tiến hành TTHS. 5
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN - PHÁP LÝ VỀ VAI TRÒ CỦA HỘI ĐỒNG
NHÂN DÂN TRONG VIỆC GIÁM SÁT HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC
chủ thể này” [1].
Cả bốn quan điểm trên đều thống nhất về cách thức tiến hành hoạt động
giám sát, đó là việc theo dõi, xem xét, kiểm tra. Đây cũng là cách hiểu mang
tính cơ bản trong quan điểm thứ nhất.
Riêng quan điểm của TS. Đặng Đình Tân và Ban Công tác lập pháp
bổ sung thêm “chủ thể có quyền lực”. Đây là yếu tố rất quan trọng bởi giám
sát thể hiện mối quan hệ giữa chủ thể giám sát với đối tượng giám sát. Mối
quan hệ giữa chúng phải được xây dựng trên cơ sở mối quan hệ quyền lực,
chủ thể giám sát phải có quyền với đối tượng giám sát. Quyền ở đây phải là
quyền quyết định, quyền tác động đến đối tượng bị giám sát, ví dụ: quyền
bãi nhiệm, miễn nhiệm, quyền hủy bỏ văn bản quy phạm pháp luật, phê
bình, kỷ luật… Nói cách khác, đối tượng bị giám sát phải biết “sợ” chủ thể
giám sát. Đây chính là tiền đề dẫn đến việc chủ thể giám sát sẵn sàng tác
động bằng các biện pháp tích cực để buộc và hướng hoạt động của đối tượng
chịu giám sát đi đúng quỹ đạo, quy chế. Các biện pháp tác động tới đối
tượng giám sát như việc Quốc hội, HĐND bãi bỏ một phần hay toàn bộ văn
bản quy phạm pháp luật; hoặc định hướng hoạt động của đối tượng giám sát
như việc Quốc hội, HĐND ban hành nghị quyết về chất vấn, trả lời chất vấn,
các kiến nghị từ hoạt động giám sát của Hội đồng dân tộc, Ủy ban của Quốc
hội, Ban của Quốc hội hay Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam… Các kiến
nghị này không có giá trị bắt buộc thi hành nhưng sẽ tác động tới hành vi
của đối tượng bị giám sát.
Việc xác định chủ thể tiến hành giám sát và đối tượng bị giám sát là
7
cần thiết nhằm làm rõ hoạt động giám sát với hoạt động có tính chất gần
tương tự là kiểm tra, xem xét, theo dõi. Theo đó, giám sát là hoạt động được
thực hiện bởi chủ thể nằm bên ngoài tổ chức, hệ thống. Tức là cá nhân, tổ
chức, cơ quan này giám sát cá nhân, tổ chức, cơ quan khác trong việc thực
hiện nhiệm vụ của nó. Khi phân biệt hoạt động giám sát với thanh tra, TS.
vụ ban hành các nghị quyết về các biện pháp bảo đảm thi hành nghiêm chỉnh
Hiến pháp và pháp luật ở địa phương; quyết định những vấn đề quan trọng ở
địa phương như kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, về ngân sách, quốc
phòng, an ninh ở địa phương và các biện pháp nhằm ổ định và nâng cao đời
sống của người dân, hoàn thành mọi nhiệm vụ cấp trên giao, làm tròn nghĩa
vụ với Nhà nước; thực hiện quyền giám sát đối với các cơ quan Nhà nước ở
địa phương.Giám sát là một trong những nhiệm vụ hiến định của HĐND.
Giám sát của HĐND là thực hiện sự ủy quyền của nhân dân để giám sát
hoạt động của bộ máy Nhà nước, là một hình thức thực hiện quyền giám sát
của nhân dân được thực hiện bằng pháp luật, thông qua cơ quan quyền lực
Nhà nước là HĐND các cấp.
Từ các khái niệm chung về giám sát trên, căn cứ đối tượng giám sát của
HĐND, có thể hiểu khái niệm giám sát của HĐND như sau:
Giám sát của HĐND là hoạt động có mục đích, thường xuyên, liên tục
của HĐND nhằm quan sát, theo dõi, kiểm tra, phát hiện, uốn nắn việc tuân
theo pháp luật, chấp hành Nghị quyết HĐND đối với Thường trực HĐND,
UBND, TAND, VKSND cùng cấp, của cơ quan Nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ
chức xã hội, đơn vị vũ trang nhân dân và của công dân địa phương theo quy
định của pháp luật.
Như vậy, giám sát của HĐND thực chất là hoạt động nhằm kiểm soát
thực thi quyền lực Nhà nước. Giám sát chứa đựng những yếu tố thuộc tính
9
của công tác kiểm tra, kiểm soát và thanh tra. Trong quá trình giám sát, chủ
thể giám sát có quyền tiếp cận mọi đối tượng, mọi văn bản, hồ sơ theo yêu
cầu giám sát.
1.1.1.3. Khái niệm giám sát của HĐND đối với hoạt động của các cơ
quan tiến hành TTHS
Căn cứ vào khái niệm giám sát nói chung và các quy định của Hiến
pháp, Luật tổ chức HĐND và UBND năm 2003 và các văn bản pháp luật
Qua giám sát công tác giám sát giúp cho HĐND có thể phát hiện kịp
thời những hành vi vi phạm pháp luật của những người tiến hành tố tụng tại
các cơ quan tiến hành TTHS. Từ đó, HĐND có kết luận về những mặt làm
được, chưa được và đề ra biện pháp chấn chỉnh kịp thời.
Mặt khác, từ kết quả giám sát cũng nhằm kịp thời biểu dương những
việc làm tốt; đảm bảo cho pháp luật của Nhà nước được thực hiện đúng đắn
và thống nhất; củng cố niềm tin của nhân dân đối với Đảng và Nhà nước, mà
trước tiên là hoạt động tiến hành tố tụng của các cơ quan tiến hành TTHS.
Chính vì vậy, giám sát có vị trí, vai trò rất quan trọng trong hoạt động
của HĐND, tác động tích cực đến chất lượng hoạt động của HĐND và tình
hình phát triển của địa phương.
1.1.3. Nội dung, đối tượng, hình thức, căn cứ và các nguyên tắc cơ bản
về giám sát của HĐND đối với hoạt động của các cơ quan tiến hành TTHS.
1.1.3.1. Nội dung, đối tượng giám sát
1) Giám sát hoạt động khởi tố, điều tra của cơ quan điều tra thuộc lực
lượng cảnh sát nhân dân
Điều tra là giai đoạn TTHS, trong đó cơ quan có thẩm quyền áp dung
mọi biện pháp do Bộ luật TTHS quy định để xác định tội phạm và người thực
hiện hành vi phạm tội làm cơ sở cho việc xét xử của Tòa án.
11
Hoạt động điều tra là cần thiết đối với tất cả các vụ án hình sự. Thiếu
hoạt động điều tra, Tòa án không có cơ sở để giải quyết vụ án. Tòa án muốn xét
xử đúng người, đúng tội, đúng pháp luật thì trước đó, giai đoạn điều tra phải
thu thập được những chứng cứ cơ bản, bao gồm cả chứng cứ buộc tội và chứng
cứ gỡ tội, chứng cứ xác định tình tiết tăng nặng và tình tiết giảm nhẹ trách
nhiệm hình sự của bị can, cũng như xác định các tình tiết khác của vụ án.
Việc giám sát của HĐND đối với hoạt động khởi tố - Điều tra vụ án
hình sự của Cơ quan điều tra thể hiện qua các nội dung cơ bản như:
- Giám sát để xác định việc khởi tố, điều tra vụ án hình sự có đúng
t ra ha
̀
ng loa
̣
t vấn đề ly
́
luâ
̣
n va
̀
thư
̣
c tiê
̃
n cần tiếp tu
̣
c đươ
̣
c
nghiên cư
́
u va
̀
gia
̉
i quyết . Viê
̣
n kiê
̉
m sa
nh ro
̃
: “Trươ
́
c mắt, Viê
̣
n kiê
̉
m
sát nhân dân giữ nguyên chức năng như hiện nay là thực hành quyền công tố
12
và kiểm sát hoạt động tư pháp, tăng cươ
̀
ng tra
́
ch nhiê
̣
m cu
̉
a công tố trong hoa
̣
t
đô
̣
ng điều tra”.
Ở Việt Nam, cụm từ “thực hành quyền công tố” lần đầu tiên xuất hiện
trong các văn bản pháp lý là Hiến pháp năm 1980 khi đề cập đến chức năng
của VKSND tại Điều 138, và được nhắc lại ở các Điều 1 và 3 Luật tổ chức
VKSND năm 1981. Kể từ đó, đã có nhiều tài liệu, bài viết bàn về quyền công
hỏi quyền công tố phải được phát động. Khi quyền công tố được phát động thì
đồng nghĩa với hoạt động thực hành quyền công tố được triển khai và khi
quyền công tố không còn thì hoạt động thực hành quyền công tố cũng được
kết thúc. Vì vậy, phạm vi thực hành quyền công tố được bắt đầu từ khi khởi tố
vụ án hình sự và kết thúc khi bản án có hiệu lực pháp luật, không bị kháng
nghị, hoặc vụ án được đình chỉ theo quy định của pháp luật TTHS.
Để buộc tội đối với người đã thực hiện hành vi phạm tội, pháp luật đã
quy định hàng loạt các hoạt động tố tụng, như: khởi tố vụ án, khởi tố bị can,
tiến hành điều tra thu thập chứng cứ chứng minh hành vi phạm tội của người
đã thực hiện hành vi phạm tội, buộc tội đối với bị can, bị cáo và bảo vệ quan
điểm truy tố. Việc sử dụng các quyền năng pháp lý để thực hiện các hoạt động
tố tụng này chính là nội dung của thực hành quyền công tố.
Nội dung giám sát của HĐND đối với hoạt động của VKS biểu hiện
trên các phương diện sau đây:
a) Giám sát các hoạt động thuộc về quyền công tố:
- Trong giai đoạn khởi tố - điều tra: HĐND cần kiểm tra xem xét để
làm rõ: Viện kiểm sát có chủ động tham gia phối hợp với Cơ quan điều tra
trong nắm bắt, xử lý tin báo, tố giác tội phạm hay không; việc áp dụng pháp
luật trong giai đoạn này của Viện kiểm sát có đúng pháp luật hay không.Việc
đánh giá các tài liệu vụ án do Cơ quan điều tra chuyển đến có khách quan,
14
toàn diện không; việc trả hồ sơ cho Cơ quan điều tra điều tra bổ sung có đúng
quy định không; việc truy tố bị can ra xét xử tại Tòa án có đảm bảo các căn cứ
theo quy định của pháp luật không, có đúng người, đúng tội không; có để lọt
tội phạm và người phạm tội không.
- Trong giai đoạn xét xử: Việc đọc cáo trạng, thực hiện luận tội bị cáo
tại phiên tòa, tranh luận tại phiên tòa sơ thẩm có thể hiện đúng chức năng, vai
trò không; việc phát biểu quan điểm giải quyết vụ án tại các phiên tòa phúc
thẩm, giám đốc thẩm và tái thẩm như thế nào; kháng nghị các quyết định, bản
để ra những bản án, quyết định đúng pháp luật, có sức thuyết phục và trong
thời hạn pháp luật quy định. Chất lượng hoạt động tư pháp nói chung và hoạt
động xét xử nói riêng đã “được nâng lên một bước, góp phần giữ vững an
ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, tạo môi trường ổn định cho sự phát triển
kinh tế, hội nhập quốc tế, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”.
Nội dung giám sát hoạt động xét xử vụ án hình sự của TAND nhằm tập
trung làm rõ những vấn đề cơ bản như:
- Công tác chuẩn bị các điều kiện để đưa vụ án ra xét xử có được cơ
quan Tòa án quan tâm như thế nào.
- Tại phiên tòa, việc tranh tụng có được thực hiện đúng theo quy định
của pháp luật không, có đúng với tinh thần cải cách tư pháp hay không.
- Việc áp dụng các quy định của pháp luật để đưa ra các bản án có đảm
bảo đúng người, đúng tội và đúng pháp luật không.
- Về tiến độ cũng như chất lượng giải quyết án qua các năm như thế nào.
1.1.3.2. Hình thức giám sát
1) Giám sát tại các kỳ họp thông qua các báo cáo, chất vấn và trả lời
chất vấn
a) Giám sát thông qua xem xét các báo cáo trình kỳ họp.
16
Theo quy định của pháp luật hiện hành, ít nhất mỗi năm hai lần vào kỳ
họp giữa năm và cuối năm, thủ trưởng các cơ quan như TAND, VKSND phải
báo cáo công tác trước HĐND. Các báo cáo của hai cơ quan này được gửi
trước cho Thường trực, các Ban HĐND và Đại biểu HĐND trước khi khai
mạc kỳ họp HĐND để nghiên cứu, xem xét. Trên cơ sở nội dung các báo cáo
và quá trình nghiên cứu, các Đại biểu HĐND có thể nêu ý kiến và đề nghị
TAND và VKSND báo cáo, giải trình thêm. HĐND cũng có quyền yêu cầu
Chánh án TAND và Viện trưởng VKSND báo cáo về những vấn đề khác khi
xét thấy cần thiết (điều 52 Quy chế hoạt động của HĐND năm 2005).
Xem xét báo cáo công tác của Chánh án TAND và Viện trưởng
Pháp luật hiện hành quy định tương đối cụ thể về đối tượng thuộc
quyền chất vấn của Đại biểu HĐND, về thủ tục chất vấn và trả lời chất vấn
của Đại biểu HĐND.
Về đối tượng thuộc quyền chất vấn của đại biểu HĐND:
Theo quy định của Hiến pháp 1992 (sửa đổi 2001) và Luật tổ chức
HĐND và UBND năm 2003, Đại biểu HĐND có quyền chất vấn Chánh án Toà
án nhân dân, Viện trưởng VKSND (điều 122 Hiến pháp 1992, điều 41 Luật tổ
chức HĐND và UBND năm 2003). Đây là những người đứng đầu các cơ quan
tư pháp trên địa bàn.
2) Thành lập Đoàn giám sát trực tiếp theo chuyên đề, theo bản án, vụ việc
cụ thể
Theo quy định của Luật tổ chức HĐND và UBND năm 2003 và Quy
chế hoạt động của HĐND năm 2005, căn cứ vào chương trình giám sát của
HĐND hoặc khi xét thấy cần thiết, Thường trực HĐND tự mình hoặc theo đề
nghị của các Ban HĐND hoặc của Đại biểu HĐND trình HĐND quyết định
thành lập Đoàn giám sát của HĐND đối với các cơ quan tiến hành TTHS theo
phân cấp thẩm quyền.
18
Những vấn đề qua giám sát, kiểm tra được các cơ quan này giải trình
rõ, sẽ là yếu tố quan trọng giúp cho việc thẩm tra, thuyết trình, thảo luận và
quyết định các vấn đề tại kỳ họp có chất lượng; đồng thời giúp cho chính các
ngành này chỉ đạo thực hiện và tổ chức tốt hơn các vấn đề thuộc thẩm quyền.
Đoàn giám sát có quyền mời đại diện Ban thường trực Uỷ ban Mặt trận
tổ quốc Việt Nam cùng cấp, các tổ chức thành viên của Mặt trận và yêu cầu
đại diện cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân có liên quan, các chuyên gia về lĩnh
vực được giám sát tham gia Đoàn giám sát khi xét thấy cần thiết.
3) Giám sát thông qua hoạt động của Đại biểu HĐND, Tổ Đại biểu
HĐND.
Đại biểu HĐND tham gia trực tiếp vào hoạt động giám sát của HĐND
và bảo vệ quyền lợi chính đáng và hợp pháp của nhân dân địa phương. Đó
chính là bản chất quyền giám sát của HĐND.
Giám sát của HĐND là quyền của HĐND thực hiện việc theo dõi, xem
xét và đánh giá hoạt động của thường trực HĐND, UBND, TAND, VKSND
cùng cấp; các cơ quan Nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, đơn vị vũ
trang nhân dân và công dân địa phương trong việc thực hiện các nghị quyết
của HĐND và việc tuân theo Hiến pháp và pháp luật.
2) Quy chế hoạt động của HĐND năm 2005.
Tại các điều từ điều 51 đến điều 66, chương 6, Quy chế hoạt động của
HĐND được ban hành kèm theo Nghị quyết số 753/2005/NQ-UBTVQH11,
ngày 02 tháng 5 năm 2005 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội khóa XI, theo đó
là các quy định về nhiệm vụ, thẩm quyền, trình tự, thủ tục xây dựng, ban hành
chương trình giám sát hàng năm của HĐND, của Thường trực HĐND và các
Ban HĐND; thẩm quyền, trình tự, thủ tục tiến hành giám sát của Thường trực
HĐND, các Ban HĐND và các Đại biểu HĐND đối với UBND, TAND,