Bồi thường thiệt hại do người có thẩm quyền của cơ quan tiến hành tố tụng hình sự gây ra - Pdf 25

ĐẠI HỌC Ọ LÓC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
TRẦN THỊ THƯ THI Ỷ
BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI DO NGƯỜI CÓ THẨM QUYỀN
CỦA C ơ QUAN TI ÉN HÀNH TÓ TỤNG HÌNH s ự GÂY RA
CHUYÊN NGÀNH : LUẬT DÂN s ự
MÃ SỐ : 60 38 30
LUẬN VĂN THẠC s ĩ LUẬT HỌC
Người hirớng dẫn khoa học: TS. Nguyễn Minh Tuấn
ĐẠI HỌC QUỖC GIA HA NOi
TRUNG TẦM THÒNG TIN ĨHU VIỆN
[ V- __
HÀ NỘI - 2008
LỜÍ CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các tư liệu
được trích dân trong luận văn là trung thực. Những kiến nghị nêu trong luận văn
này là quan điêm độc lập của cá nhân tôi và chưa từng được công bố trong bất
cứ công trình nghiên cứu nào khác.
Tác giả
Trần Thị Thu Thủy
MỞ ĐÀU
CHƯƠNíỉ 1: NHŨNG VÁN ĐÈ LÝ LUẬN VẺ TRÁC H NHIỆM BÓI THƯỜNG
THIỆT HẠI CỦA Cơ QUAN TIẾN HÀNH TÓ TỤNG HÌNH sự.
1.1. Khái quát về cơ quan tiến hành tố tụng hình sự.
1.1.1 .Khái niệm về người có thẩm quyền tiến hành tố tụng hình sự.
1.1.2. Hệ thống các cơ quan tiến hành tố tụng.
1.2. Điều kiện phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại của cơ quan
THTT
1.2.1. Có thiệt hại thực tế xẩy ra
1.2.2. Có hành vi vi phạm pháp luật của người có thẩm quyền
THTT

2.2.1.3. Thu tục yêu cầu bồi thường 63
2.2.2. Cách thức giải quyết bồi thường 64
2.2.2.1. Giải quyết bồi thường thiệt hại bàng thưcmg lượng 64
2.2.2.2. Giải quyết bồi thường thiệt hại tại Toà án nhân dân 65
2.2.2.3. Nghĩa vụ hoàn trả 66
CHƯƠNG 3 : THựC THI PHÁP LUẬT VẺ TRÁCH NHIỆM BỐI THƯỜNG 69
THIỆT HẠI CỦA C ơ QUAN TIÊN HÀNH TÓ TỤNG HÌNH s ự .
3.1. Thực trạng áp dụng pháp luật. 69
3.1.1 Trong ngành Công an nhân dân.
3.1.2 Trong ngành Viện kiểm sát nhân dân. 74
3.1.3 Trong ngành Toà án. ^
77
3.2 Những khó khăn, vướng măc trong quá trình thực hiện Nghị quyêt sô
388
83
3.2.1 Xác định các trường hợp được bôi thường thiệt hại và không
được bồi thường thiệt hại.
3.2.2 về thương lượng giữa người bị oan với cơ quan có trách nhiệm 4
bồi thường.
84
3.2.3 Việc xác định mức bôi thường thiệt hại.
3.2.4 về xác định cơ quan có trách nhiệm bồi thường.
3.2.5 về trách nhiệm hoàn tra kinh phí bồi thường.
3.2.6 về thực hiện thời hạn chi tra tiền bồi thường thiệt hại.
3.2.7 về áp dụng Nghị quyết số 388 để giải quyết các trường hợp bị
oan.
3.3 Một sô kiến Iighị hoàn thiện pháp luật
3.3.1 Vê căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường nhà nước đổi với
hoạt động tố tụng hình sự.
3.3.2 Bồi thường thiệt hại không chỉ do oan mà cả do sai trong tố

DANH MỤC BIÉU BẢNG
1. Báng 3.1 : Số vụ việc yêu cầu bồi thường Tr 75
2. Bảng 3.2 : Số vụ án được chấp nhận bồi thường thiệt hại Tr 75
3. Bang 3.1 : Kinh phí đã được bồi thường thiệt hại theo Nghị quyết số
388 T r75
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết cùa việc nghiên cứu dề tài luận văn
Trong nhừng năm gần đây, hoạt động có hiệu qua cua các cơ quan tiến
hành tổ tụng hình sự đã góp phần quan trọng trong việc củng cố ky cương cùa
nhà nước, giữ vừng an ninh, chính trị, trật tự an toàn xã hội, tăng cường pháp
chế xã hội chu nghĩa. Tuy nhiên bên cạnh những kêt qua đạt được, trong quá
trình thực thi nhiệm vụ do các nguyên nhân chu quan và khách quan, do tính
chất phức tạp cua vụ án, do hạn chế về trình độ chuyên môn, nghiệp vụ đã
dẫn đến tinh trạng xử lý oan, sai trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử
trong hoạt động tố tụng hình sự. Nhà nước đã ban hành nhiều văn ban pháp
luật đê cụ thể hóa trách nhiệm bồi thường thiệt hại do người có thẩm quyền
cua cơ quan tiến hành tố tụng gây ra. Hơn nữa, trách nhiệm bồi thường thiệt
hại do người có thâm quyền của cơ quan tiến hành tố tụng gây ra trong khi thi
hành công vụ cũng đã được quy định ơ nhiều quốc gia trên thế giới.
Hiện nay, Điều 619 và Điều 620 Bộ luật dân sự năm 2005 quy định
trách nhiệm cua các cơ quan nhà nước trong trường hợp cán bộ, công chức
gây thiệt hại và Nghị quyết số 388/2003/NỌ-UBTVỌH 11 của ủy ban
thường vụ Ọuốc hội được ban hành ngày 17/3/2003 quy định về bồi thường
thiệt hại cho người bị oan do người có thâm quyền của cơ quan tiến hành tố tụng
hình sự gây ra. Việc ban hành Nghị quyết số 388 là cơ sở lý luận quan trọng thể
hiện tính công khai, minh bạch bảo đain quyền và lợi ích cua công dân, tạo sự
chuyên biến trong nhận thức và hoạt động của các cơ quan tiến hành tố tụng.
Nâng cao trách nhiệm của người tiến hành tố tụng và chất lượng hoạt động cua
các cơ quan tiến hành tố tụng.
Tuy nhiên, bên cạnh nhừng kết quà đạt được Nghị quyết số 388 vẫn bộc lộ một

trạng thi hành Nghị quyèt sô 388 trên thực tiên và đánh giá kèt qua đạt được và
chưa đạt dược của việc thi hành Nghị quyết này.
Luận văn cũng giới thiệu kinh nghiệm cua một quốc gia về trách nhiệm
bồi thường thiệt hại cua nhà nước. Trên cơ sơ đó đe xuất hướng hoàn thiện pháp
luật về bồi thường thiệt hại do người có thâm quyền cua cơ quan tiến hành tố
tụng hỉnh sự gây ra.
4.Phương pháp nghiên cứu
Luận vãn được thực hiện trên cơ sở quan điêm cua chu nghĩa Mác - Lê
nin, ứng dụng cơ sơ phương pháp luận duy vật biện chứng, duy vật lịch sử cùng
với khoa học lý luận về nhà nước pháp luật.
Đê thực hiện nghiên cứu đê tài, luận văn còn sư dụng nhiều phương pháp
nhiên cứu khoa học khác như: phương pháp phân tích, so sánh, tông hợp, thống
kê.
5. Ket cấu của luận văn
Luận văn được kết cấu gồm:
Lời nói đầu
Chương 1: Những vấn đề lý luận về trách nhiệm bồi thường thiệt hại
của cơ quan tiến hành tố tụng hình sự.
Chương 2: Nội dung các quy định pháp luật hiện hành về trách nhiệm bồi
thường thiệt hại của cơ quan tiến hành tố tụng.
Chương 3: Thực thi pháp luật về trách nhiệm bồi thường thiệt hại cua cơ
quan tiến hành tố tụng.
Ket luận
3
CHƯƠNG 1
NHỮNG VÁN ĐÈ LÝ LUẬN VÈ TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG
THIỆT HẠI CỦA C ơ QUAN TI ÉN HÀNH TỐ TỤNG HÌNH s ự
1.1. KHÁI QUÁT VẺ Cơ QUAN TIẾN HÀNH rớ TỤNG HÌNH sự .
1.1.1. Khái niệm về ngircri có thẩm quyền tiến hành tố tụng hình sự.
Hoạt động cua cơ quan Tư pháp nói chung và các cơ quan THTT nói

Nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm cua người tiến hành tố tụng được
quy định tại các Điều 34, Điều 35, Điều 36, Điều 37, Điều 38, Điều 39, Điều
40 và Điều 41 cua Bộ luật TTHS năm 2003. Đây được coi là cơ sở pháp lý
quan trọng xác định rõ nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm về nhừng hành vi,
quyết định của người tiến hành tố tụng trong quá trình tiến hành tố tụng.
* Chánh án, Phó chánh án Toà án, Thâm phán, Hội thâm nhân dân
và Thư ký Toà án
Tại Điều 38 Bộ luật TTHS năm 2003, Chánh án, Phó chánh án Toà án
có nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm Ỹu thè. Theo đó, Chánh án Toà án có
9 loại quyền hạn và trách nhiệm với tư cách là người đại diện cơ quan tiến
hành tố tụng và là người trực tiếp tiến hành giai quyết vụ án.
Theo khoản 1 Điêu 1 Pháp lệnh Thâm phán và Hội thâm Toàn án nhân
dân số 02/2002/PL-UBTVQH11 ngày 4/10/2002 quy định: “Thẩm phán là
người được bổ nhiệm theo quy định cúa pháp luật đe làm nhiệm vụ xét xử
những vụ án và giải quyết những việc khác thuộc thẩm quyền cua Toà án”.[
15] Trong quá trình tố tụng các Thẩm phán có quyền xét xử sơ thâm, phúc
thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm. Hoạt động xét xử cua Thâin phán độc lập
tuyệt đối chỉ tuân theo các quy định cua pháp luật.
5
Tiêu chuân đè một người có thê trở thành Thẩm phán dược quy định tại
Điều 5 khoản 1- Pháp lệnh 02/2002/PL-UBTVQH11: “Thẩm phán phải là
Công dân Việt Nam trung thành với Tô quốc và Hiến pháp nước Cộng hoà xã
hội chủ nghĩa Việt nam, có phâin chất đạo đức tốt, liêm khiết và trung thực,
có kiến thức pháp lý, nghiêm chinh chấp hành pháp luật, có tinh thân kiên
quyẻt bao vệ pháp chê XHCN có đu sức khoẻ đam báo hoàn thành nhiệm vụ
dược giao”. [15]
Địa vị pháp lý cua Thâm phán giữ vai trò trọng tâm trong việc xét xử
vụ án hinh sự. Bơi Thâm phán nhân danh quyền lực Nhà nước phán quyêt
một người là có tội hay không có tội. Nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm
cua Thâm phán được quy định tại Điều 39 Bộ luật TTHS năm 2003 bao gồm:

của công dân, có đu sức khoe đam bao hoàn thành nhiệm vụ được giao.
Hội thẩm làm nhiệm vụ theo sự phân công của Chánh án Toà án nơi
mình được bầu hoặc cử làm Hội thẩm. Khi tham gia Hội đồng xét xử, Hội
thẩm binh đẳng với Thẩm phán và phai chịu trách nhiệm trước pháp luật về
những hành vi và quyết định của mình. Theo quy định tại Điều 40 Bộ luật
TTHS năm 2003 thì Hội thâm chỉ có quyên tiến hành các hoạt đông tô tụng và
biểu quyết những vấn đề thuộc thâm quyền cua Hội đồng xét xử tại các phiên
toà xét xử vụ án hình sự theo thu tục sơ thẩm và phúc thẩm.
Tuy hoạt động cua Hội thâm không phai là một nghề chuyên nghiệp,
nhưng nguyên tảc thực hiện chế độ xét xử có Hội thâm tham gia góp phân vào
việc củng cố mối quan hệ giữa Toà án và nhân dân, nâng cao tính chính xác
trong công tác xét xừ và góp phòng và chống các loại tội phạm trong xã hội.
Trong quá trình xét xử vụ án hình sự, ngoài Thẩm phán và Hội thâm ra
phải kể đến vai trò của Thư ký Toà án. Thư ký toà án là cán bộ cua Toà án
7
được phân công làm nhiệm vụ ghi biên ban phiên tòa và những việc khác theo
quy định cua pháp luật. Thư ký Toà án thực hiện nhiệm vụ theo sự phân công
cua Chánh án Toà án và phải chịu trách nhiệm trước pháp luật và trước Chánh
án Toà án về những hành vi cua mình.
Theo Điều 41 Bộ luật TTHS năm 2003, Thư ký Toà án được phân công
tiến hành tố tụng đoi với vụ án hình sự có nhiệm vụ: phô biến nội quy phicn
toà; báo cáo Hội đồng xét xử danh sách những người được triệu tập đến phièn
toà; ghi biên bản phiên toà và tiến hành các hoạt động tố tụng khác thuộc
thâm quyền cua Toà án theo sự phân công của Chánh án toà án. [3]
* Viện trưởng, Phó viện trirởng Viện kiêm sát, Kiêm sát viên
Tại Điều 36 Bộ luật TTHS năm 2003, Viện trưởng, Phó viện trưởng
Viện kiểm sát là người đại diện cơ quan tiến hành tố tụng đồng thời cũng là
người tiến hành tố tụng. Tuy nhiên, Phó viện trương Viện kiểm sát khi tham
gia tố tụng với tư cách là người đại diện cơ quan tiến hành tố tụng thì phải
được sự uỷ nhiệm thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn cùa Viện trưởng Viện kiểm

- Thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn khác thuộc thâm quyền của Viện
kiêm sát theo sự phân công cua Viện trưởng Viện kiêm sát.
Ngoài ra, trong hoạt động tố tụng hình sự, Kiểm sát viên là người đại
diện cho cơ quan kiêm sát thực hiện nhiệm vụ kiểm sát việc tuân theo pháp
luật các hoạt động cua cơ quan điều tra, xét xử, thi hành án hình sự. Mặt khác,
Kiêm sát viên có quyền thực hiện nhiệm vụ công tố trước Toà án đê bao vệ
quyên lợi cua cá nhân, tô chức và của nhà nước.
Việc thực hiện quyền công tố và kiếm sát việc tuân theo pháp luật của
Kiểm sát viên phai chịu trách nhiệm trước pháp luật và trước Viện trương
Viện kiểm sát về những hành vi và quyết định cua mình.
9
Thủ trưởng, Phó thú trưởng Cơ quan diều tra, Diều tra viên
Tại Điều 34 Bộ luật TTHS năm 2003, Thủ trưởng, Phó thủ trưởng Cơ
quan điều tra là người đại diện cơ quan tiến hành tố tụng đồng thời cũng là
người tiến hành tô tụng.
Theo Điêu 29 Pháp lệnh tô chức điêu tra hình sự năm 2004 Điêu tra
viên là người được bô nhiệm theo quy định của pháp luật đê làm nhiệm vụ
điều tra vụ án hình sự. [16] Như vậy, điều tra viên là một chức danh pháp lý
được quy định trong pháp luật Tố tụng hình sự đê chi người trong Cơ quan
điều tra, dược bô nhiệm và được phép tiến hành các hoạt động điều tra theo
pháp luật tố tụng hình sự, với tư cách là người có thâm quyên THTT.
Theo quy định cua pháp luật Điều tra viên có ba bậc là Điều tra viên sơ
cấp, Điều tra viên trung cấp và Điều tra viên cao câp. Trong đó, Điêu tra viên
sơ cấp có khả năng điều tra các vụ án thuộc loại tội ít nghiêm trọng, nghiêm
trọng. Điều tra viên trung cấp điều tra các vụ án thuộc loại tội phạm rất
nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng và có khả năng hướng dẫn các hoạt động
điều tra cua Điều tra viên sơ cấp. Điều tra viên cao cấp có khả năng điều tra
các vụ án thuộc loại tội phạm rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng, phức
tạp, có khả năng hướng dẫn các hoạt động điều tra của Điều tra viên sơ câp,
Điều tra viên trung cấp.

quy định khác, tác gia xin làm rõ ở chương tiếp theo.
1.1.2 Hệ thống các cơ quan tiến hành tố tụng
Bộ máy Nhà nước là hệ thống tổ chức các cơ quan thực hiện quyền lực
nhà nước thống nhất, có sự phân công phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan đó
trong việc thực hiện ba quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp. Cơ quan THTT
chiếm một vị trí, vai trò rất quan trọng trong bộ máy nhà nước, bởi cơ quan
11
THTT thực thi quyền tư pháp trong việc giải quyỏt các vụ việc theo thu tục
được pháp luật quy định nhằm bao vệ pháp chế XHCN, quyền và lợi ích hợp
pháp của cá nhân, tô chức và nhà nước.
Tại khoản 1 Điều 33 Bộ luật TTHS năm 2003, cơ quan THTT gồm có:
Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát và Toà án.[3] Hoạt động tô tụng hình sự diễn
ra qua nhiêu giai đoạn tô tụng, ơ mỗi giai đoạn tô tụng sẽ có cơ quan tô tụng
tham gia theo quy định của pháp luật. Chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn cua
từng cơ quan THTT được quy định cụ thể, hoạt động của các cơ quan THTT
này có mối quan hệ chặt chẽ trong quá trình tô tụng, đàm bảo quá trình tô
tụng hình sự được thực hiện đúng, phát hiện các hành vi vi phạm pháp luật.
* Cơ quan diều tru
Theo Pháp lệnh Tổ chức điều tra hình sự năm 2004 của ƯBTVQH,và
Ỉ3Ộ luật tố tụng hình sự năm 2003 cơ quan điều tra gồm có:
Cơ quan điều tra trong lực lượng Công an nhân dân;cơ quan điều tra
trong quân đội nhân dân; cơ quan điều tra của VKSND tối cao.
Ngoài ra còn có một số các cơ quan khác được giao nhiệm vụ tiến hành
một sổ hoạt đông điều tra như Hải quan, Bộ đội biên phòng, kiểm lâm Các
cơ quan này không phải là cơ quan điều tra nhưng do tính chất cua công việc
và yêu cầu phát hiện nhanh chóng, xử lý kịp thời các hành vi phạm tội nên
được phép tiến hành một số hoạt động điều tra trong phạm vi quyền hạn được
pháp luật quy định.
Theo khoản 1 Điều 1 Pháp lệnh tố chức và điều tra hình sự năm 2004,
cơ quan điều tra trong Công an nhân dân có các cơ quan sau:

13
giam dè đảm bao cho quá trình điều tra, truy tô, xét xử nhăm mục dích
chung không bo lợt tội phạm, không làm oan người vô tội.
Ket qua điều tra cua cơ quan điều tra là căn cứ đè truy tô người có hành
vi phạm tội nên việc điều tra có ý nghĩa quan trọng đưa ra quyêt đinh có truy
tổ hay không truy tố một vụ việc. Ọuá trình này nêu được tiến hành thiêu
khách quan hoặc có sự vi phạm thi hậu quả là việc điêu tra sai sẽ dân đỗn truy
tố sai. Do đó cần thiết phai có sự tham gia cua một cơ quan giữ vai trò kiêm
tra, giám sát việc tuân theo pháp luật cua tất ca các hoạt động điều tra ngay từ
giai đoạn đầu của quá trình tố tụng, đó chính là Viện kiêm sát.
* Viện kiếm sát
Theo quy định Điều 1 Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2002
và Điều 137 Luật sưa đôi, bô sung một số điều cua Hiến pháp 1992 quy định:
Viện kiểm sát nhân dân có nhiệm vụ thực hiện quyên công tố và kiêm sát sốt
các hoạt động tư pháp, góp phần bảo đam cho pháp luật được châp hành
nghiêm chinh và thống nhất.
Như vậy, chức năng cơ bản cùa Viện kiêm sát là thực hiện quyên công
tố và kiềm sát việc tuân theo pháp luật trong các hoạt động tư pháp nói chung,
tố tụng hình sự nói riêng. Quyền công tố là quyền Nhà nước giao cho Viện
kiểm sát thực hiện theo quy định của pháp luật. Đó là quyền đại diện cho Nhà
nước để đưa các vụ việc vi phạm ưật tự pháp luật ra trước cơ quan xét xử
nhàm bào vệ lợi ích của Nhà nước, bào vệ trật tự pháp luật, bảo vệ quyền và
lợi ích hợp pháp cua công dàn. [22, tr 29]
Thực hiện quyền công tố cua Viện kiêm sát thẻ hiện ở : Ọuyêt định
khới tố bị can, quyết định áp dụng, thay đôi, huy bo các biện pháp băt, tạm
giữ, tạm giam, phê chuân, không phè chuân các quyết định của cơ quan điẻu
tra, thực hiện việc luận tội
14
Kiểm sát hoạt động tư pháp bao gồm: Kiêm sát việc khơi tô, điêu tra,
xét xử án hình sự. Ngoài ra, kiểm sát việc giải quyêt các vụ án hành chính,

tội và phải chịu hình phạt khi chưa có bản án kẽt tội đã có hiệu lực cua Toà
án”. [3] Hoạt động xét xử cua Toà án là giai đoạn quyêt định cua quá trình tỏ
tụng hình sự có vai trò quan trọng nhất trong phán xét một người có tội hay
vô tội. Việc định tội danh, đưa ra chế tài hình sự đối với người có tội đòi hỏi
Toà án phải căn cứ vào hành vi vi phạm pháp luật và nhừng tinh tiết cụ thê
diễn ra trong quá trình thực hiện hành vi vi phạm cua người đó. Toà án cũng
là cơ quan phải chịu trách nhiệm về quyết định không đúng trong các trường
hợp gây ra oan, sai hoặc chưa đủ các yếu tố cấu thành tội phạm mà Toà án đã
ra quyết định trước đó.
Trong hoạt động điều tra, truy tố xét xử, vấn đề có tính chất lý luận là
xác định mối quan hệ pháp lý giữa các cơ quan THTT vơi nhau trong việc
thực hiện nhiệm vụ tố tụng nhàm cụ thể hoá trách nhiệm của mỗi cơ quan
trong việc bồi thường thiệt hại do người có thâm quyền THTT gây ra. Đặc
biệt đổi với các vụ án oan sai thì xác định cơ quan nào có trách nhiệm bôi
thường thiệt hại có ý nghĩa thực tiễn trong việc khắc phục thiệt hại cho người
bị oan sai.
Trong hệ thống tổ chức bộ máy của nhà nước môi cơ quan THTT có
những chức năng nhiệm vụ riêng biệt, tuy nhiên các cơ quan này đêu đại diện
cho quyền lực nhà nước trong việc điều tra, truy tố, xét xử, vì vậy thông qua
mối quan hệ cua các cơ quan này đà tạo nên các cơ quan tiến hành tô tụng.
Moi quan hệ giữa cơ quan điều tra và Viện kiêm sát là mối quan hệ trực
tiếp dè cùng thực hiện nhiệm vụ tố tụng tại cùng một giai đoạn tô tụng, thi
16
mối quan hệ giữa cơ quan điều tra và Toà án không phản ánh mối quan hệ
phụ thuộc nhau trong hoạt động tố tụng. [27, tr 17]
Bộ luật TTHS năm 2003 không quy định về mối quan hệ giữa các cơ
quan tiến hành tố tụng nhưng không có nghĩa hoạt động tỏ tụng của các cơ
quan THTT không có mối quan hệ qua lại với nhau. Mối quan hệ giữa các cơ
quan này thê hiện ơ việc tham gia giải quyèt các vụ án cụ thê, nêu có sự phôi
hợp kịp thời và đồng bộ thì hiệu quả giải quyêt vụ án sẽ đạt đựòc kêt qua cao,

phu nhận nguvèn tắc chung trong việc xác định căn cứ phát sinh trách nhiệm
bồi thường thiệt hại cua nhà nước, trường hợp thiệt hại xay ra do sự kiện bât
khả kháng trong thời gian bị oan hoặc do lỗi của người bị oan thì người bị oan
cũng không được bồi thường thiệt hại này. Tuy nhiên, Nghị quyết số 388 chỉ
áp dụng đối với các trường hợp người bị oan có thiệt hại từ hành vi làm oan
cua cơ quan tiến hành tố tụng. Nghị quyết số 388 quy định rõ những trường
hợp người bị oan có thê được bôi thường. [23] Cụ thê, những người thuộc các
trường hợp sau đây được bồi thường thiệt hại:
- Người bị tạm giữ mà có quyết định của cơ quan có thâm quyền trong
hoạt động tố tụng hình sự huy bò quyết định tạm giữ vì người đó không thực
hiện hành vi vi phạm pháp luật;
- Người bị tạm giam mà có quyết định của cơ quan có thẩm quyền
trong hoạt động tố tụng hình sự huỷ bo quyết định tạm giam vì người đó
không thực hiện hành vi phạm tội;
- Người đã chấp hành xong hoặc đang chấp hành hình phạt tù có thời
hạn, tù chung thân, đã bị kết án tử hình mà có bản án, quyết định cua Toà án
có thâm quyền xác định người đó không thực hiện hành vi phạm tội;
- Người bị khới tố, truy tố, xét xử, thi hành án ngoài các trường hợp
vừa nêu mà có ban án, quyêt định của cơ quan có thảm quyên trong hoạt động
tố tụng hinh sự xác định người đó không thực hiện hành vi phạm tội
Những người thuộc các trường hợp trên nếu có tài san bị thu giữ, tạm
giữ, kê biên, tịch thu mà bị thiệt hại thi được bồi thường. [13]
18
Ngoài ra, Nghị quyết số 388 cũng quy định rõ một số trường hợp không
được bồi thường thiệt hại. Cụ thè những người thuộc các trường hợp sau đây
không được bồi thường thiệt hại:
- Người dược miễn trách nhiệm hình sự theo quy định cua pháp luật;
- Người bị xử lý về hình sự theo quy định cua Bộ luật hình sự được
Ọuốc hội thông qua ngày 27/6/1985 và các đạo luật sưa đôi, bô sung năm
1989, 1991, 1992 và 1997, nhưng nay theo quy định cua Bộ luật hình sự năm


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status