Mở đầu
Hiện nay, có những trường hợp gây thiệt hại do người thi hành công vụ gây
ra, ví dụ như: những vụ án oan sai gây thiệt hại cho phạm nhân và người nhà phạm
nhân, cảnh sát giao thông truy đuổi người tham gia giao thông không đội mũ bảo
hiểm dẫn đến tai nạn đáng tiếc xảy ra… Vậy trong những trường hợp như vậy,
trách nhiệm bồi thường thiệt hại là của ai, cách thức bồi thường như thế nào, thiệt
hại như nào thì phải bồi thường cũng như mức bồi thường ra sao… Vì vậy, để tìm
hiểu rõ hơn về vấn đề này em xin lựa chọn đề số 13: “phân tích quy định về trách
nhiệm bồi thường thiệt hại do người thi hành công vụ gây ra trong BLDS 2015.
Sưu tầm một tình huống thực tế về bồi thường thiệt hại do người thi hành công
vụ gây ra và đưa ra cách giải quyết theo quan điểm cá nhân”.
Nội dung
Bảng từ viết tắt
BLDS – Bộ luật dân sự;
BTTH – Bồi thường thiệt hại;
TAND – Tòa án nhân dân;
HĐXX – Hội đồng xét xử;
VKSND – Viện kiểm sát nhân dân
A. Lý luận chung về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do người thi hành
công vụ gây ra (điều 598 BLDS 2015)
I. Khái niệm trách nhiệm bồi thường thiệt hại do người thi hành công vụ
gây ra
1. Định nghĩa
BLDS năm 2005 quy định trách nhiệm BTTH do cán bộ, công chức gây ra
(Điều 619), do người có thẩm quyền của cơ quan tiến hành tố tụng gây ra (Điều
620). Tuy nhiên trách nhiệm BTTH do cán bộ, công chức và do người có thẩm
quyền của cơ quan tiến hành tố tụng gây ra là loại trách nhiệm BTTH mang tính
đặc thù, được điều chỉnh bởi Luật trách nhiệm bồi thường của nhà nước. chính vì
vậy Điều 598 BLDS 2015 quy định về bồi thường thiệt hại do người thi hành công
thiệt hại, tuy nhiên hành vi thi hành công vụ của họ được coi là hành vi của nhà
nước, các quyết định của họ là quyết định của nhà nước. Do đó, trong trường hợp
người thi hành công vụ có hành vi vi phạm pháp luật gây thiệt hại cho các cá nhân,
tổ chức thì nhà nước phải có trách nhiệm về những thiệt hại đó và cơ quan trực tiếp
quản lý người thi hành công vụ thực hiện việc giải quyết bồi thường.
Thứ hai, là trách nhiệm vật chất, hướng tới việc khắc phục, hỗ trợ khi có thiệt
hại do người thi hành công vụ gây ra.
II.
Căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại do người thi hành
công vụ gây ra
Theo quy định tại điều 598 BLDS 2015 thì Nhà nước có trách nhiệm BTTH do
hành vi trái pháp luật của người thi hành công vụ gây ra , hay nói cách khác trách
nhiệm BTTH do người thi hành công vụ gây ra chính là trách nhiệm BTTH của
Nhà nước. Bản chất trách nhiệm BTTH của Nhà nước chính là trách nhiệm BTTH
ngoài hợp đồng vì vậy mà căn cứ làm phát sinh trách nhiệm bồi thường của Nhà
nước cũng tương tự giống với căn cứ phát sinh trách nhiệm BTTH ngoài hợp đồng
đó là: có thiệt hại xảy ra; có hành vi trái pháp luật; có mối quan hệ nhân quả giữa
thiệt hại xảy ra và hành vi trái pháp luật; lỗi của người gây thiệt hại. Bên cạnh đó,
vì trách nhiệm BTTH của nhà nước là trách nhiệm đặc thù nên căn cứ phát sinh
trách nhiệm cũng sẽ mang những nét đặc thù, cụ thể về các căn cứ như sau:
1. Có thiệt hại thực tế xảy ra
Căn cứ này thì tương tự như căn cứ làm phát sinh trách nhiệm BTTH ngoài hợp
đồng. Thiệt hại xảy ra là tiền đề của trách nhiệm BTTH bởi mục đích của việc áp
dụng trách nhiệm là khôi phục lại tình trạng tài sản cho người bị thiệt hại, do đó,
không có thiệt hại thì sẽ không đặt ra vấn đề bồi thường cho dù có đầy đủ các điều
kiện khác. Thiệt hại là những tổn thất thực tế được tính thành tiền do việc xâm
thường của nhà nước mà các Điều 13, 26, 28, 38 và 39 Luật trách nhiệm bồi
thường của nhà nước năm 2009 đã quy định.
Đối với một quan hệ pháp luật về BTTH thông thường thì pháp luật dan sự quy
định khi một cá nhân, tổ chức cho rằng mình bị thiệt hại thì họ có quyền yêu cầu
bồi thường ngay lập tức (khi còn thời hiệu). trong quá trình xem xét, giải quyết yêu
cầu bồi thường, cơ quan có thẩm quyền sẽ xem xét tính hợp pháp của hành vi gây
thiệt hại. Trong khi đó, pháp luật về trách nhiệm BTTH của nhà nước lại quy định
cá nhân, tổ chức chỉ có quyền yêu cầu BTTH khi có văn bản xác định hành vi trái
pháp luật của người thi hành công vụ do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban
hành (điều 4).
Trách nhiệm bồi thường của nhà nước chỉ được đặt ra khi có hành vi thi hành
công vụ.
3. Mối quan hệ nhân quả giữa thiệt hại và hành vi trái pháp luật của
người thi hành công vụ.
Thiệt hại xảy ra cho cá nhân, tổ chức là kết quả của hành vi trái pháp luật của
người thi hành công vụ hay ngược lại hành vi trái pháp luật của người thi hành
công vụ là nguyên nhân của thiệt hại xảy ra. Tại điều 584 BLDS 2015 quy định
dưới dạng: “người nào…xâm phạm…mà gây thiệt hại” thì phải bồi thường. Ở đây
có thể thấy hành vi “xâm phạm” đến tính mạng, tài sản… là nguyên nhân và thiệt
hại là hậu quả của hành vi đó. Việc xác định mối quan hệ nhân quả giữa hành vi
trái pháp luật và thiệt hại xảy ra trong nhiều trường hợp rất khó khăn. Do đó, cần
phải xem xét, phân tích, đánh giá tất cả các sự kiện liên quan một cách thận trọng,
khách quan và toàn diện. Từ đó mới có thể rút ra được kết luận chính xác về
nguyên nhân, xác định đúng trách nhiệm của người gây thiệt hại.
Nhà nước chỉ phải chịu trách nhiệm bồi thường cho thiệt hại xảy ra khi giữa
thiệt hại và hành vi của người thi hành công vụ có quan hệ nhân quả với nhau.
4. Lỗi của người thi hành công vụ
Trong Luật trách nhiệm bồi thường của Nhà nước, Điều 6 về căn cứ xác định
pháp luật gây ra thiệt hại cho cá nhân, tổ chức thì Nhà nước là chủ thể BTTH.
Nhưng trách nhiệm BTTH do người thi hành công vụ gây ra nếu chỉ quy định
nhà nước là chủ thể phải bồi thường sẽ dẫn đến hậu quả là các cán bộ, công chức,
những người thi hành công vụ sẽ thực hiện công việc một cách tùy tiện, vô trách
nhiệm. Vì vậy để hậu quả đó không xảy ra Luật trách nhiệm bồi thường của nhà
nước tại chương VII đã quy định trách nhiệm hoàn trả của người thi hành công vụ.
Cụ thể tại điều 56 quy định nghĩa vụ hoàn trả và xử lý trách nhiệm người thi hành
công vụ:
“1. Người thi hành công vụ có lỗi gây ra thiệt hại có nghĩa vụ hoàn trả cho
ngân sách nhà nước một khoản tiền mà Nhà nước đã bồi thường cho người bị thiệt
hại theo quyết định của cơ quan có thẩm quyền.
2. Người thi hành công vụ có lỗi vô ý gây ra thiệt hại quy định tại Điều 26 của
Luật này không phải chịu trách nhiệm hoàn trả.
3.Người thi hành công vụ ngoài việc phải hoàn trả khoản tiền quy định tại
khoản 1 Điều này thì tùy theo tính chất, mức độ vi phạm còn phải bị xử lý kỷ luật
hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật.”
Theo điều 57 thì mức hoàn trả của người thi hành công vụ được căn cứ vào mức
độ lỗi; mức độ thiệt hại xảy ra và điều kiện kinh tế của người thi hành công vụ.
2. Nguyên tắc bồi thường thiệt hại
Theo Điều 7 Luật trách nhiệm bồi thường của nhà nước quy định về nguyên tắc
bồi thường như sau:
“1. Kịp thời, công khai, đúng pháp luật;
2. Được tiến hành trên cơ sở thương lượng giữa cơ quan có trách nhiệm bồi
thường với người bị thiệt hại hoặc đại diện hợp pháp của họ;
3. Được trả một lần bằng tiền, trừ trường hợp các bên có thoả thuận khác”.
Bồi thường kịp thời cho người bị thiệt hại nhằm khắc phục tình trạng tài sản của
người bị thiệt hại, tạo điều kiện cho họ khắc phục tình trạng tài sản khi bị thiệt
hại.Điều này có ý nghĩa rất quan trọng khi thiệt hại về tính mạng sức khỏe của cá
sản được xác định là những thiệt hại được bồi thường.
4.Các khoản tiền đã nộp vào ngân sách nhà nước theo quyết định của cơ quan
nhà nước có thẩm quyền, bị tịch thu, thi hành án, khoản tiền đã đặt để bảo đảm tại
cơ quan có thẩm quyền được nhà nước hoàn trả cho người bị thiệt hại hoặc thân
nhân của họ; trường hợp khoản tiền đó là khoản vay có lãithì phải hoàn trả cả
khoản lãi hợp pháp; trường hợp khoản tiền đó không phải khoản tiền vay có lãi thì
phải hoản trả cho người bị thiệt hại hoặc thân nhân của họ cả khoản lãi theo lãi
suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam công bố tại thòi điểm giải quyết bồi
thường.”
2. Thiệt hại do thu nhập thực tế bị mất hoặc giảm sút.
Tại điều 46 quy định: “ 1. Cá nhân, tổ chức có thu nhập mà xác định được thì
được bồi thường theo thu nhập thực tế bị mất.
2. Trường hợp cá nhân có thu nhập thường xuyên nhưng không ổn định thì mức
bồi thường được xác định căn cứ vào thu nhập trung bình trong ba tháng liền kề
trước thời điểm thiệt hại xảy ra.
3. Cá nhân có thu nhập không ổn định và không có cơ sở xác định cụ thể hoặc thu
nhập có tính chất thời vụ thì áp dụng mức thu nhập trung bình của lao động cùng
loại tại địa phương. Trường hợp không xác định được thu nhập trung bình thì tiền
bồi thường được xác định theo mức lương tối thiểu chung đối với cơ quan nhà
nước tại thời điểm giải quyết bồi thường (sau đây gọi chung là lương tối thiểu)”.
3. Thiệt hại về tinh thần
Xác định thiệt hại về tinh thần tại điều 47 quy định cụ thể như sau:
“1. Thiệt hại do tổn thất về tinh thần trong thời gian bị tạm giữ hành chính, bị
đưa vào trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục, cơ sở chữa bệnh được xác định là hai
ngày lương tối thiểu cho một ngày bị tạm giữ hành chính, bị đưa vào trường giáo
dưỡng, cơ sở giáo dục, cơ sở chữa bệnh.
2. Thiệt hại do tổn thất về tinh thần trong trường hợp bị tạm giữ, tạm giam, chấp
hành hình phạt tù được xác định là ba ngày lương tối thiểu cho một ngày bị tạm
giữ, tạm giam, chấp hành hình phạt tù.
mạng thực chất là bồi thường vật chất phải bỏ ra liên quan đến cái chết của người
bị thiệt hại. Những chi phí phải bỏ ra bao gồm:
Những chi phí hợp lý cho việc cứu chữa, bồi dưỡng, chăm sóc nạn nhân trước
khi chết, chi phí hợp lý cho việc mai táng theo quy định của pháp luật về bảo hiểm
xã hội.
Tiền cấp dưỡng cho những người mà người chết có nghĩa vụ cấp dưỡng. Tiền
cấp dưỡng hàng tháng được xác định là mức lương tối thiểu, trừ trường hợp pháp
luật có quy định khác hoặc đã được xác định theo quyết định có hiệu lực của cơ
quan nhà nước có thẩm quyền.
6. Thiệt hại do danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm hại
Thiệt hại về danh dự, nhân phẩm, uy tín của cá nhân không thể xác định. Thực
chất là xác định những tổn thất về vật chất do danh dự, nhân phẩm, uy tín của cá
nhân bị xâm phạm, nhằm phục hồi tình trạng ban đầu của người bị xâm hại, những
chi phí đó bao gồm:
Những chi phí phải bỏ ra và thu nhập bị mất (thu thập chứng cứ, thời gian phải
bỏ ra để khiếu nại, đăng báo cải chính…)
Bên cạnh đó, nhà nước còn có trách nhiệm khôi phục danh dự, nhân phẩm, uy
tín cho người bị thiệt hại bằng cách thực hiện việc xin lỗi, cải chính công khai.
B. Tình huống thực tế, giải quyết tình huống theo quan điểm cá nhân.
1. Tình huống thực tế
Theo cáo trạng, vào năm 2003, ông Nguyễn Trần đến làm thuê tại nhà máy xay
xát lúa gạo cho ông L.V.L (Lê Văn Lành- đề nghị viết tắt). Vào tháng 4.2003
(không rõ ngày), ông Trần đạp xe đến nhà ông L chơi thì thấy cháu L.T.M.Y. (13
tuổi, con gái ông L.) (Lê Thị Mỹ Yến- đề nghị viết tắt) đang học bài một mình nên
thực hiện hành vi giao cấu. Vì sợ cha mẹ mắng và xấu hổ với bạn bè nên Y không
dám nói với ai. Từ tháng 11 đến tháng 12 năm 2005, ông Trần còn tiếp tục giao cấu
với cháu Y nhiều lần. Đến ngày 14.3.2006, gia đình thấy cháu Y có dấu hiệu bất
thường nên đưa đi khám thì phát hiện con mình có thai 3 tháng tuổi. Khi cha mẹ tra
tín của ông.
Thứ hai, có hành vi trái pháp luật của người thi hành công vụ đó là VKSND đã
ban hành quyết định truy tố ông Nguyễn Trần “tội danh hiếp dâm trẻ em” sau đổi
thành “giao cấu với trẻ em”
Thứ ba, về mối quan hệ nhân quả giữa hành vi trái pháp luật của người thi hành
công vụ và thiệt hại xảy ra. Trong tình huống này, việc mà VKSND ban hành quyết
định truy tố ông Nguyễn Trần “tội hiếp dâm trẻ em” sau đổi thành “giao cấu với trẻ
em” là nguyên nhân trực tiếp khiến ông bị thiệt hại về vật chất, tinh thần và uy tín
danh dự.
Như vậy,chỉ cần có quyết định của tòa án nhân dân huyện Xuân lộc xác định
ông Trần không thực hiện hành vi trái pháp luật thì ông Trần sẽ được BTTH.
b. Ai sẽ bồi thường cho ông Trần
Trong tình huống này VKSND có trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho ông
Trần khi có quyết định của tòa án nhân dân huyện Xuân lộc xác định ông Trần
không thực hiện hành vi trái pháp luật vì:
Tại Điều 31 Luật trách nhiệm bồi thường của nhà nước quy định về trách nhiệm
bồi thường của VKSND trong hoạt động tố tụng hình sự, theo đó nêu rõ các trường
hợp mà VKSND phải bồi thường và khoản 4 quy định như sau: “đã có quyết định
truy tố bị can nhưng tòa án nhân dân cấp sơ thẩm tuyên bị cáo không có tội vì
không thực hiện hành vi phạm tội và bản án sơ thẩm đã có hiệu lực.”
Xét trong tình huống này, VKSND đã có quyết định truy tố ông Trần “tội hiếp
dâm trẻ em” sau đó chuyển thành “giao cấu với trẻ em”. Vì vậy, khi tòa án nhân
dân huyện Xuân Lộc tuyên bố ông Trần không có tội, hay khi có quyết định của
tòa án nhân dân huyện Xuân lộc xác định ông Trần không thực hiện hành vi trái
pháp luật thì tình huống này sẽ rơi vào trường hợp quy định tại khoản 4, Điều 31
vừa nêu trên và VKSND có trách nhiệm phải bồi thường thiệt hại cho ông Trần.
c. Xác định thiệt hại,mức bồi thường
Xác định thiệt hại gây ra cho ông Trần bao gồm:
2. Bộ Luật Dân sự 2015, nxb lao động;
3. https://thuvienphapluat.vn/van-ban/Tai-chinh-nha-nuoc/Luat-trach-nhiemboi-thuong-cua-Nha-nuoc-2009-35-2009-QH12-90633.aspx
4. https://thanhnien.vn/thoi-su/vien-ksnd-tinh-dong-nai-bi-kien-ra-toa-doi-oansai-683256.html