MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
Công cuộc đổi mới đất nước mà vấn đề then chốt là xây dựng Nhà
nước pháp quyền của dân, do dân, vì dân đã đặt ra nhiệm vụ củng cố, hoàn
thiện nền dân chủ xã hội chủ nghĩa (XHCN). Để xây dựng Nhà nước pháp
quyền, cần cải cách nền hành chính quốc gia, song trùng với những cải cách
tư pháp để hướng đến mục tiêu xây dựng một hệ thống cơ quan tư pháp thực
sự sống và làm việc theo Hiến pháp và pháp luật, vì công lý, công bằng xã
hội, theo quan điểm chỉ đạo của Đảng và Nhà nước là:
Công tác tư pháp phải ngăn ngõa có hiệu quả và xử lý kịp
thời, nghiêm minh các loại tội phạm hình sự, đặc biệt là các tội xâm
phạm an ninh quốc gia, tội tham nhòng và các loại tội phạm có tổ
chức, bảo vệ trật tự, kỷ cương, đảm bảo và tôn trọng quyền dân chủ,
quyền, lợi Ých hợp pháp của tổ chức và công dân [23].
Đi đôi với những định hướng chiến lược này, việc cải cách tư pháp
còn hướng tới giải quyết những đòi hỏi mà thực tiễn đặt ra, cụ thể: Kịp thời
giải quyết có hiệu quả của các vụ khiếu kiện yêu cầu bồi thường do bị oan, sai
trong hoạt động tố tụng, kết hợp với việc xây dựng cơ chế, chính sách để
mang lại bước phát triển thực sự đổi mới của hệ thống tư pháp từ Trung ương
tới địa phương.
Nhưng so với những định hướng trên, hiện nay tổ chức và hoạt động
của hệ thống cơ quan tư pháp vẫn chưa có những bước đột phá để đáp ứng với
yêu cầu, nhiệm vụ trong tình hình mới, trong đó điều tra, truy tố, xét xử vẫn
còn để gây ra oan, sai cho công dân. Đối với nhiều địa phương, khi có oan, sai
xảy ra nhưng cơ quan tiến hành tố tụng (THTT) lại chưa kịp thời giải quyết
việc bồi thường cho người bị thiệt hại, từ đó gây bất bình trong dư luận nhân
1
dân, tạo ra mét trong số tác nhân gây cản trở cho công tác cải cách và đổi mới,
nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của cơ quan tư pháp nói chung. Vì
vậy, việc khắc phục thiệt hại do người có thẩm quyền của cơ quan THTT gây
ra đang là vấn đề có tính thời sự trong khoa học pháp lý nói riêng và trong
thiệt hại giữa cơ quan và cá nhân gây ra trong hoạt động tố tụng hình sự",
của Tưởng Bằng Lượng, Thẩm phán TAND Tối cao, Tạp chí Tòa án nhân dân,
số 1 tháng 2 năm 1999. Ngoài ra, cũng có một sè công trình nghiên cứu cá
nhân và tập thể với quy mô và cấp độ chuyên sâu, bài bản như đề tài khoa học
cấp Bé: "BTTH do bị bắt, giữ, xét xử oan, sai ở Việt Nam và một số nước trên
thế giới" do tiến sĩ Dương Thanh Mai chủ trì, hoặc luận văn thạc sĩ luật học:
"BTTH do người có thẩm quyền của cơ quan THTT gây ra" của tác giả
Nguyễn Hữu Ước thực hiện tại Trường Đại học Luật Hà Nội.
Về tổng thể, ở nước ta, cho đến thời điểm này, chưa có một công trình
khoa học nào về "BTTH do người có thẩm quyền của cơ quan THTT gây ra"
được nghiên cứu một cách có hệ thống ở cấp độ luận án tiến sĩ về vấn đề này.
3. Đối tượng, phạm vi và mục đích nghiên cứu đề tài
* Đối tượng nghiên cứu: nghiên cứu các quy định của pháp luật thực
định và thực tiễn giải quyết mối quan hệ lợi Ých giữa Nhà nước và công dân qua
việc thực hiện TNNN BTTH trong các vụ việc oan, sai mà các cơ quan và
người có thẩm quyền THTT gây ra.
* Phạm vi nghiên cứu: BTTH do người có thẩm quyền của cơ quan
THTT là đề tài rộng, chứa đựng nhiều vấn đề phức tạp về cả lý luận và thực
tiễn. Đề tài nghiên cứu liên quan đến cơ quan THTT là cơ quan nhà nước
được giao thực thi quyền tư pháp, tiến hành các hoạt động điều tra, truy tố,
3
xét xử tội phạm và giải quyết các vụ việc tranh chấp xảy ra trong xã hội. Hoạt
động bảo vệ pháp luật của cơ quan THTT là hoạt động liên quan đến nhiều
người, nhiều lĩnh vực, nhiều mối quan hệ đan xen, có sự tham gia của nhiều
cơ quan và chịu sự điều chỉnh của nhiều loại quy phạm của cả luật nội dung
lẫn hình thức. Đặc biệt, hoạt động này lại phải tuân theo những trình tự, thủ
tục tố tụng khác nhau (tố tụng hình sự, tố tụng dân sự, tố tụng hành chính, tố
tụng lao động ), vì vậy, phù hợp với đối tượng nghiên cứu, đề tài giới hạn ở
những vấn đề lý luận và thực tiễn của việc giải quyết BTTH do người có thẩm
quyền của cơ quan THTT gây ra cho người bị oan, sai trong hoạt động điều
dụng nhiều phương pháp nghiên cứu khoa học tin cậy khác như: phương pháp
phân tích, so sánh, tổng hợp, lôgíc, lịch sử, thống kê và các phương pháp
nghiên cứu khoa học phù hợp khác.
5. Những điểm mới về mặt khoa học của luận án
Về nguyên tắc, yêu cầu tuân thủ pháp luật không loại trừ bất cứ ai, kể
cả Nhà nước - chủ thể có quyền ban hành pháp luật. Nghiên cứu TNNN trong
hoạt động của các cơ quan nhà nước, đặc biệt là đối với cơ quan THTT, vừa
khẳng định quan điểm đổi mới của Đảng và Nhà nước ta đối với mục đích
xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN, vừa phù hợp với cách tiếp cận của
khoa học pháp lý hiện đại.
Thứ nhất, luận án là công trình đầu tiên ở Việt Nam nghiên cứu tương
đối toàn diện và có tính hệ thống những vấn đề pháp lý chủ yếu của trách
nhiệm BTTH do người có thẩm quyền của cơ quan THTT gây ra.
Thứ hai, trong luận án đã xây dựng được lý thuyết về trách nhiệm
BTTH do người thẩm quyền của cơ quan THTT gây ra, bằng việc tiếp cận
theo ba phương diện: Là một chế định đặc thù của luật dân sự mang tính chất
của chế định BTTH ngoài hợp đồng; là loại hình TNNN do thực thi quyền tư
5
pháp của các cơ quan THTT; là nghĩa vụ của Nhà nước BTTH do người có
thẩm quyền THTT xâm phạm quyền tư pháp, gây oan, sai dẫn đến thiệt hại về
vật chất và tinh thần cho công dân trong hoạt động điều tra, truy tố, xét xử.
Thứ ba, luận án làm rõ được những vấn đề pháp lý cơ bản của trách
nhiệm BTTH do người có thẩm quyền của cơ quan THTT gây ra như khái
niệm, bản chất, cơ sở xác định, nội dung, đặc thù, cách thức thực hiện trách
nhiệm BTTH do người có thẩm quyền THTT gây ra.
Thứ tư, luận án đã làm sáng tỏ về phương diện lý luận và thực tiễn vấn
đề điều chỉnh pháp lý việc Nhà nước giải quyết BTTH cho công dân bị oan,
sai trong hoạt động điều tra, truy tố, xét xử của các cơ quan THTT.
Thứ năm, đề xuất phương hướng hoàn thiện pháp luật về trách nhiệm
BTTH trong hoạt động chức năng của các cơ quan THTT và các biện pháp
* Cơ sở lý luận của việc nghiên cứu vấn đề thiệt hại
Xã hội, như Mác nói là tổng hòa của các mối quan hệ đa dạng, phức
tạp giữa các cá nhân với nhau hoặc giữa cá nhân với tổ chức, với Nhà nước.
Trong những mối quan hệ đó, với tư cách là công dân, con người luôn ý thức
về sự tồn tại và giải phóng chính mình. Nhưng cá nhân con người lại không
thể tồn tại ngoài các mối quan hệ xã hội, ngoài sự chế ước của pháp luật và
Nhà nước. Đặc biệt, con người không thể thực hiện các quyền và tự do của cá
nhân mà lại không tôn trọng quyền và tự do của người khác. Giữa các cá
nhân, khi tồn tại trong môi trường cộng đồng đã hình thành một quan hệ có
tính lôgíc, theo đó quyền của cá nhân này bị chế ước bởi quyền của cá nhân
khác cũng như của tổ chức và Nhà nước nhất định.
Montesquieu, nhà tư tưởng lỗi lạc của thời kỳ khai sáng đã từng tuyên
bố chân lý "tù do có nghĩa là có thể làm tất cả những gì mà không gây hại cho
người khác". Sau này, tư tưởng của Montesquieu đã được cụ thể hóa trong
Điều 4 Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền năm 1789 của Cộng hòa Pháp:
"Tự do bao gồm quyền có thể làm mọi điều không gây hại cho người khác.
Như vậy, việc thực hành các quyền tự nhiên của mỗi người chỉ bị giới hạn
trong việc bảo đảm cho các thành viên của xã hội được hưởng các quyền đó.
Các giới hạn này chỉ có thể do luật pháp quy định" [69].
8
Điều tuyên ngôn nêu trên có ý nghĩa là việc thực hiện các quyền tự
nhiên của mỗi con người là trên cơ sở tôn trọng và không được vi phạm
quyền tự nhiên của người khác, là không được vượt qua khỏi những khuôn
khổ quy định và cho phép của pháp luật.
Tính hiện thực trong các quyền của cá nhân là ở chỗ, không ai có thể có
tự do đích thực trong hành động khi quyền tự do Êy lại không phải là kết quả
được rót ra từ trong những mối quan hệ xã hội, từ trong sự tương tác, quy định
và làm nên nhau giữa các cá nhân. Để có sự hiện thực đối với quyền của mỗi
cá nhân trong một xã hội có tổ chức, thì quyền của từng cá nhân phải luôn gắn
với trách nhiệm và nghĩa vụ xã hội của chính người đó. Khuôn khổ tù do và việc
xã hội. Ảnh hưởng bởi thiệt hại có thể rất nặng nề, vì nó không chỉ là sự mất
mát, thiếu hụt về vật chất, không chỉ động chạm đến quyền của cá nhân hay tổ
chức mà trong nhiều trường hợp, nó còn ảnh hưởng đến các hoạt động bình
thường của xã hội, đặc biệt khi chủ thể gây thiệt hại lại là các cơ quan công
quyền.
Sức mạnh của một Nhà nước được khẳng định trước hết bằng việc bảo
đảm và chăm lo đến lợi Ých của công dân và của toàn xã hội. Vậy, điều gì sẽ
xảy ra khi bản thân người có nghĩa vụ phải chăm lo quyền lợi cho người dân
sống trong xã hội lại có hành động gây thiệt hại cho chính những người cần
được bảo vệ đó. Vì vậy, nếu chỉ xét vấn đề thiệt hại qua lăng kính của mối quan
hệ pháp luật dân sự thì yêu cầu một sự phát triển tiến bộ của xã hội dân chủ,
văn minh đặt ra cho Nhà nước sẽ không được đề cao, nghĩa vụ của Nhà nước đối
với công dân không được bảo đảm thực hiện. Nghiên cứu khía cạnh chính trị của
vấn đề thiệt hại là trên cơ sở coi "chính trị là biểu hiện của những lợi Ých căn
bản giữa các giai cấp và của quan hệ lẫn nhau giữa các giai cấp đó" [34, tr. 62]
và muốn nhận thức rõ vai trò tích cực của chính trị thì phải thấy rằng "nếu
10
không có chính trị đúng, thì một giai cấp nhất định nào đó không thể giữ vững
được nền thống trị của mình và do đó không thể hoàn thành nhiệm vụ kinh tế
của mình" [34, tr. 62-63]. Cho nên, nghiên cứu vấn đề thiệt hại không phải chỉ
xét đến sự kiện xảy ra đơn lẻ từ các vụ việc cụ thể phát sinh hàng ngày trong
các hoạt động xã hội, mà phải quan niệm rằng, đằng sau thiệt hại và vấn đề
giải quyết, khắc phục hậu quả của thiệt hại là cả vấn đề chính sách, pháp luật
nhà nước, quan điểm, đường lối lãnh đạo của Đảng, là vấn đề quản lý của
Nhà nước và của các cấp chính quyền. Có như vậy, việc giải quyết vấn đề
thiệt hại và BTTH mới dần đi đến mục đích ngăn chặn, loại bỏ nguyên nhân gây
ra thiệt hại, góp phần ổn định và giữ vững an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã
hội, để tạo lòng tin thực sự của nhân dân đối với kỷ cương, pháp luật của Nhà
nước.
Từ góc độ kinh tế - xã hội, thiệt hại đang trở thành vấn đề có tính thời
Theo các quy định trong pháp luật của nhiều quốc gia," thiệt hại là
tổn thất về tính mạng, sức khỏe, danh dù, uy tín, tài sản của cá nhân, tổ chức
được pháp luật bảo vệ" [63, tr. 118]. Nội hàm của khái niệm thiệt hại này
hướng đến việc quan niệm về thiệt hại và giải quyết các vấn đề phát sinh từ
thiệt hại trên cơ sở quan hệ pháp luật dân sự, phù hợp với nội dung và bản
chất pháp lý của vấn đề thiệt hại. Thông thường, thiệt hại được hiểu là sự
giảm bớt lợi Ých vật chất hay tinh thần của một chủ thể do có sự kiện gây
thiệt hại của một chủ thể khác. Dấu hiệu thiệt hại được nhận biết bằng sự tổn
thất những lợi Ých vật chất hay tinh thần cụ thể, liên quan đến các đối tượng
mà hành vi gây thiệt hại xâm hại tới như tài sản, sức khỏe, tính mạng, danh
dù, uy tín, nhân phẩm của cá nhân hoặc tài sản, uy tín của tổ chức.
Trong luật La Mã, các luật gia cho rằng có hai thành phần để tạo nên
khái niệm thiệt hại:
12
- Dammun enrgens tức thiệt hại thực, là sự mất đi của một bộ phận tài
sản cụ thể;
- Luerum cessans tức bỏ mất lợi tức, là sự mất mát tài sản có thể có
nếu hoàn cảnh diễn ra bình thường (thiệt hại phái sinh).
Cách quan niệm truyền thống về thiệt hại của luật La Mã vẫn được
giữ lại trong quy định của pháp luật dân sự các nước, vì trong khái niệm
thiệt hại của luật pháp hiện đại hay trong luật cổ thì cốt lõi của thiệt hại vẫn
là tổn thất có liên quan đến tài sản - loại thiệt hại có thể và có cơ sở để xác
định.
Điều 1149 Luật Dân sự nước Cộng hòa Pháp quy định: "Những thiệt hại
phải bồi thường cho người có quyền gồm những khoản mà họ mất và mức lợi
mà họ không được hưởng" [9, tr. 315]. Hiện nay, quan niệm thiệt hại được phát
triển thêm với nội dung mới là thiệt hại tinh thần, như quy định của Điều 310
BLDS nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam: "1. Trách nhiệm BTTH bao
gồm trách nhiệm BTTH về vật chất và trách nhiệm BTTH về tinh thần".
Như vậy, nhìn từ góc độ nào (khoa học pháp lý hay quy định pháp
quyền chiếm hữu vật (jus possidendi) và quyền đòi lại vật (jus vidieandi). Các
quyền năng này của sở hữu chủ theo luật La Mã sau này được luật thực định
của các nước quy định thành quyền chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản như
trong Điều 173 BLDS nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam 1995:
Quyền sở hữu bao gồm quyền chiếm hữu, quyền sử dụng và
quyền định đoạt tài sản của chủ sở hữu theo quy định của pháp luật.
Chủ sở hữu là cá nhân, pháp nhân, các chủ thể khác có đủ
ba quyền là quyền chiếm hữu, quyền sử dụng, quyền định đoạt tài
sản.
Quyền sở hữu tài sản là quyền được pháp luật bảo vệ. Nhưng trong thực
tế, chủ sở hữu không phải là người duy nhất có quyền đối với tài sản của mình.
14
Trong trường hợp tài sản được chủ sở hữu chuyển giao cho người khác hoặc do
pháp luật quy định thì ngoài chủ sở hữu ra, người có tài sản do được chủ sở hữu
ủy quyền quản lý tài sản, do thông qua giao dịch dân sự cũng có quyền đối
với tài sản (như quyền chiếm hữu, quyền sử dụng). Vì vậy, khi thiệt hại xảy
ra, người bị xâm hại là người đang chiếm hữu hoặc đang sử dụng tài sản đó.
+ Thiệt hại tinh thần
Trong cuộc sống, sự tồn tại của yếu tố tinh thần nhằm toát lên "toàn bé
hoạt động nội tâm của con người nói chung (như ý nghĩ, tình cảm )" [82, tr. 1648].
Hoạt động này chi phối và ảnh hưởng sâu sắc đến đời sống tinh thần của con
người, làm nên giá trị tinh thần qua phạm trù danh dù, uy tín, nhân cách, phẩm
giá của một con người hoặc danh dù, uy tín của tổ chức. Đời sống nội tâm là
một trong hai mặt không thể thiếu cho sự tồn tại của mỗi cá nhân. Trong hoạt
động xã hội, sự tồn tại của mặt thứ hai này trong cuộc sống con người cũng
luôn bị đe dọa bởi khả năng gây thiệt hại khi tính mạng, sức khỏe, danh dù,
uy tín, nhân phẩm của con người bị xâm phạm.
Thiệt hại tinh thần theo quy định của pháp luật Việt Nam là thiệt hại
về danh dù, uy tín, nhân phẩm hoặc suy sụp về tâm lý, tình cảm của cá nhân.
Thiệt hại tinh thần trong quan niệm pháp lý của luật châu Âu và luật Anh -
quy định bằng điều khoản cụ thể: "Người gây thiệt hại về tinh thần cho người
khác do xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe, danh dù, uy tín, nhân phẩm của
người khác, thì ngoài việc chấm dứt hành vi vi phạm, xin lỗi cải chính công
khai còn phải bồi thường một khoản tiền cho người bị thiệt hại" [6].
Quy định của pháp luật một số nước và pháp luật Việt Nam cho thấy,
một đặc điểm của thiệt hại tinh thần, đó là sự không định lượng được mức độ
tổn thất. Thực tế này không phải do trình độ lập pháp và khoa học pháp lý
chưa giải quyết được mà vì đặc tính của thiệt hại tinh thần thường gắn với
16
danh dù, uy tín, tình cảm của con người. Nó thuộc về ý thức của con người,
mang tính chủ quan nên khó xác định hay tính toán một cách chính xác.
Nhưng đa số các nhà lý luận pháp lý đều thống nhất coi thiệt hại tinh thần là
thiệt hại gây ra đối với tâm trạng con người và thể hiện bằng việc con người
phải chịu những đau đớn và lo lắng về tinh thần.
Hình thức thể hiện của thiệt hại tinh thần tương đối đa dạng, có thể là
đau đớn do thương tích, đau khổ về tinh thần do mất người thân (cha, mẹ, vợ,
chồng, con ) hoặc là nỗi khổ tâm khi không thể tham gia vào hoạt động xã
hội vì bị cách ly khỏi xã hội hay không thể hòa nhập được vào đời sống cộng
đồng nữa (như bị mù, bị liệt ); khổ tâm khi bị xâm hại đến những điều sâu kín
hoặc bị cộng đồng xã hội xa lánh khi bị tù, giam. Những thiệt hại tinh thần đáng
kể này thường là hậu quả của những vụ án có oan, sai mà đương sự là người
phải gánh chịu. Thiệt hại tinh thần còn là các trường hợp khác nữa như tác giả
một công trình hay tác phẩm bị người khác sử dụng để nhạo báng, bôi nhọ, v.v
Cũng như thiệt hại vật chất, thiệt hại tinh thần thể hiện rõ tính xã hội.
Nó liên quan đến cái gọi là "thành phần xã hội của sản nghiệp tinh thần" bao
gồm danh dù, uy tín, tên tuổi, nhân phẩm nói chung đó là các tổn hại về
quyền và lợi Ých liên quan đến nhân thân của con người vốn có tầm quan
trọng trong việc tạo lập, duy trì, phát triển các mối quan hệ giữa cá nhân và
cộng đồng. Cho đến nay, thực tiễn lập pháp và xét xử hiện đại đã thừa nhận
thiệt hại tinh thần cần phải được bồi thường, nếu có yêu cầu. Cái khó trong
hại. Lúc đầu, việc phạt tài sản do người bị hại quy định với tính chất là sự
cưỡng chế cá nhân, sau dần đến phạt tiền BTTH do Pháp quan thay mặt Nhà
nước áp dụng theo quy định và trình tự tố tụng nhất định.
Điều kiện để phát sinh nghĩa vụ bồi thường trong hệ thống luật La Mã
là có thiệt hại xảy ra do hành vi trái pháp luật của người gây thiệt hại, vi phạm
quyền lợi của người khác. Giải quyết nghĩa vụ này do Tòa án quyết định và
18
thường là không căn cứ vào thiệt hại thực tế. Số tiền có tính chất như là một
khoản tiền phạt có tính chất hình sự do Tòa án quyết định.
BTTH còn có thể là do vi phạm nghĩa vô. BTTH dạng này cũng là một
chế định được hình thành từ lịch sử lâu đời của pháp luật dân sự Việt Nam
cũng như các nước trên thế giới.
Ví dô, BTTH từ thực hiện nghĩa vụ đã từng để lại dấu Ên khá rõ ràng
trong luật cổ Việt Nam, mà điển hình là trong hai Bộ luật Hồng Đức (triều
Lê) và Bộ luật Gia Long (triều Nguyễn). Điều 591 Bộ luật Hồng Đức ghi:
"Người đòi nợ không trình quan mà tự ý bắt đồ đạc, của cải của người mắc
nợ, nếu quá số tiền trong văn tự thì xử phạt 80 trượng, tính những của cải Êy
trả cho người có nợ, còn thừa thì trả cho người mắc nợ" [13]. Quy định này
chứng tỏ, Bộ luật Hồng Đức cho phép bắt đồ đạc để trừ nợ nếu việc trừ nợ
không vượt quá số tiền cho vay. Tương tự, Điều 134 của Bộ luật Gia Long
cũng cấm các chủ nợ không được tự tiện bắt gia sóc hay tài sản của con nợ và
không được bắt thân nhân của con nợ làm nô tì. Người gây thiệt hại có thể
nép một số tiền chuộc để tránh sự trả thù [10].
Nghiên cứu hai bộ luật thời kỳ phong kiến của Việt Nam cho thấy,
quy định về tiền bồi thường trong Bộ luật Hồng Đức kèm theo tính chất hình
phạt. Ví dụ, Điều 29 ghi rõ: Tiền đền mạng Ên định tùy theo phẩm trật của kẻ
bị chết, cụ thể:
- Nhất phẩm, tòng nhất phẩm được phạt đến 15.000 quan;
- Nhị phẩm, tòng nhị phẩm phạt đến 9.000 quan;
- Tòng tam phẩm, tòng tứ phẩm 5.000 quan cứ như vậy cho đến thấp
phát từ bản chất của quan hệ pháp luật dân sự vốn là quan hệ tài sản và quan hệ
nhân thân có liên quan đến tài sản nên một trong những đặc điểm của TNDS
trước hết là trách nhiệm mang tính chất tài sản, thể hiện ở việc chủ thể có vi
20
phạm pháp luật gây thiệt hại cho người khác thì Tòa án sẽ buộc bên vi phạm
phải bồi thường bằng chính tài sản của mình. Như vậy, TNDS ngoài nghĩa "là
việc bắt buộc phải sửa chữa một thiệt hại do không thực hiện hoặc thực hiện
không đúng nghĩa vụ dân sự" [54, tr. 70-71] còn là việc buộc chủ thể có nghĩa
vụ phải gánh chịu hậu quả bất lợi về những việc đã gây ra. Sự buộc gánh chịu
này thể hiện cách phản ứng của Nhà nước đối với chủ thể có hành vi trái pháp
luật đã gây ra hậu quả xấu. Sự phản ứng đó tạo điều kiện tích cực cho quan hệ
xã hội phát triển, góp phần phòng ngõa hành vi vi phạm pháp luật.
Xác định TNDS của chủ thể trong quan hệ BTTH là yêu cầu cần thiết
vì đây là trách nhiệm của một chủ thể trước một chủ thể có liên quan về
những nghĩa vụ mà giữa họ hoặc đã có sự cam kết (nghĩa vụ theo hợp đồng),
hoặc đã được pháp luật quy định (nghĩa vụ ngoài hợp đồng). Nhưng trên thực
tế, nếu khi thực hiện trách nhiệm này mà không có sự tác động bằng sức
mạnh cưỡng chế của Nhà nước thì cũng khó có hiệu quả. Vì vậy, bên cạnh
trách nhiệm có ý nghĩa là những nghĩa vụ mà các chủ thể đã xác định đối với
nhau, còn có một phương tiện pháp lý để bảo vệ quyền và lợi Ých hợp pháp
của các chủ thể trong quan hệ dân sự không bị xâm phạm bởi các hành vi trái
pháp luật là trách nhiệm BTTH nhằm "buộc bên vi phạm phải tiếp tục thực
hiện đúng những nghĩa vụ hoặc phải BTTH do hành vi vi phạm nghĩa vụ của
mình gây ra cho phía bên kia" [62, tr. 42]. Lưu ý rằng, xác định TNDS bởi
hành vi vi phạm pháp luật gây thiệt hại phải tương xứng với tính chất, hậu
quả của sự vi phạm.
Với cách xác định như vậy, BTTH có những đặc điểm sau:
Là quan hệ pháp luật dân sự dưới dạng quan hệ về nghĩa vụ dân sù,
BTTH có đặc thù thể hiện rõ ở sự mâu thuẫn về quyền lợi giữa bên gây thiệt
hại và bên bị thiệt hại. Mâu thuẫn này chỉ có thể được giải quyết thông qua
thiệt hại nhưng vẫn có ý nghĩa, vì nếu không xác định được chính xác thiệt
hại mà bá qua việc bồi thường thì có nghĩa là trật tự pháp luật đã bị xâm
phạm, quyền lợi hợp pháp của cá nhân, tổ chức sẽ bị xâm hại và không được
pháp luật bảo vệ. Với những tổn thất về tinh thần, sự bù đắp của việc BTTH
có ý nghĩa an ủi, chia sẻ nỗi đau đớn, mÊt mát mà người bị thiệt hại hoặc thân
nhân của họ phải gánh chịu. Và như vậy, sự bù đắp sẽ góp phần giúp cho
người bị thiệt hại ổn định lại cuộc sống sau những gì đã phải chịu đựng. Đó
cũng là đạo lý cần được gìn giữ thông qua sự điều chỉnh của pháp luật, và
mang ý nghĩa tinh thần của một sự bù đắp có tính vật chất, tài sản.
Hai đặc điểm cơ bản trên đây làm cho BTTH hoàn toàn mang tính
chất của quan hệ pháp luật dân sự. Một chủ thể khi có hành vi xâm phạm đến
tài sản hay tính mạng, sức khỏe, danh dù, uy tín, của cá nhân, tổ chức đều
phải bồi thường, dù người gây thiệt hại là cá nhân, tổ chức hoặc là người có
thẩm quyền của các cơ quan nhà nước.
* Khái niệm BTTH do người có thẩm quyền của cơ quan THTT
(người có thẩm quyền THTT) gây ra
Nghĩa vô BTTH từ hành vi xâm phạm quyền, lợi Ých hợp pháp của
chủ thể khác là nghĩa vụ pháp lý chung, không có ngoại lệ, được xác định đối
với mọi chủ thể.
Sự tồn tại tất yếu của khả năng để xảy ra thiệt hại từ hoạt động của cá
nhân, tổ chức, Nhà nước đặt ra yêu cầu có sự quy định nghĩa vụ BTTH cho
các loại chủ thể khi tiến hành hoạt động của mình, nhất là khi có hành vi trái
pháp luật để xảy ra thiệt hại cho chủ thể khác. Trên thực tế, tuy thiệt hại xảy
ra có cùng tính chất nhưng nếu do cơ quan công quyền, mà cụ thể là do cơ
quan THTT gây ra thì tổn thất bao giê cũng nặng nề hơn về nhiều phương diện.
Chính vì vậy, việc giải quyết BTTH do người có thẩm quyền của cơ quan
THTT gây ra phải được đặc biệt quan tâm, chứ không thể xem xét và giải
23
quyết như các vụ BTTH dân sự thông thường.
Cơ quan THTT là cơ quan nhà nước hoạt động nhân danh quyền tư
Việc bồi thường này một mặt mang tính chất dân sự vì tổn thất mà người
có thẩm quyền của cơ quan THTT gây ra cho cá nhân, tổ chức trong hoạt động
điều tra, truy tố, xét xử thường là thiệt hại vật chất hoặc thiệt hại tinh thần do
danh dù, uy tín, nhân phẩm hoặc sức khỏe, tính mạng, tài sản cá nhân bị xâm
phạm. Về nguyên tắc, để kịp thời khắc phục hậu quả xảy ra, pháp luật buộc chủ
thể đã gây ra thiệt hại có nghĩa vụ đối với người bị thiệt hại. Yêu cầu này chỉ có
thể đạt được khi việc BTTH đó được giải quyết trong khuôn khổ của trách
nhiệm pháp lý dân sự. Song mặt khác, mặc dù về hình thức, thiệt hại xảy ra là
thiệt hại vật chất hoặc tinh thần như các thiệt hại dân sự thông thường, nhưng vì
do người có thẩm quyền của cơ quan THTT gây ra nên mức độ, diễn biến của
tổn thất thực tế trong nhiều trường hợp trở nên rất phức tạp, nếu không được kịp
thời khắc phục bằng các giải pháp mang tính dân sự thì có thể còn dẫn đến việc
phát sinh nhiều vấn đề phức tạp, mà một trong số tác động tiêu cực của trường
hợp thiệt hại do người có thẩm quyền của cơ quan THTT gây ra đối với trật tù
xã hội, đó là sù
xói mòn, giảm sút lòng tin của nhân dân vào Nhà nước, vào nền pháp chế dân
chủ XHCN, vào công lý, công bằng của pháp luật. Các biện pháp khắc phục mang
tính chất dân sự (BTTH) là giải pháp kịp thời để giảm đÕn mức thấp nhất tác
động tiêu cực mà hành vi gây thiệt hại do người có thẩm quyền của cơ quan
THTT gây ra. Bên cạnh đó, sự đặc thù của BTTH do người có thẩm quyền của cơ
quan THTT gây ra xuất phát từ một điều kiện thực tế khác, đó là vì thiệt hại phát
sinh trong các giai đoạn, quá trình và hoạt động tố tụng phức tạp; một thiệt hại
có thể do nhiều nguyên nhân, nhiều người, nhiều cơ quan THTT khác nhau gây
ra. Thậm chí thiệt hại có thể cùng do một loại cơ quan, nhưng theo thủ tục tố
tụng khác nhau thì diễn biến của thiệt hại trên thực tế lại khác nhau. Vì vậy, việc
25