Phân tích trách nhiệm bồi thường thiệt hại do người có thẩm quyền của cơ quan tiến hành tố tụng gây ra - Pdf 40

MỤC LỤC


MỞ ĐẦU
Trong lịch sử pháp luật thế giới, trách nhiệm bồi thường thiệt ngoài hợp
đồng là một trong những chế định có sớm nhất của pháp luật dân sự. Trải
qua các thời kỳ lịch sử và ở những nước khác nhau quy định về người phái
bồi thường cũng như mức độ bồi thường cũng có sự khác biệt. Vấn đề này
phụ thuộc vào quan điểm giai cấp, điều kiện kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia.
Pháp luật dân sự Việt Nam cũng quan tâm tới vấn đề bồi thường thiệt
hại ngoài hợp đồng. Những thiệt hại đó có thể xâm phạm về tài sản; sức khỏe,
tính mạng; danh dự, nhân phẩm, uy tín của người khác. Trong đó, trách
nhiệm bồi thường thiệt hại do người có thẩm quyền của cơ quan tiến hành tố
tụng gây ra là một vấn đề được cử tri cả nước quan tâm hiện nay. Vì vậy, em
xin được lựa chọn đề tài: “Phân tích trách nhiệm bồi thường thiệt hại do
người có thẩm quyền của cơ quan tiến hành tố tụng gây ra”

NỘI DUNG
A. PHẦN LÝ THUYÊT
I.
Khái niệm
1. Khái niệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng
Trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng là một khái niệm có ý
nghĩa pháp lý cao trong hệ thống pháp luật của nước ta, nó được đề cập tới
rất sớm và được quy định trong Bộ luật Dân sự 1995 và hoàn thiện đầy đủ
hơn trong Bộ luật Dân sự 2005. Cụ thể hơn tại Điều 604 Bộ luật Dân sự Việt
Nam quy định về căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp
đồng như sau:

2


chính và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong thủ tục tố tụng. Những
người tiến hành tố tụng được chủ động thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của
mình độc lập với các chủ thể khác và chỉ tuân theo pháp luật.
Trong thủ tục tố tụng dân sự và tố tụng hành chính, người tiến hành tố tụng
bao gồm: Chánh án tòa án, Thẩm phán, hội thẩm nhân dân, thư kí tòa án,
kiểm sát viên, thủ trưởng cơ quan thi hành án, chấp hành viên.
Trong thủ tục tố tụng hình sự, người tiến hành tố tụng bao gồm: Thủ trưởng,
phó thủ trưởng cơ quan điều tra, điều tra viên; Viện trưởng, phó viện trưởng
viện kiểm sát, kiểm sát viên; Chánh án, Phó Chánh án Toà án, Thẩm phán, Hội
thẩm nhân dân, Thư ký Tòa án.
Vậy, trách nhiệm bồi thường thiệt hại do người có thẩm quyền của cơ
quan tiến hành tố tụng gây ra là: một loại quan hệ dân sự mà trong đó
người tiến hành tố tụng có lỗi trong quá trình tiến hành tố tụng, gây ra
thiệt hại cho người khác phải bồi thường thiệt hại do mình gây ra theo
quy định của pháp luật.
II.

Nội dung trách nhiệm bồi thường thiệt hại do người có thẩm quyền
trong cơ quan tiến hành tố tụng gây ra.
Điều 620 Bộ luật Dân sự 2005 quy định về việc bồi thương thiệt hại do
người có thẩm quyền của cơ quan tiến hành tố tụng gây ra.
“Điều 620. Bồi thường thiệt hại do người có thẩm quyền của cơ quan tiến
hành tố tụng gây ra
Cơ quan tiến hành tố tụng phải bồi thường thiệt hại do người có thẩm quyền
của mình gây ra khi thực hiện nhiệm vụ trong quá trình tiến hành tố tụng. Cơ
quan tiến hành tố tụng có trách nhiệm yêu cầu người có thẩm quyền đã gây
thiệt hại phải hoàn trả một khoản tiền theo quy định của pháp luật, nếu
người có thẩm quyền có lỗi trong khi thi hành nhiệm vụ.”
1. Điều kiện phát sinh trách nhiệm bồi thường.
4



• Tự mình áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời;
• Áp dụng biện pháp khần cấp tạm thời khác với biện pháp khẩn cấp tạm thời
thời mà cá nhân, cơ quan, tổ chức có yêu cầu;
• Áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời quá yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn
cấp tạm thời của cá nhân, tổ chức, cá nhân;
• Ra bản án, quyết định mà biết rõ là trái pháp luật hoặc cố ý làm sai lệch hồ sơ
vụ án.
Khi xác định có đầy đủ căn cứ bồi thường thiệt hại do người có thẩm
quyền tiến hành tố tụng gây ra trong hoạt động tố tụng hành chính và tố tụng
dân sự thì cơ quan phải bồi thường là tòa án nhân dân các cấp. Căn cứ vào
quyết định, bản án thuộc thẩm quyền xét xử của tòa án để xá định trách
nhiệm bồi thường theo điều 33 Luật trách nhiệm bồi thường Nhà nước 2009.
2. Nguyên tắc bồi thường thiệt hại
Điều 605 bộ luật dân sự đã quy định nguyên tắc được áp dụng trong bồi
thường thiệt hại, trong đó nguyên tắc mang tính chất nền tảng là trong bồi
thường thiệt hại do hành vi vi phạm pháp luật đó là “thiệt hại phải được bồi
thường toàn bộ à kịp thời”. Như vậy khi có thiệt hại do người có thẩm quyền
trong cơ quan tiến hành tố tụng gây ra mà lỗi thuộc về người tiến hành tố
tụng thì phải bồi thường thiệt hại cho người bị thiệt hại một cách kịp thời.
Ngoài ra, với việc giải quyết bồi thường do người tiến hành tố tụng gây ra thì
còn có các nguyên tắc như điều 7 Luật trách nhiệm bồi thường của Nhà nước
2009:
“Điều 7. Nguyên tắc giải quyết bồi thường
Việc giải quyết bồi thường phải tuân theo các nguyên tắc sau đây:
1. Kịp thời, công khai, đúng pháp luật;
2. Được tiến hành trên cơ sở thương lượng giữa cơ quan có trách nhiệm bồi
thường với người bị thiệt hại hoặc đại diện hợp pháp của họ;
3. Được trả một lần bằng tiền, trừ trường hợp các bên có thoả thuận khác”.

Tối cao tại Hà Nội xét xử phúc thẩm vụ án, tuyên y án sơ thẩm.

7


Trong quá trình điều tra bị cáo có khai nhận hành vi giết người, nhưng
tại các phiên toà sơ thẩm và phúc thẩm, bị cáo không nhận tội và trong trại
giam, phạm nhân Nguyễn Thanh Chấn tiếp tục kêu oan.
Sau đơn kháng cáo của gia đình bị cáo, tòa phúc thẩm TANDTC đã tiến
hành xét xử phúc thẩm, tuyên y án sơ thẩm. Trong quá trình ở trại giam,
phạm nhân Nguyễn Thanh Chấn đã nhiều lần kêu oan và bà Nguyễn Thị Chiến
là vợ ông Chấn cũng liên tục gửi đơn kêu oan cho chồng. Ngày 25/10/2013,
đối tượng Lý Nguyễn Chung đã ra đầu thú, khai nhận đã thực hiện hành vi
giết chị Nguyễn Thị Hoan vào tối ngày 15/8/2013 để cướp tài sản.
Ngày 4/11/2013, ông Nguyễn Thanh Chấn chính thức được trả tự do sau
hơn 10 năm thụ án chung thân. Hai ngày sau, ngày 6/11/2013, Hội đồng
thẩm phán TANDTC tiến hành xét xử theo thủ tục tái thẩm, tuyên hủy bản án
phúc thẩm của Tòa phúc thẩm TANDTC, bản án sơ thẩm của TAND tỉnh Bắc
Giang đối với Nguyễn Thanh Chấn và chuyển hồ sơ vụ án cho VKSND Tối cao
để điều tra lại theo thủ tục chung.
Sau khi được tuyên bố bị kết án oan sai, ông Nguyễn Thanh Chấn liên tục
làm hồ sơ và các thủ tục để có thể nhận được tiền bồi thường oan sai từ các
cơ quan Nhà nước có thẩm quyền. Vào tháng 5/2015, gia đình ông Nguyễn
Thanh Chấn đã đạt được thỏa thuận với TAND Tối cao số tiền bồi thường 7,2
tỷ đồng cho những mất mát mà ông Chấn và gia đình phải chịu đựng trong
suốt 10 năm ông ngồi tù oan. Số tiền bồi thường được lấy từ ngân sách Nhà
nước. Sáng 16.10, tại buổi họp báo quý III-2015 do Bộ Tư pháp tổ chức, ông
Nguyễn Văn Bốn, Cục trưởng Cục bổ trợ tư pháp (Bộ Tư pháp) cho biết, Toà
cấp cao tại Hà Nội đã trả 7,2 tỉ đồng tiền bồi thường án oan cho gia đình ông
Nguyễn Thanh Chấn (54 tuổi, thôn Me, xã Nghĩa Trung, huyện Việt Yên, tỉnh

phiên tòa không quan tâm đến tình tiết này. Thậm chí những ý kiến phân tích
xác đáng của luật sư, Tòa và Viện cũng không lắng nghe, cứ thế kết án cho
ông Chấn.
Như vậy, theo quy định tại điều 12 của bộ luật tố tụng hình sự năm 2003
thì cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng trong vụ án này phải
9


chịu trách nhiệm do vi phạm luật tố tụng hình sự: Điều 12. Trách nhiệm của
cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng:
“Trong quá trình tiến hành tố tụng, cơ quan tiến hành tố tụng, người
tiến hành tố tụng phải nghiêm chỉnh thực hiện những quy định của pháp luật
và phải chịu trách nhiệm về những hành vi, quyết định của mình.
Người làm trái pháp luật trong việc bắt, giam, giữ, khởi tố, điều tra, truy
tố, xét xử, thi hành án thì tuỳ theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử lý kỷ
luật hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự.”

Điều 29. Bảo đảm quyền được bồi thường thiệt hại và phục hồi danh dự,
quyền lợi của người bị oan:
“Người bị oan do người có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng hình sự
gây ra có quyền được bồi thường thiệt hại và phục hồi danh dự, quyền lợi.
Cơ quan có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng hình sự đã làm oan
phải bồi thường thiệt hại và phục hồi danh dự, quyền lợi cho người bị oan;
người đã gây thiệt hại có trách nhiệm bồi hoàn cho cơ quan có thẩm quyền
theo quy định của pháp luật.”
Như chúng ta thấy, sau 10 năm ngồi tù oan, ông Nguyễn Thanh Chấn cuối
cùng cũng đã được thả tự do và bồi thường thiệt hại với số tiền là 7,2 tỷ đồng
chi trả từ ngân sách nhà nước.
Điều 56 Luật Trách nhiệm bồi thường nhà nước thì nghĩa vụ hoàn trả
và xử lý trách nhiệm của người thi hành công vụ:


công an nhân dân.
2. Bộ luật dân sự 2005
3. Luật trách nhiệm bồi thường của nhà nước 2009
4. Bộ luật tố tụng hình sự 2003
5. http://vnexpress.net/

12




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status