Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do người có thẩm quyền của cơ quan tiến hành tố tụng gây ra - Pdf 25

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT

ĐỖ ĐỨC THỌ
TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI DO
NGƯỜI CÓ
THẨM QUYỀN CỦA CƠ QUAN TIẾN HÀNH TỐ
TỤNG GÂY RA CHUYÊN NGÀNH : LUẬT DÂN SỰ
MÃ SỐ : 60 38 30
LUẬN VĂN THẠC SỸ LUẬT HỌC

cơ quan tiến hành tố tụng. Vì vậy, việc xây dựng một cách đầy đủ, đồng bộ,
thống nhất những quy định pháp luật về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do
người có thẩm quyền tiến hành tố tụng gây ra là cơ sở để bảo vệ quyền và lợi
ích hợp pháp của công dân, phát huy dân chủ, nâng cao lòng tin của nhân dân
vào hệ thống các cơ quan tư pháp, góp phần duy trì và giữ vững an ninh chính
trị, trật tự an toàn xã hôi.
Nghị quyết số 388/2003/NQ – UBTVQH11 của Uỷ ban thường vụ
quốc hội được ban hành 17/3/2003 nhằm cụ thể hóa quy định của Hiến pháp,
Bộ luật dân sự, Bộ luật tố tụng hình sự về việc bồi thường thiệt hại và khôi
phục danh dự cho người bị bắt, bị giam giữ, bị khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử
và thi hành án trái pháp luật. Việc ban hành Nghị quyết được sự đồng tình,
ủng hộ của nhân dân, góp phần củng cố lòng tin của nhân dân đối với Nhà
nước nói chung và các cơ quan tiến hành tố tụng nói riêng, hơn nữa sau ba
năm thực hiện Nghị quyết 388 đã có tác động tích cực, tạo ra chuyển biến
quan trọng trong nhận thức và hoạt động của các cơ quan tiến hành tố tụng, từ
đó nâng cao trách nhiệm của người tiến hành tố tụng trong hoạt động tố tụng
hình sự, chất lượng công tác khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án
hình sự được nâng lên, số vụ việc để xảy ra oan, sai giảm đáng kể.
Thực tiễn công tác giải quyết việc bồi thường thiệt hại do người có
thẩm quyền của cơ quan tiến hành tố tụng gây ra theo Nghị quyết 388 cho
thấy còn có nhiều hạn chế trong việc ban hành văn bản hướng dẫn thi hành 2
nghị quyết cũng như trong nhận thức và việc giải quyết bồi thường cho người
bị oan, đặc biệt là trong việc quy định rõ căn cứ xác định trách nhiệm giữa
các cơ quan tiến hành tố tụng, giữa người tiến hành tố tụng vói thủ truởng cơ
quan tiến hành tố tụng, cách xác định thiệt hại, tính toán mức bồi thường, nhất
là việc tính toán thiệt hại về tinh thần. Xuất phát từ thực trạng trên cho thấy
cần phải có một văn bản pháp luật có hiêu lực pháp lý cao hơn quy định về

Luận văn được thực hiện dựa trên phương pháp nghiên cứu tổng hợp
theo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lê nin cùng với khoa học lý luận về nhà
nước và pháp luật
Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu khoa học khác như:
phân tích, so sánh, tổng hợp, thống kê
Cơ cấu của Luận văn
Luận văn được kết cấu gồm:
Lời nói đầu
Chương 1: Khái niệm chung về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do
người có thẩm quyền của cơ quan tiến hành tố tụng gây ra
Chương 2: Cơ sở pháp lý của trách nhiệm bồi thường thiệt hại và pháp
luật về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do người của cơ quan tiến hành tố
tụng gây ra
Chương 3: Thực trạng giải quyết bồi thường thiệt hại và phương hướng
hoàn thiện pháp luật
Kết luận
Vấn đề trách nhiệm bồi thường thiệt hại do người có thẩm quyền tiến
hành tố tụng gây ra là vấn đề phức tạp. Mặc dù cố gắng rất nhiều nhưng do
hạn chế về thời gian và những yếu tố khác nên khó tránh khỏi những thiếu sót,
hạn chế trong Luận văn này, do vậy rất mong nhận được sự sư góp ý, hướng
dẫn của các thầy cô và bạn bè để luân văn này đuợc hoàn thiện hơn nữa
6
Tuy nhiên, để hiểu rõ hơn về trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài
hợp đồng việc xem xét đặc điểm cũng như điều kiện phát sinh trách nhiệm
ngoài hợp đồng hết sức quan trọng.
* Đặc trƣng của trách nhiệm bồi thƣờng thiệt hại ngoài hợp đồng:
Cũng giống như trách nhiệm dân sự nói chung trách nhiệm bồi thường
thiệt hại ngoài hợp đồng nói riêng cũng mang những đặc điểm chung của
trách nhiệm pháp lý.
- Cơ sở thực tế của trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng là
những vi phạm pháp luật, ở đâu có vi phạm pháp luật, ở đó có trách nhiệm
pháp lý. Không có vi phạm pháp luật thì không thể có trách nhiệm pháp lý
- Trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng thể hiện sự lên án
của Nhà nước, xã hội và là một chế tài mang tính trừng phạt đối với chủ thể
gây thiệt hại thông qua việc buộc họ phải gánh chịu những hậu quả bất lợi do
hành vi vi phạm của mình, đặc điểm này giải thích lý do tại sao cấu thành của
trách nhiệm bồi thường thiệt hại có nội dung chủ yếu là khôi phục những thiệt
hại đã xảy ra.
- Cơ sở pháp lý của việc truy cứu trách nhiệm pháp luật là quyết định
có hiệu lực của cơ quan nhà nước có thẩm quyền: Điều này xuất phát từ đặc
điểm không tách rời giữa trách nhiệm pháp lý và nhà nước, có nghĩa là nhà
nước thông qua các cơ quan, người có thẩm quyền mới có thẩm quyền xác
định một cách chính thức hành vi nào là vi phạm pháp luật và áp dụng biện
pháp trách nhiệm pháp lý đối với chủ thể gây ra thiệt hại đó.
- Ngoài ra, trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng còn mang
đặc tính của trách nhiệm dân sự là trách nhiệm tài sản nhằm khôi phục lại tình
trạng tài sản của người bị thiệt hại do cơ quan Nhà nước có thẩm quyền áp
dụng.
Từ những đặc trưng pháp lý trên cho thấy về cơ bản trách nhiệm bồi

khác nhau để khắc phục những thiệt hại xảy ra hoặc áp dụng những biện pháp
cần thiết khác để bảo đảm quyền lợi cho các đương sự. Thiệt hại có thể phân
loại thành: 8
+ Thiệt hại về tài sản: Đây là hậu quả của hành vi trái pháp luật do chủ
thể có lỗi gây ra mà biểu hiện cụ thể là mất tài sản, giảm sút tài sản, những chi
phí để ngăn chặn, hạn chế, sửa chữa, thay thế, những lợi ích gắn liền với việc
sử dụng, khai thác công dụng của tài sản.
+ Thiệt hại về tính mạng, sức khoẻ là hậu quả của hành vi trái pháp luật
do chủ thể có lỗi gây ra làm phát sinh thiệt hại về vật chất bao gồm chi phí
cứu chữa, bồi thường, chăm sóc, phục hồi chức năng bị mất, thu nhập thực tế
bị mất, bị giảm sút do thiệt hại về tính mạng, sức khỏe.
+ Thiệt hại do danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm hại: Đây chính là các
giá trị nhân phẩm của chủ thể này bị chủ thể khác xâm phạm từ hành vi trái
pháp luật, từ đó kéo theo hàng loạt các thiệt hại khác bao gồm chi phí hợp lý
để ngăn chặn, khắc phục thiệt hại, thu nhập thực tế bị mất, bị giảm sút do
danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm hại
- Hành vi gây thiệt hại là hành vi trái pháp luật
Một trong những điều kiện để xác định trách nhiệm bồi thuờng thiệt hại
theo quy định của Bộ luật dân sự là phải có hành vi xâm phạm quyền dân sự,
hiểu theo nghĩa rộng đó chính là hành vi trái pháp luật. Trong bộ luật dân sự
Việt Nam năm 1995 mặc dù không có điều luật nào quy định cụ thể khái niệm
hành vi vi phạm pháp luật. Tuy nhiên, theo quy định tại điều 609 có thể hiểu
hành vi trái pháp luật là hành vi xâm phạm đến tính mạng, sức khoẻ, danh dự,
nhân phẩm, uy tín, tài sản, các quyền và lợi ích hợp pháp khác của cá nhân,
xâm phạm danh dự, uy tín, tài sản, các quyền và lợi ích hợp pháp khác của cá
nhân, xâm phạm danh dự, uy tín, tài sản của pháp nhân hoặc các chủ thể
khác”

những xử sự cụ thể của con người được thể hiện thông qua hành động hoặc
không hành động trái với quy định của pháp luật”
Hành vi trái pháp luật là những xử sự cụ thể cuả con người được thể
hiện thông qua hành động hoặc không hành động trái với quy định của pháp
luật 10
Trong luật hình sự, hành vi là biểu hiện cơ bản của mặt khách quan của
tội phạm. Những biểu hiện khách quan của mặt khách quan chỉ có ý nghĩa khi
có hành vi trái pháp luật. Không thể nói đến hậu quả của tội phạm cũng như
những biểu hiện khách quan khác như công cụ, phương tiện, địa điểm, thời
gian… khi không có hành vi trái pháp luật. Những biểu hiện của mặt chủ
quan như lỗi, mục đích, động cơ cũng luôn gắn với một hành vi khách quan
cụ thể
Trong luật dân sự, hành vi gây thiệt hại (hành vi khách quan) là nguyên
nhân gây ra sự biến đổi tình trạng những đối tượng tác động và do vậy là
nguyên nhân gây thiệt hại cho các quan hệ xã hội (khách thể). Hành vi gây
thiệt hại là cầu nối giữa người gây thiệt hại (chủ thể) đối với đối tượng tác
động tức các quan hệ xã hội(khách thể). Không thể có người gây thiệt hại khi
không có hành vi gây thiệt hại, hành vi gây thiệt hại có thể được thực hiện
bằng hành động hoặc không hành động. Hành động hay không hành động đều
là biểu hiện của con người ra ngoài thế giới khách quan, được ý thức kiểm
soát, ý chí điều khiển và đều có khả năng làm biến đổi tình trạng bình thường
của đối tượng tác động, gây thiệt hại cho các quan hệ xã hội được pháp luật
bảo vệ
Hành động gây thiệt hại là một hình thức của hành vi gây thiệt hại, nó
trực tiếp tác động đến đối tượng làm biến đổi tình trạng bình thường của đối
tượng, gây thiệt hại cho khách thể. Hành động gây thiệt hại có thể chỉ là một
tác động đơn giản xảy ra một lần trong một thời gian ngắn hoặc có thể là tổng

phải gánh chịu trách nhiệm dân sự. Do đó việc xác định lỗi của người gây
thiệt hại có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong việc xác định trách nhiệm bồi
thường thiệt hại.
Lỗi là thái độ tâm lý của một người đối với hành vi trái pháp luật của
mình, nếu nhận thức được hành vi vi phạm pháp luật của mình song vẫn cố tình
xử sự và như vậy buộc họ phải chịu trách nhiệm về sự lựa chọn của mình.
Người có hành vi trái pháp luật gây thiệt hại buộc phải chịu trách nhiệm dân sự
khi họ có lỗi. Xác định lỗi của người gây thiệt hại không chỉ có ý nghĩa quan 12
trọng khi quyết định họ phải có TNBTTH mà còn có ý nghĩa quyết định khi
xác định mức BTTH. Về mặt hình thức lỗi thể hiện dưới dạng cố ý hoặc vô ý.
- Cố ý gây thiệt hại là trường hợp một người nhận thức rõ hành vi của
mình sẽ gây thiệt hại cho người khác mà vẫn thực hiện và mong muốn hoặc
không mong muốn, nhưng để mặc cho thiệt hại xảy ra.
- Vô ý gây thiệt hại là một người không thấy trước hành vi của mình có
khả năng gây ra thiệt hại mặc dù phải biết trước thiệt hại sẽ xảy ra hoặc thấy
trước hành vi của mình có khả năng gây thiệt hại, nhưng cho rằng thiệt hại sẽ
không xảy ra hoặc có thể ngăn chặn được.
Lỗi trong trách nhiệm dân sự có thể là lỗi suy đoán tức là hành vi gây
thiệt hại là hành vi trái pháp luật nên người thực hiện hành vi đó bị suy đoán
là người có lỗi. Điều này đươc thể hiện ở khoản 3 Điều 606 Bộ luật Dân sự
“Nếu người giám hộ chứng minh được mình không có lỗi trong vịêc giám hộ,
thì không phải lấy tài sản của mình đề bồi thường”. Quy định này của pháp
luật xuất phát từ đặc thù cơ bản của ngành luật dân sự là các đuơng sự tự định
đoạt, tức là tự yêu cầu toà án giải quyết các yêu cầu của mình, tự thay đổi yêu
cầu của mình, tự rút yêu cầu của mình. Do đó khi họ đưa yêu cầu của mình ra
trước toà án thì ho phải có các chứng cứ để chứng minh yêu cầu, nguyện vọng
của mình là đúng. Bên có hành vi gây thiệt hại không cần phải chứng minh lỗi

pháp luật và thiệt hại xảy ra, cần phải chú ý một số đặc điểm sau:
- Về mặt thời gian, hành vi trái pháp luật phải xảy ra trước hậu qua
nguy hiểm cho xã hội về mặt thời gian, tức là hành vi trái pháp luật chỉ được
coi là nguyên nhân gây ra thiệt hại khi nó xảy ra trước, có trước thiệt hại.
Thiệt hại xảy ra là sự nối tiếp về mặt thời gian của hành vi trái pháp luật
- Hành vi trái pháp luật độc lập hoặc trong mối tổng hợp với một hoặc
nhiều hiện tượng khác phaỉ chứa đựng khả năng thực tế làm phát sinh hậu quả
ngy hiểm cho xã hội
- Hậu quả nguy hiểm đã xảy ra phải đúng là sự hiện thực hoá khả năng
thực tế làm phát sinh hậu quả của hành vi trái pháp luật – hoặc là khả năng
trực tiếp làm biến đổi tình trạng bình thường của đối tượng tác động hoặc là
khả năng để sự biến đổi đó tiếp tục diễn ra không bị ngăn chặn. 14
Mối quan hệ nhân quả có ý nghĩa quan trọng trong việc xác định trách
nhiệm BTTH , nhưng trên thực tế, việc xem xét và đánh giá mối quan hệ nhân
quả đảm bảo khách quan, toàn diện để rút ra kết luận chính xác là rất phức tạp,
khó khăn. Một mặt, thiệt hại có thể có rất nhiều nguyên nhân, vậy, xác định
nguyên nhân nào là chủ yếu, trực tiếp là hết sức quan trọng và cần thiết.
1.2. KHÁI NIỆM, ĐẶC ĐIỂM ĐỊA VỊ PHÁP LÝ CỦA CƠ QUAN
TIẾN HÀNH TỐ TỤNG VÀ NGƢỜI CÓ THẨM QUYỀN CỦA CƠ QUAN
TIẾN HÀNH TỐ TỤNG
1.2.1 Cơ quan tiến hành tố tụng.
Cơ quan tiến hành tố tụng là cơ quan nhà nước, độc lập thực thi quyền
tư pháp trong giải quyết các vụ việc theo thủ tục tố tụng do luật định nhằm
bảo vệ pháp luật và pháp chế XHCN, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của cá
nhân, tổ chức, nhà nước.
Quá trình tố tụng hình sự được phân chia thành các giai đoạn tố tụng
khác nhau. Tương ứng với các giai đoạn tố tụng đó, có những cơ quan nhất

Với nhiệm vụ và vai trò quan trọng như trên nên trong hoạt động điều
tra, các cơ quan điều tra luôn phải tuân thủ các nguyên tắc của pháp luật tố
tụng như: mội hoạt động điều tra tuân theo các quy định của pháp luật, hoạt
động điều tra phải tôn trọng sự thật, tiến hành một cách khách quan, toàn diện
và đầy đủ, phát hiện nhanh chóng, chính xác mọi hành vi phạm tội, làm rõ
những chứng cứ xác định có tội và những chứng cứ xác định vô tội, những
tình tiết tăng nặng và tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của người có
hành vi phạm tội, không để lọt tội phạm, không làm oan người vô tội
Trong toàn bộ quá trình điều tra việc giám sát, kiểm tra, kiểm sát đối
với hoạt động điều tra rất quan trọng bởi lẽ, kết quả điều tra là cơ sở để truy tố,
xét xử người có hành vi phạm tội, việc điều tra sai sẽ dẫn đến việc truy tố, xét
xử sai. Luật tố tụng Hình sự và pháp lệnh tổ chức điều tra hình sự đã quy định
cụ thể nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm của thủ trưởng, phó thủ trưởng cơ
quan điều tra và điều tra viên đồng thời đưa ra cơ chế kiểm sát của kiểm sát
viên đối với hoạt động điều tra nhằm đảm bảo hoạt động của các cơ quan điều
tra, của các cơ quan khác được giao tiến hành một số hoạt động điều tra phải 16
tuân thủ quy định của Bộ luật tố tụng hình sự và pháp lệnh tổ chức điều tra
hình sự nhằm tránh những oan,sai có thể xảy ra.
Bên cạnh hệ thống cơ quan điều tra chuyên trách. Bộ luật tố tụng hình
sự năm 2003 và Pháp lệnh tổ chức điều tra hình sự năm 2004 còn quy định
khá cụ thể hệ thống các cơ quan khác được giao nhiệm vụ tiến hành một số
hoạt động điều tra và nhiệm vụ quyền hạn cụ thể của các cơ quan này như:
Bộ đội biên phòng; lực lượng cảnh sát biển; hải quan; kiểm lâm; các cơ quan
khác của công an nhân dân, quân đội nhân dân được giao nhiệm tiến hành
một số hoạt động điều tra.
Quy định của pháp lệnh tổ chức điều tra hình sự năm 2004 đã cho thấy
sự đổi mới trong mô hình tổ chức và hoạt động của cơ quan điều tra, so với

động bắt, giam, giữ, thi hành án, bảo đảm mọi hành vi vi phạm pháp luật phải
được phát hiện kịp thời và tội phạm phải bị truy tố trước pháp luật; đồng thời
việc bắt để tạm giam, tạm giữ và chế độ giam giữ phạm nhân phải đúng pháp
luật, tránh oan sai và đặc biệt là tôn trọng nhân phẩm con người.
Toà án
Tòa án nhân dân là cơ quan xét xử của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa
Việt Nam. Theo Điều 162 Hiến pháp 1992, Điều 1 Luật Tổ chức Tòa án nhân
dân 2002, thì Tòa án có nhiệm vụ xét xử các vụ án hình sự, dân sự, hôn nhân
và gia đình. lao động, kinh tế, hành chính và giải quyết các việc khác theo quy
định của pháp luật để bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa, bảo vệ chế độ xã hội
chủ nghĩa và quyền làm chủ của nhân dân, bảo vệ tài sản của Nhà nước, của
tập thể, bảo vệ tính mạng, tài sản, tự do, danh dự và nhân phẩm của công dân.
Hệ thống toà ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam gồm các
Tòa án sau đây:
1. Tòa án nhân dân tối cao;
2. Các tòa án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương;
3. Các tòa án nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh;
4. Các tòa án quân sự;
5. Các tòa án khác do luật định. 18
Trong tình hình đặc biệt, Quốc hội có thể quyết định thành lập
Tòa án đặc biệt.
Toà án Việt Nam áp dụng một hệ thống xét xử gồm hai cấp. Trong
trường hợp một bên đương sự không chấp nhận phán xét của tòa sơ thẩm thì
có thể đề nghị xét xử phuc thẩm. Phán quyết của tòa phúc thẩm là phán quyết
cuối cùng và phải được thi hành. Nếu như sau khi bản án có hiệu lực pháp
luật, bằng chứng mới lại được tìm ra thì một bên đương sự có thể đề nghị với
Chánh án Tòa án nhân dân hoặc Viện trưởng viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh

tụng, thì mối quan hệ giữa cơ quan điều tra và tòa án không phản ánh mối
quan hệ phụ thuộc nhau, không có tính chế ước nhau trong hoạt động tố tụng,
cơ quan điều tra không thể tự mình đưa vụ án và đề nghị Tòa án xét xử.
Ngược lại, Tòa án không buộc cơ quan điều tra phải làm hay không được làm
một việc trong hoạt động tố tụng. Tất cả sự tác động giữa cơ quan điều tra và
Tòa án đều phải thông qua Viện kiểm sát.
Mối quan hệ giữa cơ quan điều tra, Viện kiểm sát và Tòa án cấu tạo nên
các cơ quan tiến hành tố tụng hình sự. Trong đó tòa án là trung tâm, hoạt động
tố tụng hình sự của các cơ quan tiến hành tố tụng dựa trên cơ sở pháp luật tố
tụng hiện hành.
Hoạt động tố tụng là một quá trình liên tục trong giải quyết vụ án, cho
nên mối quan hệ giữa các cơ quan tiến hành tố tụng chiếm vai trò quan trọng
đòi hỏi phải được củng cố thường xuyên. Trong bộ luật tố tụng hình sự, tuy
rằng không có quy định cụ thể về mối quan hệ, nhưng nội dung những quy
phạm pháp luật đã phản ánh về mối quan hệ giữa các cơ quan tiến hành tố
tụng. Mặc dù vậy, trong quan hệ giữa các cơ quan tiến hành tố tụng không
phải không tồn tại những vấn đề như sự phối hợp không đồng bộ trong việc
giải quyết vụ án. Giữa cơ quan điều tra và Viện kiểm sát, giữa cơ quan điều
tra và Tòa án. Giữa Viện kiểm sát với Tòa án cũng có những quan điểm khác
nhau khi giải quyết vụ án hình sự
Giữa cơ quan điều tra và Viện kiểm sát, Giữa cơ quan điều tra và Tòa
án, giữa Tòa án và Viện Kiểm sát cần phải xây dựng được quy chế quy định
về sự phối hợp chế ước lẫn nhau nhằm cụ thể hóa quy định của pháp luât tố 20
tụng hình sự, giúp cho những người tiến hành tố tụng của mỗi cơ quan tiến
hành tố tụng thực hiện đúng luật định, đồng thời tránh được những sai lầm có
thể xảy ra trong quá trình giải quyết vụ án hình sự
1.2.2 Ngƣời tiến hành tố tụng.

thường cho người bị thiệt hại; người đã gây thiệt hại có trách nhiệm bồi hoàn
cho cơ quan có thẩm quyền theo quy định của pháp luật.
Thủ trƣởng, Phó thủ trƣởng Cơ quan điều tra và Điều tra viên
Bộ luât tố tụng hình sự năm 2003, ngoài việc quy định nhiệm vụ, quyền
hạn và trách nhhiệm của Thủ trưởng cơ quan điều tra còn quy định cả nhiệm
vụ, quyền hạn và trách nhiệm của Phó thủ trưởng cơ quan điều tra; nội dung
nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của thủ trưởng, Phó thủ trưởng cơ quan
điều tra được quy định tại điều 34 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 vơi hai
nhóm nhiệm vụ và:
- Là người đại diện cơ quan tiến hành tố tụng. Khi ở vị trí này, với tư
cách là đại diện cơ quan tiến hành tố tụng, Thủ trưởng, Phó thủ trưởng không
phải từ chối hoặc bị thay đổi. Bộ luật tố tụng dân sự hình sự chỉ quy định
người tiến hành tố tụng phải từ chối hoặc bị thay đổi, mà không thể quy định
thay đổi cơ quan tiến hành tố tụng. Cơ quan tiến hành tố tụng khi thực hiện
nhiệm vụ bao giờ cũng phải thông qua người đứng đầu
- Khi thực hiện việc điều tra hoặc được phân công điều tra vụ án hình
sự thì Thủ trưởng, Phó thủ trưởng cơ quan điều tra là người tiến hành tố tụng.
Do đó khi thực hiện nhiẹm vụ, quyền hạn này, Thủ trưởng, Phó thủ trưởng cơ
quan điều tra không nhân danh người đứng đầu Cơ quan điều tra mà nhân
danh cá nhân người tiến hành tố tụng và phải chịu trách nhiệm trước pháp luật
về những hành vi và quyết định của mình. Với tư cách là người tiến hành tố
tụng thì Thủ trưởng, Phó thủ trưởng cơ quan điều tra phải từ chối hoặc bị thay
đổi nếu thuộc nhũng trường hợp quy định tại điều 34 Bộ luật tố tụng Hình sự
năm 2003
- Điều tra viên 22
Điều tra viên là người được bổ nhiệm theo quy định của pháp luật.
Điều tra viên trực tiếp tiến hành các hoạt động điều tra trong tố tụng hình sự.

do Thủ trưởng cơ quan điều tra quyết định.
Viện trƣỏng, phó viện trƣởng và Kiểm sát viên
Cũng như đối với thủ trưởng, Phó thủ trưởng Cơ quan điều tra, Bộ luật
Tố tụng Hình sự năm 2003 quy định Viện trưởng, Phó viện trưởng viện kiểm
sát nhân dân cũng là người tiến hành tố tụng và quy định nhiệm vụ, quyền hạn
và trách nhiệm của họ vừa là người tiến hành tố tụng, vừa đại diện cho cơ
quan tiến hành tố tụng.
- Là người đại diện cho cơ quan tiến hành tố tụng. Viện trưởng, Phó
viện trưởng đựoc Viện trưởng ủy nhiệm có nhũng nhiệm vụ và quyền hạn
được quy định tại điều 36 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003, với danh nghĩa
người đứng đầu cơ quan tiến hành tố tụng, nhân danh Viện kiểm sát thực hiện
chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan tiến hành tố tụng, Viện trưởng,
Phó viện trưởng không phải từ chối hoặc bị thay đổi khi thực hiện nhiệm vụ,
quyền hạn được giao.
- Là người tiến hành tố tụng Viện trưởng, Phó viện trưởng được Viện
trưởng ủy nhiệm có những nhiệm vụ và quyền hạn được quy định tại điều …
bộ luật tố tung hình sự. Khi thực hiện nhiệm vụ với tư cách là người tiến hành
tố tụng Viện trưởng, Phó viện trưởng Viện kiểm sát phải chịu trách nhhiệm cá
nhân về những hành vi và quyết đinh của mình trong hoạt đông tố tụng. Viên
trưởng, Phó viện trưởng Viện kiểm sát khi thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn với
tư cách là người tiến hành tố tụng phải từ chối hoặc bị thay đổi nếu rơi vào
một trong những trường hợp quy định tại điều 42 Bộ luật tố tụng hình sự
Khác với Viện trưởng và Phó viện trưởng Viện kiểm sát, đối với Kiểm
sát viên trong qúa trình thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của họ
chỉ là người tiến hành tố tụng và phải chịu trách nhiệm cá nhân về những
hành vi và quyết đinh của mình
Kiểm sát viên khi được phân công thực hành quyền công tố và kiểm sát
việc tuân theo pháp luật trong hoạt động tố tụng đối với vụ án hình sự, kiểm sát
viên có nhiệm vụ và quyền hạn: kiểm sát việc khởi tố, kiểm sát các hoạt động
điều tra và lấy hồ sơ vụ án của cơ quan điều tra; đề ra yêu cầu điều tra; triệu tập,


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status