ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
NGUYỄN THỊ HƯƠNG
TRÁCH NHIỆM BỐI THUâNG THIỆT HẠI
DO NGUdl CỦA PHÁP NHÂN GAY RA
Chuyên ngành : Luật Dân sự
Mã số : 60.38.30
LUẬN VÃN THẠC SỸ LUẬT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: TS. Đỉnh Trung Tụng
ĐẠI HOC QUỐC GIA HÀ NÔI
TRUNG TÁN/ THÔNG TÍN THƯ ViÊN
V - L ũ /
Ả ° )A Ấ
HÀ NỘI-2008
MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẨU 1
CHƯƠNG 1. MỘT SỐ VẤN ĐỂ LÝ LUẬN VỂ Bổi THƯỜNG THIỆT HẠI DO NGƯÒI 6
CỦA PHÁP NHÂN GÂY RA
1.1. Khái niệm thiệt hại, bồi thường thiệt hại, pháp nhân và người của 6
pháp nhân
1.1.1. Khái niệm thiệt hại 6
1.1.2. Khái niệm bồi thường thiột hại 11
1.1.3. Khái niệm pháp nhân 13
1.1.4. Khái niệm người của pháp nhân 18
1.1.5. Khái niệm bồi thường thiệt hại do người của pháp nhân gây ra 25
1.2. Bồi thường thiệt hại do người của pháp nhân gáy ra là loại bồi 26
thường thiệt hại ngoài hợp đồng
1.2.1. Bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng 26
1.2.2. Những đăc trưng cơ bản của bồi thường thiệt hại do người của pháp 29
nhân gây ra
người của pháp nhân gây ra
2.1.2.1. Các nguyên tắc của việc giải quyết bồi thường thiệt hại 59
2.1.2.2. Trình tự thủ tục giải quyết bồi thường thiệt hại 63
2.1.2.2.1. Phương thức bồi thường 63
2.1.2.2.2. Nghĩa vu hoàn trả 65
2.2. Thực tiễn giải quyết tại Tòa án bồi thường thiệt hại do người của 67
pháp nhân gây ra ở Việt Nam hiện nay
2.2.1. Thực trạng việc pháp nhân phải bồi thường thiốl hại do người của 67
mình gây ra
2.2.1.1. Pháp nhân lừ chối bồi thường do chưa nhận thức được trách 68
nhiệm của mình
2.2.1.2. Trường hợp pháp nhân nhận thức được trách nhiệm của mình với 71
việc người của pháp nhân gây thiệt hại nhưng do người bị hại
đưa ra mức yêu cầu bồi thường không hợp lý nèn cũng không đi
đến thỏa thuận thống nhất và phải yêu cầu Tòa án giải quyết
2.2.1.3. Trường hợp pháp nhân đã mua bảo hiểm nên đẩy toàn bộ trách 72
nhiệm sang đơn vị bảo hiểm
2.2.2. Thực tiễn giải quyết việc bồi thường thiệt hại do người của pháp 74
nhân gây ra
Kết luận chương 2 83
CHƯƠNG 3. MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẢM NÂNG CAO HIỆU QUẢ CỦA VIỆC GIẢI 85
QUYẾT BỔI THƯỜNG THIỆT HẠI IX) NGƯỜI CỦA PHÁP NHÂN GÂY RA
3.1. Giải pháp nhằm hoàn thiện hệ thống pháp luật quy định về việc bồi 85
thường thiệt hại do người của pháp nhân gảy ra
3.1.1. Về chủ thể của trách nhiệm bồi thường thiột hại 86
3.1.2. Về cơ chế thực hiện 87
3.1.3. Về nghĩa vụ hoàn trả của người của pháp nhân 88
3.2. Giải pháp bảo đảm nâng cao hiệu quả của việc giải quyết bồi 89
thường thiệt hại do người của pháp nhân gây ra
3.2.1. Về chính sách pháp lý 90
1
đứng ra bồi thường cho người bị thiệt hại sau đó yêu cầu người có hành vi
gây thiệt hại hoàn trà lại một khoản tiền cho pháp nhân. Đây là điều quan tâm
không chỉ của những người làm công tác nghiên cứu pháp luật, mà còn là sự
quan tâm của những người làm công tác thực tiễn liên quan đến việc giải
quyết bồi thường thiệt hại do người của pháp nhân gây ra. Vì vậy, việc nghiên
cứu đề tài “Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do người của pháp nhân gây
ra” hiện nay mang tính cấp thiết.
2. TÌNH HÌNH NGHIÊN c ứ u ĐÊ TÀI
Trong quá trình tìm hiểu, nghiên cứu có một số chuyên đề nghiên cứu
và bài viết liên quan đến nội dung của đề tài như:
- Luận văn Thạc sỹ luật học của tác giả Lê Mai Anh: “Những vấn đề cơ
bàn về trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng trong Bộ luật dân sự”.
Luận văn này nghiên cứu nhiều vấn đề, trong đó có những nội dung liên quan
đến đề tài nghiên cứu của tác giả như: tiếp cận vấn đề trách nhiệm dân sự, khái
niệm trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng và đặc điểm pháp lý.
- Bài viết “Lỗi và trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng” của
TS. Phùng Trung Tập - Trưởng bộ môn Luật dân sự Khoa Luật Dân sự,
Trường Đại học Luật Hà Nội. Trong bài viết này có để cập đến nhiều vấn đề
trong đó có nội dung có tính chất tham khảo quan trọng cho việc nghiên cứu
đề tài của tác giả như: việc phân tích những hành vi có lỗi trong một sổ loại
trách nhiệm dân sự ngoài hợp đồng (về cơ sở xác định lỗi, hình thức lỗi), hay
khi xác định trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng cần phải xác định
yếu tố lỗi để có căn cứ quy trách nhiệm cho người có hành vi trái pháp luật.
- Ngoài ra còn có nhiều chuyên đề, bài viết, bài nghiên cứu của một số
tác giả làm công tác xây dựng pháp luật cũng là những tài liệu nghiên cứu
quan trọng được tác giả lựa chọn tham khảo khi thực hiện đề tài nghiên cửu.
2
3. PHẠM VI NGHIÊN c ứ u ĐÈ TÀI
Luận văn nghiên cửu những vấn đề sau:
- Mục đích thứ 3: Trên cơ sở kết quả của việc nghiên cứu các vấn đề lý
luận và thực tiễn ữong việc áp dụng pháp luật điều chỉnh bồi thường thiệt hại
do người của pháp nhân gây ra sẽ đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện
pháp luật điều chỉnh việc bồi thường thiệt hại do người của pháp nhân gây ra.
5.2. Nhiệm vụ của việc nghiên cứu đề tài
• • • C 7
- Bước đầu phân tích một số vấn đề lý luận về trách nhiệm bồi thường
thiệt hại do người của pháp nhân gây ra; nêu và đánh giá thực tiễn thi hành
pháp luật về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do người của pháp nhân gây ra ở
Việt Nam.
- Phân tích, đánh giá thực trạng pháp luật hiện hành cùa Việt Nam về
trách nhiệm bồi thường thiệt hại đo người của pháp nhân gây ra.
- Trình bày, phân tích và so sánh một sổ chế định cơ bản trong pháp
luật về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do người của pháp nhân gây ra của
một số quốc gia trên thế giới.
- Kiến nghị đưa ra một sổ giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật của Việt
Nam về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do người của pháp nhân gây ra.
6. NHỮNG KẾT QUẢ NGHIÊN cứu MỚI CỦA LUẬN VĂN
- Trên cơ sở nghiên cứu về mặt lý luận và thực tiễn cũng như thực trạng
của việc áp dụng pháp luật điều chinh vấn đề bồi thường thiệt hại do người
của pháp nhân gây ra để tìm ra những tồn tại trong quy định của pháp luật
điều chinh vấn đề này.
- Đưa ra một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả việc giải quyết bồi
thường thiệt hại do người của pháp nhân gây ra.
4
7. KÉT CÁU CỦA LUẬN VĂN
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn
gồm có 03 chương với các nội dung cụ thể như sau:
Chương 1. MỘT SỐ VẤN ĐÊ LÝ LUẬN VÊ BỒI THƯỜNG THIỆT
HẠI DO NGƯỜI CỦA PHÁP NHẨN GÂY RA
Đối với cá nhân, tổ chức, quốc gia hay quốc tế, khi nói đến thiệt hại, là
nói đến sự mất mát “cái gì đó” và luôn mang tính tiêu cực. “Cải gì đó” ờ đây
có thể định tính, định lượng được hoặc có tliể không. Thiệt hại có thể do con
người hoặc do tự nhiên gây nên. Có thiệt hại gắn với trách nhiệm pháp lý,
cũng có thiệt không gắn với trách nhiệm pháp lý. Vậy thiệt hại là gì?
Thiệt hại được hiểu là “mất mát, hư hỏng nặng về người và của”
[27, tr. 157], Theo quan điểm truyền thống, pháp luật dân sự luồn coi thiệt hại
là những tổn thất có liên quan đến tài sản; tuy nhiên, theo những quan điểm
hiện nay thì thiệt hại bao gồm không chỉ những tổn thất về tài sản. Theo Từ
điển giải thích thuật ngữ luật học cùa Trường Đại học Luật Hà Nội thì thiệt
hại là “tổn thất về tính mạng, sức khoè, danh dự, uy tín, tài sản của cá nhân, tổ
chức được pháp luật bảo vệ” [35, ừ. 118]. Hay “Thiệt hại là sự mất mát hoặc
giảm sút về một lợi ích vật chất hoặc tinh thần được pháp luật bảo vệ.”[13, ừ.
247]. Theo Bộ luật dân sự và Thương mại Thái Lan thì không nêu định nghĩa
thế nào là thiệt hại mà cho rằng đó là hậu quả của hành vi sai trái “tổn thương
một cách trái pháp luật đến đời sống, thân thể, sức khoẻ, tự do, tài sản hoặc
bất cứ quyền nào của người khác” và “tổn thương đến uy tín hoặc lòng tin,
hoặc thu nhập hay sự thịnh vượng của người khác” (Điều 420 và 423) [8]. Bộ
luật dân sự Trung Quốc lại quy định về thiệt hại trái pháp luật chứ không quy
định thiệt hại một cách chung chung, đó là các điều từ 184 đến 198: trong đó
6
có các loại thiệt hại trái pháp luật về tính mạng (Điều 192), về thân thể, sức
khoé, danh dự, tự do, uy tín, sự riêng tư hoặc sự trong trắng hoặc đối với nhân
phẩm của người khác một cách nghiêm trọng (Điều 195), và về tài sản (Điều
196) [9]. Bộ luật dân sự năm 1995 quy định tại Điều 310: “Trách nhiệm bồi
thường thiệt hại bao gồm trách nhiệm bồi thường thiệt hại về vật chất và trách
nhiệm bồi thường thiệt hại về tinh thần” [2]. Bộ luật dân sự năm 2005 quy
định tại Điều 307: “Trách nhiệm bồi thường thiệt hại bao gồm trách nhiệm
bồi thường thiệt hại về vật chất, trách nhiệm bồi thường bù đắp tổn thất về
tinh thần’' [1], Quan điểm phổ biến hiện nay về thiệt hại là thiệt hại về tinh
vào), đó là dấu hiệu về quyền đối với tài sản thông qua quyền sở hữu.
Theo quan niệm phổ thông, người có quyền sở hữu là người có được một
tài sản là của riêng mình và toàn quyền định đoạt tài sản đó. Quyền sở hữu bao
gồm quyền chiếm hữu, quyền sử dụng và quyền định đoạt cùa chủ sở hữu theo
quy định của pháp luật. Chủ sờ hữu là cá nhân, pháp nhân, các chủ thể khác có
đủ ba quyền là quyền chiếm hữu, quyền sử dụng, quyền định đoạt tài sàn.
Quyền sở hữu tài sản là quyền được pháp luật bảo vệ nhưng trong thực tế,
chủ sở hữu không phải là người duy nhất có quyền đối với tài sản cùa mình.
Trong trường hợp tài sản được chủ sở hữu chuyển giao cho người khác hoặc do
pháp luật quy định thì ngoài chủ sở hữu ra, người có tài sản đo được chủ sở hữu
uỷ quyền quản lý tài sản, do thông qua giao dịch dân sự cũng có quyền đối với
tài sản (như quyền chiếm hữu, quyền sử dụng). Vì vậy, khi thiệt hại xảy ra,
người bị xâm hại là người đang chiếm hữu hoặc đang sử dụng tài sản đó.
b) Thiệt hại về tinh thần
Trong cuộc sống, sự tồn tại của yếu tố tinli thần nhầm toát lên “toàn bộ
hoạt động nội tâm của con người nói chung (như ý nghĩ, tình cảm )”
8
[27, tr. 1684]. Hoạt động này chi phối và ảnh hưởng sâu sấc đến đời sổng tinh
thần của con người, làm nên giá trị tinh thần qua phạm trù danh dự, uy tín,
nhân cách, phẩm giá của một con người hoặc danh dự, uy tín của một tổ chức.
Đời sống nội tâm là một trong hai mặt không thể thiếu cho sự tồn tại của mỗi
cá nhân. Trong hoạt động xã hội, sự tồn tại của mặt thứ hai này trong cuộc
sống con người cũng luôn bị đe dọa bời khả năng gây thiệt hại khi tính mạng,
sức khoẻ, danh dự, uy tín, nhân phẩm của con người bị xâm phạm.
Việc xem xét một thiệt hại về tinh thần với tính chất của sự tổn thất đối
với đối tượng phi vật thể, bao gồm thiệt hại thuần tuý tinh thần và thiệt hại
tinh thần có nguồn gốc từ thiệt hại vật chất, do tính mạng, sức khoẻ bị xâm
hại. Tính hiện thực và xã hội của thiệt hại tinh thần là ở chỗ, nó xâm phạm
đến phần quan trọng trong việc học tập, duy trì và phát triển các mối quan hệ
giữa cá nhân và cộng đồng, đó là danh dự, uy tín, phẩm giá của con người.
thiệt hại tinh thần là thiệt hại gây ra đối với tâm trạng của con người và thể
hiện bằng việc con người phải chịu những đau đớn và lo lắng về tinh thần.
Cũng như thiệt hại vật chất, thiệt hại tinh thần thể hiện rõ tính xã hội. Nó liên
quan đến cái gọi là “thành phần xã hội cùa sản nghiệp tinh thần” bao gồm
danh dự, uy tín, tên tuổi, nhân phẩm nói chung, đó là các tổn thất về quyền
và lợi ích liên quan đến nhân thân của con người vốn có tầm quan trọng trong
việc tạo lập, duy trì, phát triển các mối quan hệ giữa cá nhân và cộng đồng.
Cho đến nay thực tiễn lập pháp và xét xử hiện đại đã thừa nhận thiệt hại tinh
thần cần phải được bồi thường, nếu có yêu cầu. Cái khó trong xác địnli thiệt
hại về tinh thần là ở chỗ, căn cứ vào các tiêu chí nào để định lượng (vật chất
hoá) loại thiệt hại này? Cơ sờ giải quyết bồi thường thiệt hại về tinh thần là sự
“bù đắp” một phần hay toàn bộ thiệt hại đã xảy ra?
10
Mặc dù rất khó xác định tính chất, mức độ của thiệt hại về tinh thần,
nhưng việc bồi thường thiệt hại về tinh thần bằng một khoản tiền nào đó có
tác dụng tích cực nhất định cho sự phục hồi trạng thái tinh thần bình thường
của người bị thiệt hại. Trách nhiệm bồi thường thiệt hại về tính thần mà người
gây thiệt hại phải gánh chịu có tính chất như một chế tài, vì sẽ không công bằng
nếu một người có lỗi khi thực hiện một hành vi gây thiệt hại cho người khác mà
lại không bị trừng phạt. Có áp dụng như vậy thì mới bảo đàm nguyên tắc công
bằng và góp phần gìn giữ những tình cảm, truyền thống, đạo đức tốt đẹp.
Thiệt hại là tốn thất về tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm, uy
tín, tài sản, các quyền và lợi ích hợp pháp khác của cá nhân; danh dự, uy tín,
tài sản cùa pháp nhân hoặc chủ thể khác.
1.1.2. Khái niệm bồi thường thiệt hại
Thông thường, khi xảy ra thiệt hại, đối tượng bị thiệt hại được những
đối tượng không bị thiệt hại hoặc bị thiệt hại ít hơn giúp đỡ, chia sè để vượt
qua khó khăn, thể hiện tinh thần tương thân, tương ái; đây là trách nhiệm đạo
đức, trách nhiệm lương tâm cộng đồng của đối tượng giúp đỡ, chia sẻ. Trường
hợp thiệt hại do con người cỏ lồi gây ra thì việc giúp đờ, chia sẻ vẫn diễn ra,
thường thiệt hại trong hợp đồng - Trách nhiệm này được áp dụng đối với các
chủ thể đã gây ra những thiệt hại do không thực hiện, thực hiện không đúng,
hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ dân sự của mình; 2) Bồi thường thiệt
hại ngoài hợp đồng - Trách nhiệm này được áp dụng đối với bất kỳ một chủ
thể nào nếu hành vi của họ trái với quy định của pháp luật và gây ra thiệt hại
cho chủ thể khác. Trong pháp luật dân sự, bồi thường thiệt hại là việc đền bù
những tổn thất và khắc phục những hậu quả do hành vi vi phạm gây ra; vì
việc bồi thường thiệt hại là “hình thức trách nhiệm dân sự nhằm buộc bên có
12
hành vi gây ra thiệt hại phải khắc phục hậu quả bằng cách bù đắp, đền bù tổn
thất về vật chất và tổn thất về tinh thần cho bên bị thiệt hại” [ 35, tr.31]. Với
quan niệm thiệt hại là sự không nguyên vẹn như trạng thái ban đầu của sự vật
sau khi chịu sự tác động bên ngoài, vì vậy bồi thường thiệt hại có thể hiểu là
trách nhiệm khôi phục lại tình trạng ban đầu của sự vật, hiện tượng, về mặt
pháp lý, thiệt hại là những tổn thất về tài sàn, tổn thất về tính mạng, sức khoẻ,
uy tín, danh dự, nhân phẩm; vì vậy, bồi thường thiệt hại là sự khôi phục lại
những tổn thất trên bằng những cách thức và tiêu chí do pháp luật đặt ra.
Bồi thường thiệt hại là quan hệ pháp luật phát sinh từ hậu quả của
những hành vi trái pháp luật xâm phạm đến tính mạng, sức khoè, danh dự,
nhân phẩm, uy tín, tài sản, các quyền và lợi ích hợp pháp khác của cá nhân;
xâm phạm danh dự, uy tín, tài sản của pháp nhân hoặc chủ thể khác.
Bồi thường thiệt hại là một hình thức của trách nhiệm dân sự; theo đó,
bên cỏ hành vi trái pháp luật một cách cố ý hoặc vô ý gây ra thiệt hại, phải bù
đắp, khôi phục lại trạng thái ban đầu những tổn thất về tính mạng, sức khoẻ,
danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, các quyền và lợi ích hợp pháp khác của
cá nhân; danh dự, uy tín, tài sản của pháp nhân hoặc chủ thể khác bị thiệt hại.
1.1.3. Khái niệm pháp nhân
Trong quan hệ dân sự, bên cạnh chủ thể là cá nhân còn có các chù thể
khác, đó là cơ quan, tổ chức và một số chủ thể hạn chế khác. Cơ quan, tổ chức
là những tập thể người nên trong quan hệ dân sự có những đặc thù riêng về
pháp luật ngay khi được thành lập theo quy định của pháp luật; 3) Các tập
đoàn, các công ty và các hội hoạt động vì mục đích và lợi ích tư được pháp
luật công nhận có năng lực pháp luật, tồn tại độc lập và tách biệt đối với từng
cổ đông, hội viên hoặc thành viêrL [4].
14
Bộ luật dân sự của Cộng hòa liên bang Nga, tại điều 48 mặc dù với tiêu
đề là khái niệm pháp nhân nhưng trong nội dung lại dường như là liệt kê các
điều kiện để 1 tổ chức được công nhận là pháp nhân: Pháp nhân là một tổ
chức, có quyền sở hữu, quyền sử dụng hay quyền định đoạt đối với tài sản
một cách độc lập và tài sản đó để bào đảm thực hiện nghĩa vụ của tổ chức đó
và có quyền nhân danh mình chiếm hữu và định đoạt tài sản và các quyền
nhân thân phi tài sản, để thanh toán nghĩa vụ và tham gia với tư cách là
nguyên đơn dân sự hoặc bị đơn dân sự trước Toà án. Các pháp nhân có địa vị
độc lập. [6]
Theo quy định tại Điều 84 của Bộ luật dân sự năm 2005 thì “Một tổ
chức được công nhận là pháp nhân khi có đủ các điều kiện sau đây: 1) Được
thành lập hợp pháp; 2) Có cơ cấu tổ chức chặt chẽ; 3) cỏ tài sản độc lập với
cá nhân, tổ chức khác và tự chịu trách nhiệm bằng tài sản đỏ; 4) Nhân danh
mình tham gia các quan hệ pháp luật một cách độc lập”. [1]
Quy định tại Điều 84 của Bộ luật dân sự năm 2005 cũng giống như
quy định tại Điều 94 của Bộ luật dân sự năm 1995 là đã liệt kê các dấu hiệu
để 1 tổ chức có tư cách pháp nhân. Tuy nhiên, so với quy định tại Điều 94 của
Bộ luật dân sự năm 1995 ở điều kiện thử nhất là “Được cơ quan nhà nước có
thẩm quyền thành lập, cho phép thành lập, đăng ký hoặc công nhận” [2] thì
Điều 84 của Bộ luật dân sự năm 2005 đã quy định ngẩn gọn chứ không còn
diễn giải, giải thích bằng các hành vi cụ thể vì tất cả các từ diễn đạt trên đều
thể hiện tổ chức đó “Được thành lập hợp pháp”.
Như vậy, pháp nhân là một chủ thể trong quan hệ pháp luật dân sự;
song, không phải bất kỳ một tổ chức nào cũng đương nhiên là pháp nhân. Mà
“Pháp nhân là một tổ chức có đủ các điều kiện được pháp luật thừa nhận ià có
dân sự năm 2005, năng lực pháp luật dân sự của pháp nhân là khả năng của pháp
nhân có các quyền, nghĩa vụ dân sự phù hợp với mục đích hoạt động của mình.
Năng lực pháp luật dân sự của pháp nhân phát sinh từ thời điểm pháp
nhân được thành lập và chấm dứt từ thời điểm chấm dứt pháp nhân.
Đe tham gia vào các quan hệ pháp luật dân sự, pháp nhân phải tự mình
thông qua hoạt động của mình. Nhưng pháp nhân là một tập thể, tổ chức nên
không thể cùng một lúc tất cả các thành viên của pháp nhân đều tham gia nên
các hoạt động của pháp nhân đều được tiến hành thông qua hành vi của những
người đại diện hợp pháp của pháp nhân. Khi tham gia các quan hệ pháp luật
dân sự, người đại diện hợp pháp của pháp nhân không tạo ra quyền và nghĩa
vụ cho người đại điện mà là hành vi của pháp nhân, vì pháp nhân, nhân danh
pháp nhân. Người đại diện của pháp nhân gồm, người đại diện theo pháp luật
hoặc người đại diện theo uỷ quyền của pháp nhân nhân danh pháp nhân trong
quan hệ dân sự. Bộ luật dân sự năm 2005 quy định tại Điều 91:
“1. Đại diện của pháp nhân có thể là đại diện theo pháp ỉuật hoặc đại
diện theo uỷ quyền. Người đại diện của pháp nhân phải tuân theo quy định về
đại điện tại Chương VII, Phần thứ nhất của Bộ luật này. Theo đó, 1) đại diện
là việc một người (sau đây gọi là người đại diện) nhân đanh và vì lợi ích của
người khác (sau đây gọi là người được đại diện) xác lập, thực hiện giao dịch
đân sự trong phạm vi đại diện; 2) Cá nhân, pháp nhân, chủ thể khác có thể xác
lập, thực hiện giao dịch đân sự thông qua người đại diện. Cá nhân không được
để người khác đại diện cho mình nếu pháp luật quy định họ phải tự mình xác
lập, thực hiện giao dịch đó; 3) Quan hệ đại diện được xác lập theo pháp luật
hoặc theo uỷ quyền; 4) Người được đại diện có quyền, nghĩa vụ phát sinh từ
giao dịch dân sự do người đại diện xác lập; Người đại diện phải có năng lực
hành vi dân sự đầy đủ, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 143 của Bộ
luật này. (Điều 139)
2. Đại diện theo pháp luật của pháp nhân được quy định trong điều lệ
của pháp nhân hoặc trong quyết định thành lập pháp nhân.”
Tại Điều 93 của Bộ luật dân sự năm 2005 quy định “Trách nhiệm dân
a) Hợp đồng lao động không xác định thời hạn (Hợp đồng lao động không
xác định thời hạn là hợp đồng mà trong đó hai bên không xác định thời hạn,
thời điểm chấm dứt hiệu lực của hợp đồng); b) Hợp đồng lao động xác định
thời hạn (Hợp đồng lao động xác định thời hạn là hợp đồng mà trong đó hai
bên xác định thời hạn, thời điểm chấm dứt hiệu lực của hợp đồng trong
khoảng thời gian từ đủ 12 tháng đến 36 tháng); c) Hợp đồng lao động theo
mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng. 2- Khi
hợp đồng lao động quy định tại điểm b và điểm c khoản 1 Điều này hết hạn
mà người lao động vẫn tiếp tục làm việc thì trong thời hạn 30 ngày, kể từ
ngày hợp đồng lao động hết hạn, hai bên phải ký kết hợp đồng lao động mới;
nếu không ký kết hợp đồng lao động mới, hợp đồng đã giao kết trờ thành hợp
đồng lao động không xác định thời hạn. Trường hợp hai bên ký kết hợp đồng
lao động mới là hợp đồng xác định thời hạn thì cũng chi được ký thêm một
thời hạn, sau đó nếu người lao động vẫn tiếp tục làm việc thì phải ký kết hợp
đồng lao động không xác định thời hạn. 3- Không được giao kết hợp đồng lao
động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định mà thời hạn dưới 12
tháng để làm những công việc có tính chất thường xuyên tò 12 tháng trờ lên,
trừ trường hợp phải tạm thời thay thế người lao động đi làm nghĩa vụ quân sự,
nghi theo chế độ thai sản hoặc nghỉ việc có tính chất tạm thời khác.” (Điều
27), và, “Hợp đồng lao động phải có những nội dung chủ yếu sau đây: công
việc phải làm, thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi, tiền lương, địa điểm làm
19
việc, thời hạn hợp đồng, điều kiện về an toàn lao động, vệ sinh lao động và
bảo hiểm xã hội đối với người lao động.” (khoản 1 Điều 29) [11]
Quan hệ lao động đáp ứng được đủng các quy định của pháp luật lao
động thì việc xác định người của pháp nhân sẽ không bị nhầm lẫn.
Do có tính chất đặc thù nên cỏ những loại pháp nhân được điều chinh
bởi những quy định riêng; và vì vậy, người cùa những pháp nhân này cũng
được điều chỉnh bởi những văn bản pháp luật riêng. Bộ luật dân sự 2005 tại
hai điều luật 619 và 620 quy định về trách nhiệm bồi thường cho những thiệt
Theo quy định của Nghị quyết số 388 thì cơ quan tiến hành tổ tụng là
cơ quan thực hiện chức năng điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án. Người có
thẩm quyền của cơ quan tiến hành tố tụng là người có thẩm quyền tiến hành
các hoạt động điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án. [24]
Trường hợp đặc biệt, ở Việt Nam tồn tại các Tổng công ty là các pháp
nhân có vốn Nhà nước là chủ yếu, các chức danh chù chốt của các pháp nhân
này thường là cán bộ, công chức được bổ nhiệm, tuy nhiên, nếu gây thiệt hại
trong khi thực hiện nhiệm vụ được pháp nhân giao thì vẫn là người của pháp
nhân đó gây thiệt hại nên pháp nhân phải bồi thường theo quy định tại Điều 618.
Từ việc phân loại pháp nhân, kết hợp với việc xem xét quy định đặc thù
của pháp luật về cán bộ, công chức và người có thầm quyền của cơ quan tiến
hành tố tụng, dùng phương pháp loại suy, ta có thể xem xét khái niệm người
của pháp nhân ở góc độ hẹp hơn. Từ đó, công tác thực tiễn và công việc
nghiên cứu sẽ không bị nhầm lẫn khi xem xét pháp nhân và người của pháp
nhân theo quy định tại Điều 618.
Đối chiếu các quy định của pháp luật về lao động và các quy định của
pháp luật về cán bộ, công chức và người có thẩm quyền của cơ quan tiến hành
21